Sự hiểu biết về hoạt động vật lý trị liệu của nhân viên y tế Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Tài liệu Sự hiểu biết về hoạt động vật lý trị liệu của nhân viên y tế Bệnh viện Nhân dân Gia Định: Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 126 SỰ HIỂU BIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH Ngô Thị Bích Ly*, Nguyễn Thị Ngọc Phương** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Sự hiểu rõ về vật lý trị liệu (VLTL) của các bác sĩ và điều dưỡng sẽ tư vấn người bệnh tiếp cận với dịch vụ VLTL nhằm hỗ trợ điều trị giảm nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc cho người bệnh ở mọi lứa tuổi thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Mục tiêu: Khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại Bệnh viện (BV) Nhân Dân Gia Định. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 428 nhân viên y tế để khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL qua bộ câu hỏi 20 câu được sử dụng để thu thập thông tin, sau đó xử lí và phân tích số liệu qua phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm Pearson’s Correlation, Independent - samples T test và one-way ANOVA. Kết quả: Nhận biết đúng của nhân viên y...

pdf7 trang | Chia sẻ: Đình Chiến | Ngày: 29/06/2023 | Lượt xem: 221 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự hiểu biết về hoạt động vật lý trị liệu của nhân viên y tế Bệnh viện Nhân dân Gia Định, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 126 SỰ HIỂU BIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH Ngô Thị Bích Ly*, Nguyễn Thị Ngọc Phương** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Sự hiểu rõ về vật lý trị liệu (VLTL) của các bác sĩ và điều dưỡng sẽ tư vấn người bệnh tiếp cận với dịch vụ VLTL nhằm hỗ trợ điều trị giảm nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc cho người bệnh ở mọi lứa tuổi thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Mục tiêu: Khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại Bệnh viện (BV) Nhân Dân Gia Định. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 428 nhân viên y tế để khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL qua bộ câu hỏi 20 câu được sử dụng để thu thập thông tin, sau đó xử lí và phân tích số liệu qua phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm Pearson’s Correlation, Independent - samples T test và one-way ANOVA. Kết quả: Nhận biết đúng của nhân viên y tế cao nhất và thấp nhất ở từng vấn đề như sau: đối tượng bệnh nhân (người cao tuổi 91,6% - trẻ sơ sinh 61,1%), các dạng bệnh (cơ xương khớp 88,9% - tim mạch 45%), các lĩnh vực ứng dụng trong VLTL (vận động trị liệu 95,5% - âm ngữ trị liệu 23,8%) và các giai đoạn cần can thiệp của VLTL (trước mổ 77% và sau mổ là 96,5%). Tỉ lệ thường xuyên tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL 27%. Có mối liên quan thuận giữa độ tuổi (r=0,178, p=<0,0001), thời gian công tác (r=0,157, p=0,001), nhu cầu cần hỗ trợ VLTL (r=0,445, p=<0,0001) với sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL. Có sự khác biệt giữa tư vấn với sự hiểu biết hoạt động VLTL bao gồm đối tượng bệnh nhân (trẻ sơ sinh p=0,013, người lớn p=0,008, người cao tuổi p=0,028), dạng bệnh (chấn thương chỉnh hình p=0,013, thần kinh p=0,049, hô hấp p=0,034), lĩnh vực VLTL (vận động trị liệu p=0,015, hoạt động trị liệu p=0,024) và VLTL trong phẫu thuật (trước p=0,039, sau p=0,036), nhu cầu cần thêm thông tin VLTL, có trao đổi thông tin VLTL, sự công nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL. Kết luận: Sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế BV Nhân Dân Gia Định là khả quan, hầu hết nhận biết được các đặc điểm và chức năng của VLTL trong hỗ trợ điều trị. Tuy nhiên, tỉ lệ thường xuyên tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL còn thấp. Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố về đặc điểm cá nhân, sự hiểu biết về hoạt động VLTL, nhu cầu hỗ trợ VLTL, cũng như sự công nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL và sự trao đổi thông tin VLTL có thể tạo ra thay đổi trong sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL. Từ khóa: sự hiểu biết, vật lí trị liệu, nhân viên y tế ABSTRACT UNDERSTANDING OF PHYSICAL THERAPY ACTIVITIES AMONG MEDICAL STAFF AT GIA DINH PEOPLE'S HOSPITAL Ngo Thi Bich Ly, Nguyen Thi Ngoc Phuong * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 126 – 132 Background: Thorough understanding of physical therapy (PT) among physicians and nurses will counsel *Khoa Vật Lí Trị Liệu – Bệnh viện Nhân Dân Gia Định **Bộ môn Điều dưỡng, khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: CN. Ngô Thị Bích Ly ĐT: 0937261600 Email: ngothibichly29011983@gmail.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 127 patients to access PT services to help kinds of medical treatments to alleviate the conditions of disability and dependence for patients of all ages from many different specialties. Objectives: To survey the current levels of understanding about PT activities among medical staff in Gia Dinh People's Hospital. Methods: A cross-sectional descriptive research was conducted on 428-member medical staff to suvey the understanding of PT activities through a set of twenty questions to collect information whose data has then been complied, processed and analyzed by using SPSS 20.0 software with Pearson’s Correlation, Independent-samples T test and one-way ANOVA. Results: Correct understanding of medical staff with the highest and lowest rate in each issue was as follows: patient subjects (elderly 91.6%-infants 61.1%), types of diseases (musculoskeletal 88, 9% - cardiovascular 45%), areas of application in PT (therapeutic exercise 95.5%-speech therapy 23.8%) and stages of intervention of PT (preoperative 77% and postoperative 96.5%). The rate of regular counseling or referring patients to the PT department was 27%. There was a positive relationship between age (r=0.178, p=<0.0001), working time (r=0.157, p=0.001), need for PT support (r=0.445, p=<0.0001) with counseling or referring patients to the PT Department. There were differences between the counseling or the referring and the understanding of PT activities including patient subjects (infant p=0.013, adult p=0.008, elderly p=0.028), types of diseases (orthopedic p=0.013, neurological p=0.049, respiratory p=0.034), areas of application in PT (therapeutic exsercise, p=0.015, occupational therapy p=0.024), stages of intervention of PT ((preoperative p=0.039, postoperative p=0.036), the need for more information on PT or the exchange of information to and from physiotherapists, recognition of the role and effectiveness of PT. Conclusion: The understanding of PT activities among the medical staff of Nhan Dan Gia Dinh Hospital is positive. Most of all are aware of the characteristics and functions of PT in supplemental treatment. However, the rate of regular counseling or referring patients to the PT department is low. The study also identifies a number of factors about personal characteristics, understanding of PT activities, the need for PT support, the exchange of information to and from physiotherapists and recognition of the role and effectiveness of PT that could create a change in counseling or referral of patients to the PT Department. Keywords: understanding, physical therapy, medical staff ĐẶT VẤN ĐỀ Vật lý trị liệu (VLTL) đã được công nhận là phương thức điều trị trong những năm qua và đang phát triển nhanh chóng thành một chuyên khoa, đặc biệt ở các nước đang phát triển(10,15). Các chuyên ngành của VLTL giúp điều trị giảm nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc(12) cho bệnh nhân ở mọi lứa tuổi(18) thuộc nhiều chuyên khoa như: tim mạch, hô hấp, chỉnh hình, thần kinh, thể thao(19).... Điều này nhấn mạnh nhu cầu tổ chức và phát triển các hoạt động của Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng (VLTL-PHCN) trong cơ cấu y tế đa ngành. Để chuyên nghiệp hóa ngành VLTL và đem dịch vụ của VLTL đến được với người có nhu cầu, cần sự hỗ trợ của các thành viên tham gia chăm sóc sức khoẻ(16). Trong đó, các BS, ĐD cần hiểu khả năng VLTL có thể tham gia hỗ trợ điều trị bệnh nhân, ngăn ngừa sự tăng thêm của các biến chứng, giảm thời gian nằm viện xuống mức thấp nhất(16,18) và giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã phản ánh về thái độ, cùng với sự hiểu biết và niềm tin của các nhân viên y tế đối với VLTL(1,2,3,4,7,16). Tuy nhiên, đối với các tài liệu nghiên cứu trong nước còn hạn chế, chưa có sự đánh giá về hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL. Do đó, nghiên cứu khảo sát sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Mô tả sự hiểu biết về hoạt động VLTL của Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 128 nhân viên y tế BV Nhân Dân Gia Định. Xác định tỷ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL. Xác định mối liên quan giữa việc tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân (BN) đến khoa VLTL với sự hiểu biết của nhân viên y tế về hoạt động VLTL và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Bác sĩ (BS), Điều dưỡng (ĐD) đang làm việc tại các khoa có bệnh nhân nội trú tại BV Nhân Dân Gia Định Tiêu chí đưa vào BS, ĐD đang làm việc ở các Khoa có bệnh nhân nội trú và đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được nhà nghiên cứu giải thích về mục đích nghiên cứu. Tiêu chí loại ra BS, ĐD đang nghỉ hậu sản hay đang đi học. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Cắt ngang mô tả có phân tích. Cỡ mẫu Có 428 nhân viên. Kỹ thuật chọn mẫu Chọn mẫu thuận tiện, phân tầng ngành nghề. Công thu thập số liệu Bộ câu hỏi tự điền, gồm 5 câu về thông tin nền (tuổi, giới tính, khoa công tác, công việc đảm nhiệm, thâm niên công tác), 2 câu về nhu cầu và tư vấn VLTL và 13 câu về sự hiểu biết, cảm nhận về VLTL được xây dựng dựa vào 2 bộ câu hỏi của Al-Eisa(4), Alshehri(15). Bộ câu hỏi đã được dịch 2 chiều và rút gọn dựa vào tình hình của Bệnh viện Gia Định và kiểm định độ tin cậy qua nghiên cứu thử 20 trường hợp với Cronbach’s là 0,724. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Bằng phần mềm SPSS 20.0, kết quả nghiên cứu được trình bày theo tần số, tỷ lệ phần trăm cho biến định tính và trung bình (độ lệch chuẩn) cho biến định lượng. Kiểm định các yếu tố liên quan: phép kiểm Pearson’s Correlation, Independent T-test và One-way ANOVA. KẾT QỦA Trong số 428 người tham gia nghiên cứu, chỉ có 404 người trả lời bảng câu hỏi hợp lệ. Kết quả được trình bày qua các bảng sau: Các đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu Bảng 1. Các đặc điểm chung: (N=404) Đặc điểm Tỷ lệ Tuổi <25 5,2 % 25 – 35 56,4% 36 – 45 28,7% >45 9,7% Giới tính Nam 25,2% Nữ 74,8% Khoa công tác Nội 42,3% Ngoại 39,9% Sản 8,4% Nhi 9,4% Công việc đảm nhiệm Bác Sĩ 30,4% Điều Dưỡng 69,6% Thời gian công tác <5 năm 32,2% 5-10 năm 27,2% >10 năm 40,6% Trước tiên, kết quả cho thấy về tuổi (đa số còn trẻ ≤35 tuổi, chiếm 62%) và thâm niên công tác (≥5 năm chiếm 67,8%) của nhân viên y tế là một điều kiện thuận lợi vì kinh nghiệm làm việc rất cần thiết trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh nhưng tuổi trẻ có thể là một yếu tố tốt vì dễ dàng cập nhật và tiếp thu những điều mới. Ngoài ra, phần lớn nhân viên là nữ (74,8%) và là ĐD (69,6%) sẽ đáp ứng tốt trong công tác chăm sóc bệnh nhân. Nghiên cứu cũng thể hiện rằng, số lượng nhân viên y tế chủ yếu đang làm tại các Khoa Nội (42,3%) và Ngoại (39,9%) là những nơi mà thực tế có số lượng bệnh nhân Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 129 đông và có sự can thiệp của VLTL nhiều, phù hợp với báo cáo mỗi ngày tại khoa VLTL. Điều này có thể giải thích vì BV Nhân Dân Gia Định là một BV đa khoa nên số lượng bệnh nhân của khối Sản và Nhi không chiếm nhiều so với các chuyên khoa Nội và Ngoại. Mô tả sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL Bảng 2. Đối tượng, dạng BN của VLTL, các lĩnh vực được VLTL ứng dụng và sự hỗ trợ của VLTL cho BN giai đoạn trước mổ và sau mổ Câu hỏi Tỷ lệ VLTL có thể hỗ trợ những đối tượng BN nào? Trẻ sơ sinh 61,1% Trẻ em 72,5% Người lớn 81,7% Người cao tuổi 91,6% VLTL có thể hỗ trợ những dạng BN nào? Cơ xương khớp 88,9% Chấn thương chỉnh hình 80,2% Thần kinh 73,8% Tim mạch 45,0% Hô hấp 81,4% Các lĩnh vực mà VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định ứng dụng? Vận động trị liệu 95,5% Âm ngữ trị liệu 23,8% Điện trị liệu 54,0% Hoạt động trị liệu 60,4% VLTL có thể hỗ trợ cho bệnh nhân trước mổ không? Có 77,0% Không 11,4% Không biết 11,6% VLTL có thể hỗ trợ cho bệnh nhân sau mổ không? Có 96,5% Không 0,7% Không biết 2,7% Qua Bảng 2 cho thấy, các nhân viên y tế nhận biết được các đối tượng bệnh nhân của VLTL với tỉ lệ chọn cao trên 60% và người cao tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (91,6%). Đây là một con số khả quan cho thấy nhân viên hiểu về đối tượng của ngành VLTL. Người cao tuổi là đối tượng thường gặp các bệnh lí mạn tính và các biến chứng của nó như bệnh lý cơ xương khớp, đột quỵ do đái tháo đường hay cao huyết áp, COPD và đây là những bệnh lý rất cần đến sự can thiệp hỗ trợ của VLTL. Với kết quả nhận biết các đối tượng bệnh nhân của VLTL như đã bàn luận, cũng phù hợp với kết quả trên 70% phản hồi cho thấy tình trạng bệnh lý cần hỗ trợ của VLTL là cơ xương khớp, chấn thương chỉnh hình, thần kinh và hô hấp. Tuy nhiên chỉ có 45% phản hồi cho rằng bệnh lý tim mạch là dạng bệnh mà VLTL cần can thiệp. Điều này cũng khá hợp lí với điều kiện cơ sở vật chất tại khoa VLTL BV Nhân Dân Gia Định, vì thực chất VLTL cho bệnh nhân tim mạch là một chuyên môn sâu và đòi hỏi phải có đầy đủ các thiết bị theo dõi. Tại BV Nhân Dân Gia Định, đối với bệnh nhân Tim mạch thì chủ yếu được hướng dẫn tập VLTL hô hấp. Ngoài ra, nghiên cứu ghi nhận, vận động trị liệu và hoạt động trị liệu là 02 lĩnh vực được cho rằng đang áp dụng tại Khoa VLTL với tỉ lệ chọn cao lần lượt là 95,5% và 60,4%. Tuy nhiên, tỉ lệ được lựa chọn thấp nhất là Âm ngữ trị liệu (23,8%).Với những sự chọn lựa này một phần nào phản ánh được sự hiểu biết của số đông nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định là đúng, vì Âm ngữ trị liệu chỉ có một số BV tại Việt Nam đã đang áp dụng như: BV An Bình, BV Chợ Rẫy, BV Bạch Mai và đây là chuyên ngành còn mới và đang được đào tạo một vài năm gần đây tại Việt Nam. Mặt khác, tỉ lệ các nhân viên y tế cho rằng sự hỗ trợ của VLTL ở giai đoạn sau mổ (96,5%) cao hơn giai đoạn trước mổ (77%). Sự hỗ trợ VLTL ở giai đoạn trước và sau mổ có thể tạo thuận cho quá trình hồi phục của bệnh nhân nhanh hơn, giảm thời gian nằm viện, ngăn ngừa các biến chứng(6,9,14,17). Một vài nghiên cứu cho rằng việc tập VLTL trước mổ thời gian nên kéo dài khoảng 1-2 tuần để đạt hiệu quả tối đa(8,9). Vấn đề tập VLTL trước mổ cũng được thực hiện tại BV tuy nhiên việc chỉ định, giới thiệu bệnh nhân của các BS với VLTL chỉ khoảng 1-2 ngày. Do đó có thể ảnh hưởng đến hiệu quả VLTL và làm chậm sự hồi phục của người bệnh sau mổ. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 130 Bảng 3. Thông tin về VLTL Câu hỏi Tỷ lệ Được dạy về VLTL ở trường Y 71,3% Nghĩ rằng VLTL và YHCT khác nhau 81,7% Muốn biết thêm thông tin về VLTL 97,5% Thảo luận với đồng nghiệp về sự cần thiết của can thiệp VLTL 81,9% Từng nói chuyện với nhân viên VLTL về vấn đề liên quan đến chăm sóc BN 84,7% Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận đa số nhân viên y tế được học VLTL tại trường Y, cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hiểu biết đối với VLTL(1,3,16) nhưng vẫn còn 18,3% chưa phân biệt được rằng VLTL và Y Học Cổ Truyền là 2 chuyên ngành khác nhau. Việc không hiểu rõ về VLTL có thể gây trì hoãn hoặc thực hiện giới thiệu VLTL không phù hợp(13). Nhưng mặt khác của nghiên cứu cho thấy, các nhân viên y tế có thái độ tích cực đối với VLTL vì tỉ lệ cao (trên 80%) các nhân viên y tế có sự thảo luận với đồng nghiệp của mình về sự cần thiết của can thiệp VLTL trong điều trị và đã từng nói chuyện với các nhân viên VLTL về vấn đề chăm sóc bệnh nhân. Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Alshehri, chỉ 59,3% đã làm việc với một nhóm VLTL hoặc PHCN và 79,6% đã thảo luận về nhu cầu can thiệp VLTL với các đồng nghiệp của họ(3). Kết quả cũng hợp lí khi có 97,5% nhân viên y tế vẫn muốn biết thêm thông tin về VLTL. Đây là một tín hiệu đáng mừng vì nhân viên y tế của bệnh viện luôn mong muốn nâng cao kiến thức của mình để giúp người bệnh hồi phục tốt nhất. Điều này gần giống với nghiên cứu Alshehri, 83,3% các BS hài lòng biết thêm về các dịch vụ VLTL(3), cũng phù hợp nghiên cứu của Al Mohammedali Z, có 75,2% các BS tin rằng họ cần thêm thông tin về vai trò VLTL trong chăm sóc hô hấp(2). Cảm nhận về VLTL tại BV Nhân Nhân Gia Định Kết quả của nghiên cứu ghi nhận, tỉ lệ những người cho rằng VLTL có hiệu quả tốt (87,9%) và có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc thứ cấp (97,3%). Kết quả này gần giống với nghiên cứu của Al Mohammedali Z, hầu hết các BS và ĐD (90,4%) cho rằng VLTL là một thành viên quan trọng của khoa săn sóc đặc biệt ICU(2) nhưng cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Alshehri chỉ 11% các BS cho rằng VLTL có vai trò quan trọng trong chăm sóc thứ cấp(3). Ngoài ra, kết quả còn cho thấy lí do được chọn nhiều nhất khiến vai trò của VLTL chưa được công nhận là vì VLTL chỉ hỗ trợ thêm thuốc của BS, tương ứng nghiên cứu của Al-Eisa(1). Xác định tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL Bảng 4. Nhu cầu hỗ trợ VLTL tại khoa đang công tác và sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL của nhân viên y tế Câu hỏi Tỉ lệ Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Nhu cầu BN cần đến sự hỗ trợ điều trị VLTL tại Khoa 1,5% 4,7% 38,6% 55,2% Tư vấn hoặc giới thiệu BN đến Khoa VLTL 5,2% 8,2% 59,7% 27% So với nhu cầu cần hỗ trợ VLTL thường xuyên tại khoa (chiếm 55,2%) thì tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân thường xuyên là 27%, cao hơn so với nghiên cứu của Al-Eisa, tỉ lệ này là 11%(1). Tuy nhiên tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu này còn thấp so với nhu cầu cần hỗ trợ VLTL thường xuyên. Điều này cho thấy có thể BS và ĐD chưa thật sự hiểu hết khả năng mà VLTL có thể hỗ trợ điều trị và chăm sóc nhằm đem lại sức khỏe tốt nhất cho người bệnh. Vì vậy, VLTL cần tạo ra sự nhận thức tốt hơn về ngành nghề của mình. Trong nghiên cứu của Alshehri cho thấy, hầu như tất cả các BS (92,6%) đều tự tin giới thiệu bệnh nhân của họ cho các nhà VLTL nhưng 50% trong số họ cho rằng VLTL không tạo ra nhận thức tốt về dịch vụ VLTL(3), tương đương với báo cáo của Karthikeyan và Jones, chỉ thấy 44,1% chuyên gia y tế tin rằng các nhà VLTL tạo ra nhận thức về VLTL(11). Xác định mối liên quan giữa việc tư vấn, giới thiệu BN đến khoa VLTL với sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL và các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Xem xét Bảng 5, tuổi càng cao, thâm niên Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 131 càng lâu có mối tương quan thuận với việc tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL. Điều này là phù hợp vì khi tiếp xúc lâu năm với nhiều dạng bệnh nhân, nhân viên y tế sẽ hiểu rõ hơn nhu cầu của người bệnh trong đó có nhu cầu về VLTL. Bảng 5. Mối liên hệ giữa các yếu tố tuổi, thời gian công tác, nhu cầu hỗ trợ VLTL và sự tư vấn, giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL Yếu tố Sự tư vấn, giới thiệu r p Tuổi 0,178 <0,0001 Thời gian công tác 0,157 0,001 Nhu cầu VLTL 0,445 <0,0001 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Al- Eisa, những người trả lời thường xuyên giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL làm việc có kinh nghiệm từ 11-15 năm(1). Ngoài ra, BS và ĐD khi nhận thấy nhu cầu người bệnh cần hỗ trợ VLTL tại khoa càng cao thì sẽ có xu hướng tư vấn hoặc giới thiệu người bệnh đến khoa VLTL nhiều hơn. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Feburger chỉ ra rằng sự khác biệt trong việc giới thiệu VLTL cho người bệnh không chỉ là do nhu cầu sức khỏe mà còn do nhiều yếu tố khác tác động có thể là do không tiếp cận được, hay tiếp cận không đúng với dịch vụ VLTL(7). Bảng 6 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về việc tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL dựa trên sự khác biệt về hiểu biết hoạt động VLTL như: nhận biết các đối tượng bệnh nhân, dạng bệnh, các lĩnh vực VLTL, VLTL trong phẫu thuật, muốn biết thêm thông tin về VLTL, có thảo luận về VLTL hay nói chuyện với nhân viên VLTL. Bảng 6. Mối liên hệ giữa sự hiểu biết và sự cảm nhận về hoạt động VLTL với sự tư vấn, giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL Câu trả lời Tư vấn, giới thiệu TB (ĐLC) p Chọn Không Đối tượng bệnh nhân của VLTL Trẻ sơ sinh 3,15(0,70) 2,96(0,80) 0,013 Người lớn 3,13(0,73) 2,87(0,77) 0,008 Người cao tuổi 3,05(0,70) 3,35(0,69) 0,028 Dạng BN của VLTL Chấn thương chỉnh hình 3,13(0,73) 2,90(0,77) 0,013 Thần kinh 3,12(0,73) 2,96(0,78) 0,049 Hô hấp 3,12(0,73) 2,92(0,77 0,034 Lĩnh vực được ứng dụng của VLTL Vận động trị liệu 3,10(0,74) 2,67(0,69) 0,015 Hoạt động trị liệu 3,15(0,68) 2,98(0,83) 0,024 VLTL có thể hỗ trợ trước mổ 3,11(0,73) 2,82(0,88 0,039 VLTL có thể hỗ trợ sau mổ 3,10(0,73) 2,54(0,93) 0,036 Muốn biết thêm thông tin VLTL 3,11(0,71) 1,80(0,78) <0,0001 Có thảo luận với đồng nghiệp về VLTL 3,21(0,64) 2,49(0,86) <0,0001 Có nói chuyện với nhân viên VLTL 3,17(0,68) 2.62(0,92) <0,0001 Cho rằng VLTL có vai trò quan trọng thứ cấp 3,09(0,74) 2.62(0,92) <0,0001 Cho rằng VLTL có hiệu quả tốt 3,14(0,72) 2,64(0,74) <0,0001 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Alshehri, sự hạn chế kiến thức về dịch vụ VLTL của các BS và thiếu sự hợp tác giữa các BS và VLTL là yếu tố ảnh hưởng đến sự tư vấn sử dụng dịch vụ VLTL(3). Bên cạnh đó, việc cho rằng VLTL có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc thứ cấp và có hiệu quả tốt trên bệnh nhân có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc tư vấn hoặc giới thiệu VLTL. Sự khác biệt trong nhận định về hiệu quả của VLTL cũng cho thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê trong việc tư vấn giới thiệu người bệnh sử dụng VLTL. Kết Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 132 quả này tương tự với nghiên cứu của Archer, các BS giới thiệu bệnh nhân đến VLTL, chủ yếu dựa trên kỳ vọng về kết quả thể chất và vận động mà VLTL tạo ra(4). KẾT LUẬN Thông qua nghiên cứu cho thấy, sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại BV Nhân Dân Gia Định là khả quan, hầu hết nhận biết được các đặc điểm và chức năng của VLTL trong hỗ trợ điều trị. Tuy nhiên, tỉ lệ thường xuyên tư vấn hoặc giới thiệu BN đến Khoa VLTL chưa cao chỉ ở mức 27%. Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố về đặc điểm cá nhân, sự hiểu biết về hoạt động VLTL, nhu cầu hỗ trợ VLTL, cũng như sự công nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL và sự trao đổi thông tin VLTL có thể tạo ra thay đổi trong sự tư vấn hoặc giới thiệu BN đến khoa VLTL. KIẾN NGHỊ Nghiên cứu cần được thực hiện ở nhiều bệnh viện khác nhau và đồng thời trong phương pháp lấy mẫu nên chọn là ngẫu nhiên thay vì thuận tiện để tăng tính đại diện. Đối với VLTL cần có trách nhiệm quảng bá nghề nghiệp của mình thông qua việc tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo hay chuyên đề nhằm tăng cường sự hiểu biết về VLTL, từ đó giới thiệu người bệnh tiếp cận với dịch vụ VLTL nhiều hơn để hỗ trọ tăng khả năng hồi phục hay duy trì chức năng cho người bệnh ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, việc tăng hiểu biết về VLTL của nhân viên y tế sẽ tăng hiệu quả của hợp tác đa ngành nhằm chăm sóc sức khỏe tối ưu nhất cho người bệnh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Al-Eisa ES, Al-Hoqail H, Al-Rushud A, et al (2016). Awarness, perception and beliefs about physiotherapy held by physicians working in Saudi Arabia. Journal of Physical Therapy Science, 28:3435–3439. 2. Al Mohammedali Z, O'Dwyer TK, Broderick JM (2016). The emerging role of respiratory physiotherapy: A profile of the attitudes of nurses and physicians in Saudi Arabia. Ann Thorac Med, 11(4):243-248. 3. Alshehri MA, et al (2018). Factors affecting the extent of utilization of physiotherapy services by physicians in Saudi Arabia. J Phys Ther Sci, 30(2):216-222. 4. Archer KR, et al (2009). Factors associated with surgeon referral for physical therapy in patients with traumatic lower-extremity injury: results of a national survey of orthopedic trauma surgeons. Phys Ther, 89(9):893-905. 5. Atif M, et al (2018). Association between the Vicious Cycle of Diabetes-Associated Complications and Glycemic Control among the Elderly: A Systematic Review. Medicina, doi: 10.3390/medicina54050073. 6. Boujibar F, Bonnevie T, Debeaumont D, et al (2018). Impact of Prehabilitaion on morbidity after pulmonarylobectomy by minimally invasive surgery: a cohort stydy. J Thorac Dis, 10(4):2240–2248. 7. Freburger JK, Carey TS, Holmes GM (2005). Physician referrals to physical therapists for the treatment of spine disorders. Spine J, 5(5):530-41. 8. Frésard I, Adler D, Bhatia C, et al (2013). Should cardiopulmonary rehabilitation be provided to patients with lung cancer? Rev Med Suisse, 9(381):760–763. 9. Gao K, Yu PM, Su JH, et al (2015). Cardiopulmonary exercise testing screening and pre-operative pulmonary rehabilitation reduce postoperative complications and improve fast-track recovery after lung cancer surgery: A study for 342 cases. Thorac Cancer, 6:443-9. 10. James JJ, Stuart RB (1975). Expanded role for the physical therapist. Screening musculoskeletal disorders. Phys Ther, 55:121–131. 11. Karthikeyan P, Jones A (2015). Knowledge of physiotherapy services among hospital-based health care professionals in Papua New Guinea. PNG Med J, 58:55–60 12. Kerssens JJ, Groenewegen PP (1990). Referrals to physiotherapy: the relation between the number of referrals, the indication for referral and the inclination to refer. Soc Sci Med, 30: 797–804. 13. Lee K, Sheppard L (1998). An investigation into medical students’ knowledge and perception of physiotherapy services. Aust J Physiother, 44:239–245. 14. Licker M, et al (2017). Short-Term Preoperative High-Intensity Interval Training in Patients Awaiting Lung Cancer Surgery: A Randomized Controlled Trial. J Thorac Oncol, 12(2):323-333. 15. Murphy BP, Greathouse D, Matsui I. (2005). Primary care physical therapy practice models. J Orthop Sports Phys Ther, 35:699–707. 16. Odebiyi OD, Aiyejusunle CB, et al (2011). Comparison of the knowledge and perception of physiotherapy by medical students of the institutions with and without physiotherapy training programme. Nigerian Postgraduate Medical Journal, 18(4):282-287. 17. Santa MD, et al (2014). Effect of total-body prehabilitation on postoperative outcomes: a systematic review and meta-analysis. Physiotherapy, 100(3):196-207. 18. Silva DM, Clark SD, Raymond G (1981). California physician’s professional image of therapists. Phys Ther, 61:1152–1157. 19. Sran MM, et al (2009). Postgraduate physiotherapy training: interest and perceived barriers to participation in a clinical master’s degree programme. Physiother Can, 61:234–243. Ngày nhận bài báo: 30/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfsu_hieu_biet_ve_hoat_dong_vat_ly_tri_lieu_cua_nhan_vien_y_te.pdf
Tài liệu liên quan