Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng tại học viện khoa học quân sự góp phần thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng - Nguyễn Trọng Hải

Tài liệu Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng tại học viện khoa học quân sự góp phần thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng - Nguyễn Trọng Hải: 3KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v NGUYỄN TRỌNG HẢI* *Phó Giám đốc Học viện Khoa học Quân sự Ngày nhận bài: 01/8/2018; ngày sửa chữa: 20/8/2018; ngày duyệt đăng: 30/8/2018 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Quán triệt, thực hiện chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế của Đại hội XI, XII của Đảng, Nghị quyết 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo, công tác đối ngoại quốc phòng được coi trọng, là một trong những nhiệm vụ chiến lược của quốc phòng, một bộ phận quan trọng của đối ngoại quốc gia. Trong những năm qua, các hoạt động đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh và có những bước phát triển mới, góp phần quan trọng tăng cường tiềm lực quân sự; xây dựng môi trường hòa bình, ổn định; nâng ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ VỀ QUỐC PHÒNG TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ GÓP PHẦN THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG TÓM TẮT Đổi mới, nâng cao chấ...

pdf8 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 25/01/2021 | Lượt xem: 129 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng tại học viện khoa học quân sự góp phần thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng - Nguyễn Trọng Hải, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
3KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v NGUYỄN TRỌNG HẢI* *Phó Giám đốc Học viện Khoa học Quân sự Ngày nhận bài: 01/8/2018; ngày sửa chữa: 20/8/2018; ngày duyệt đăng: 30/8/2018 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Quán triệt, thực hiện chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế của Đại hội XI, XII của Đảng, Nghị quyết 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo, công tác đối ngoại quốc phòng được coi trọng, là một trong những nhiệm vụ chiến lược của quốc phòng, một bộ phận quan trọng của đối ngoại quốc gia. Trong những năm qua, các hoạt động đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh và có những bước phát triển mới, góp phần quan trọng tăng cường tiềm lực quân sự; xây dựng môi trường hòa bình, ổn định; nâng ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ VỀ QUỐC PHÒNG TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ GÓP PHẦN THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG TÓM TẮT Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng tại Học viện Khoa học Quân sự góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng của Quân đội. Bài viết chỉ ra thực trạng công tác đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng tại Học viện. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng. góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay của Việt Nam Từ khóa: chất lượng đào tạo, đổi mới, đối ngoại quốc phòng, ngoại ngữ, quan hệ quốc tế về quốc phòng cao vị thế của Quân đội, nước ta trên trường quốc tế. Hoạt động đối ngoại quốc phòng không ngừng được mở rộng (quốc phòng-quân sự, hợp tác và chuyển giao khoa học và công nghệ quân sự, đào tạo, gìn giữ hòa bình...), góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại theo tinh thần Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay cần xây dựng đội 4 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đặc biệt là yêu cầu giỏi ngoại ngữ. Ngoại ngữ là cầu nối, công cụ làm việc với các đối tác nước ngoài. Không biết hoặc không thông thạo tiếng nước đối tác thì khả năng trao đổi, đàm phán của cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng sẽ bị hạn chế rất nhiều. Đây cũng là hạn chế lớn của không ít cán bộ làm việc trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng hiện nay như Nghị quyết số 806-NQ/QUTW đã chỉ ra: “Khâu yếu nhất hiện nay của cán bộ làm công tác đối ngoại là ngoại ngữ, thứ hai là thiếu kiến thức quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự”. Học viện Khoa học Quân sự (KHQS) là trung tâm đào tạo lớn của Bộ Quốc phòng, được giao nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành ngoại ngữ (Anh, Trung, Nga, Pháp) và quan hệ quốc tế về quốc phòng cho toàn quân ở các bậc học và trình độ đào tạo khác nhau. Học viên sau khi tốt nghiệp ở Học viện được phân công công tác tại các đơn vị trực thuộc Bộ, trong số đó, nhiều người sẽ làm việc trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đối ngoại quốc phòng, những tồn tại, hạn chế của đội ngũ cán bộ làm công tác này, Học viện KHQS xác định cần đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, góp phần hoàn thành nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng trong tình hình hiện nay. 2. NỘI DUNG 1. Thực trạng công tác đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng tại Học viện Giảng dạy ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nhằm đạt hai mục đích: 1) Cung cấp những kiến thức ngôn ngữ và hình thành ở người học các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng; 2) Cung cấp các kiến thức thuộc lĩnh vực đối ngoại quốc phòng thông qua học ngoại ngữ. Thời gian qua, Học viện đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói chung, đào tạo ngoại ngữ quân sự nói riêng, trong đó có ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng. Về chương trình đào tạo, Học viện đã chỉ đạo xây dựng và tổ chức đưa các nội dung dạy- học ngoại ngữ liên quan đến lĩnh vực quân sự, đối ngoại quốc phòng (thực hành tiếng quân sự, dịch quân sự, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, giảng dạy chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng bằng ngoại ngữ...) vào giảng dạy cho từng đối tượng khác nhau nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện và nâng cao các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ (nghe nói, đọc, viết, biên-phiên dịch) trong lĩnh vực quân sự gần với môi trường công tác sau này của họ. Bên cạnh đó, Học viện tăng cường công tác liên kết đào tạo, giao lưu, trao đổi học viên với các học viện, trường đại học nước ngoài như Úc, Singapore, Mỹ, Ấn Độ,... trong khuôn khổ hợp tác của Bộ Quốc phòng với các nước đối tác để đưa giảng viên, học viên đi học, thực tập để nâng cao trình độ ngoại ngữ, trong đó có ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng. Các khoa, giảng viên dạy ngoại ngữ tích cực, nỗ lực học tập, nâng cao trình độ kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ quân sự, trong đó có đối ngoại quân sự; nghiên cứu, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đặc thù của nội dung giảng dạy và đặc điểm của người học. Cuối cùng, Học viện quan tâm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) về công tác giảng dạy ngoại ngữ quân sự nói chung, ngoại ngữ chuyên ngành đối ngoại quốc phòng nói riêng như khuyến khích giảng viên biên soạn giáo trình, tài liệu dạy ngoại ngữ quân sự, thực hiện các đề tài về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ quân sự, công bố các nghiên cứu về giảng dạy ngoại ngữ quân sự, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng trên các tạp chí trong và ngoài Học viện... Nhờ đó, trình độ ngoại ngữ quân sự của học viên nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng được cải thiện nhiều. Qua khảo sát các cơ quan, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng của toàn quân, tỷ lệ đánh giá mức độ hài lòng về trình độ ngoại ngữ và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của học viên tốt nghiệp tại Học viện ngày càng tăng lên. 5KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v Tuy nhiên, trong công tác đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng của Học viện còn tồn tại một số vấn đề bất cập sau: Thứ nhất, Học viện vẫn chưa xây dựng được chiến lược mang tính dự báo cao trong đào tạo ngoại ngữ về lĩnh vực đối ngoại quốc phòng. Những yêu cầu, nhiệm vụ, phạm vi, các hoạt động của công tác đối ngoại quốc phòng ngày càng mở rộng, phát triển đặt ra yêu cầu cho các cơ sở đào tạo quân đội như Học viện KHQS phải có tính dự báo, đi trước, đón đầu trong công tác kế hoạch, xây dựng chương trình và triển khai đào tạo theo kịp với thực tiễn hoạt động đối ngoại của Quân đội. Ví dụ như các hoạt động gìn giữ hòa bình của các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam tại các phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc là một trong các hoạt động đối ngoại quốc phòng quan trọng hiện nay, chưa được đưa vào giảng dạy ngoại ngữ tại Học viện. Thứ hai, hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy ngoại ngữ quân sự nói chung, quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng còn thiếu, chưa đảm bảo tính thống nhất và chậm đổi mới. Các khoa ngoại ngữ cơ bản đã có tài liệu giảng dạy ngoại ngữ quân sự cho học viên đào tạo bậc đại học, nhưng chưa có tài liệu dạy ngoại ngữ quân sự cho các đối tượng ngắn hạn không chuyên, bồi dưỡng sau đào tạo cơ bản. Kết cấu nội dung, dung lượng kiến thức đưa vào trong tài liệu giảng dạy ngoại ngữ quân sự ở từng cấp độ/trình độ cũng không thống nhất ở các khoa ngoại ngữ, không chú trọng phát triển đồng đều các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ. Bên cạnh đó, quan hệ quốc tế về quốc phòng chỉ là một nội dung của ngoại ngữ quân sự, không được bố trí thành một học phần ngoại ngữ riêng biệt và chuyên sâu trừ đối tượng học viên đào tạo chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng. Ngoài ra, tính liên thông, kết nối về nội dung, trình độ giữa các nội dung giảng dạy cũng không thực sự khoa học, hợp lý. Cuối cùng, các tài liệu giảng dạy ngoại ngữ quân sự cũng thường chậm được cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung, không theo kịp sự phát triển của thực tiễn công tác đối ngoại quốc phòng của Quân đội ta. Thứ ba, một số giảng viên ngoại ngữ chưa đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng ngoại ngữ, nhất là về ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng; chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp với ngoại ngữ chuyên ngành. Nhiều giảng viên ngoại ngữ được đào tạo ở ngoài quân đội, sau đó được tuyển vào công tác tại Học viện nên còn thiếu các kiến thức cơ bản về lĩnh vực quân sự-quốc phòng, trong đó không nắm được các hoạt động cụ thể trong triển khai công tác đối ngoại quốc phòng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và tự học tập, bồi dưỡng về quân sự-quốc phòng của các khoa, giảng viên ngoại ngữ chưa được tiến hành thường xuyên, hiệu quả. Giảng viên khi được phân công giảng dạy ngoại ngữ quân sự, trong đó có ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng cũng chưa đầu tư nhiều thời gian, công sức vào nghiên cứu đổi mới, nâng cao phương pháp dạy cho phù hợp với đặc thù của môn học và học viên, chỉ tập trung vào cung cấp đơn thuần từ vựng, kiến thức nên không gây hứng thú cho học viên; hiệu quả không cao. Thứ tư, trình độ của giảng viên ngoại ngữ cũng có những hạn chế nhất định. Số lượng giảng viên ngoại ngữ đạt chuẩn trình độ của Học viện còn chưa đáp ứng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về trình độ của đội ngũ giảng viên cơ hữu của các cơ sở đạo tạo bậc đại học, theo đó mỗi ngành đào tạo phải có ít nhất 01 Tiến sỹ và 03 Thạc sỹ. Ngoài ra, việc kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của giảng viên ngoại ngữ của Học viện theo chuẩn trình độ quy định đối với giảng viên cũng chưa được tiến hành đồng bộ, thường xuyên; nhiều giảng viên còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn về công tác đối ngoại quốc phòng nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói chung, đương nhiên trong đó có chất lượng đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng. 2. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng Từ những thành công cũng như hạn chế nêu trên, Học viện cần có những giải pháp cụ thể, đồng bộ và phù hợp với điều kiện của Học viện để nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ quan hệ quốc tế 6 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v về quốc phòng, góp phần thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng của Quân đội trong tình hình hiện nay. 2.1. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu giảng dạy ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng Tiến hành chuẩn hóa nội dung chương trình đào tạo ngoại ngữ về lĩnh vực đối ngoại quốc phòng cũng đồng nghĩa với việc tạo dựng nên thương hiệu của Học viện KHQS. Đổi mới chương trình theo hướng tăng tỷ lệ hàm lượng kiến thức và thời lượng thực hành các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng; Tăng sự tương thích với các môn chuyên ngành bằng tiếng Việt; Điều chỉnh nội dung các môn học ngoại ngữ sao cho các môn học gắn kết, bổ trợ cho nhau một cách chặt chẽ. Nội dung chương trình ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở, gắn với yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của hoạt động đối ngoại quốc phòng hiện nay. Sắp xếp một cách khoa học các môn học, học phần ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, bảo đảm tính liên thông và phát triển về trình độ kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ cũng như cung cấp kiến thức chuyên ngành cho học viên giữa các học phần trong suốt quá trình đào tạo ngoại ngữ tại Học viện. Tập trung xây dựng một số môn chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng được giảng dạy bằng ngoại ngữ tại Học viện. Song song với đó, tổ chức biên soạn mới hay nâng cấp các giáo trình, tài liệu giảng dạy các kỹ năng giao tiếp, biên-phiên dịch ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, đảm bảo phát triển đồng đều các kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng. Các dữ liệu ngoại ngữ được lựa chọn kĩ lưỡng, gần gũi với thực tế hoạt động đối ngoại quốc phòng và sắp xếp theo logic hợp lí, cho phép người học vừa lĩnh hội được kiến thức, vừa phát triển kỹ năng sử dụng ngoại ngữ trong các tình huống gần gũi với công tác đối ngoại quốc phòng. Ở giai đoạn cơ sở, nội dung quan hệ quốc tế về quốc phòng có thể lồng ghép trong các học phần thực hành tiếng quân sự. Đến giai đoạn học chuyên ngành, cần xây dựng các giáo trình, tài liệu giảng dạy riêng tương ứng với các học phần ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng. Trong từng bài học, cần xác định cụ thể mục tiêu về kiến thức và kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ chuyên ngành cần đạt được ở người học; đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có trình độ ngoại ngữ bậc 5 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương với C1 Khung tham chiếu ngoại ngữ của châu Âu). 2.2. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, kiến thức về đối ngoại quốc phòng, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trọng tâm là chất lượng đội ngũ nhà giáo là một nội dung đột phá xác định trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Học viện KHQS lần thứ VII Nhiệm kỳ 2015-2020. Năng lực, trình độ của đội ngũ giảng viên ngoại ngữ có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng tại Học viện. Học viện cần quan tâm, đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, kiến thức về đối ngoại quốc phòng cho đội ngũ giảng viên ngoại ngữ. Chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, khuyến khích giảng viên tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng kiến thức về công tác đối ngoại quốc phòng; nâng cao trình độ ngoại ngữ về quan hệ quốc tế về quốc phòng, năng lực sư phạm tại các trường đại học trong và ngoài nước theo các chương trình hợp tác của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục-đào tạo Việt Nam với các đối tác nước ngoài (Úc, Mỹ, Trung Quốc, Singapo, Pháp, Ấn Độ...). Phấn đấu có nhiều giảng viên đạt chuẩn trình độ ngoại ngữ có thể giảng dạy môn chuyên ngành quan hệ quốc tế về quốc phòng bằng ngoại ngữ. Đến năm 2020, 80% giảng viên các khoa ngoại ngữ phải đạt trình độ sau đại học, trong đó 25% là tiến sỹ, có từ 3 đến 5 phó giáo sư. 7KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v Các giảng viên được phân công dạy ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng phải tích cực học tập, nghiên cứu, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về đối ngoại quốc phòng, các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng. Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học, mục tiêu, yêu cầu đào tạo tại Học viện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện. Giảng viên luôn chủ động đưa người học vào các tình huống giao tiếp gần gũi với các hoạt động đối ngoại quốc phòng để học viên tư duy, sử dụng kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ giải quyết vấn đề đặt ra. Phương pháp đào tạo cần thay đổi căn bản trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong thiết kế bài giảng để phát huy tính tích cực, chủ động của học viên. Thường xuyên cập nhật các phương pháp giảng dạy tiên tiến trên thế giới, điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng người học, đảm bảo người học đạt chuẩn trình độ, kỹ năng ở mỗi giai đoạn, bậc học. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của giảng viên, tập trung vào các đề tài nghiên cứu về đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ của Học viện. 2.3. Giáo dục ý thức trách nhiệm, kích thích động cơ và nâng cao hiệu quả phương pháp học tập của học viên; xây dựng môi trường học tập tích cực Tổ chức tốt giáo dục nhập học là một mắt xích quan trọng của công tác giáo dục đào tạo, giúp học viên nắm chắc được mục tiêu, yêu cầu đào tạo, quy trình, nội dung chương trình đào tạo cũng như yêu cầu thực tế của các cơ quan, đơn vị quân đội sử dụng học viên sau này, nhất là các cơ quan, đơn vị làm việc liên quan đến đối ngoại quốc phòng. Trên cơ sở đó học viên xây dựng cho mình động cơ và ý thức quyết tâm cao trong học tập, rèn luyện. Giảng viên phải thổi vào học viên ngọn lửa say mê học tập, tình yêu với văn hóa và ngôn ngữ mình được học; tự xây dựng kế hoạch, biện pháp chiếm lĩnh kiến thức và các kỹ năng nghề nghiệp gắn với công tác sau khi ra trường. Giảng viên nên tìm ra các hoạt động giảng dạy hoặc các phương pháp giảng dạy phù hợp để thu hút sự quan tâm, hứng thú của học viên, từ đó làm tăng động cơ nội tại của học viên khi học ngoại ngữ. Trong phương pháp giảng dạy tích cực, người học giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy học. Học viên cần chủ động cộng tác tích cực với các đối tượng của hoạt động dạy học thì càng nhanh chóng đạt được kết quả học tập tốt. Trước khi chủ động cộng tác với giảng viên, học viên phải biết cộng tác với chính mình; hiểu nhu cầu, trình độ, thói quen, sở thích của mình; chủ động xây dựng kế hoạch học tập để chiếm lĩnh tri thức và làm chủ các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Tuân thủ chiến lược học tập đã đề ra, học viên phải trở thành người đàm phán tích cực và hiệu quả với chính mình, với quá trình và mục tiêu học tập của mình, với các thành viên trong nhóm và với giảng viên nhằm xác định, điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, học viên cần được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng các kỹ năng tự học cần thiết như: Xác định những hạn chế trong năng lực ngoại ngữ của bản thân, đề ra mục tiêu phấn đấu cho từng giai đoạn và phương pháp thực hiện mục tiêu, cách khai thác các nguồn học liệu và cơ hội học tập ở trường, ngoài xã hội, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ mục tiêu học tập. Các hoạt động học trên lớp với các hoạt động học ngoài lớp học phải có sự gắn kết hữu cơ với nhau. Việc tạo ra một môi trường thuận lợi để thực hành ngoại ngữ nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy-học ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng tại Học viện. Cần tạo ra môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, ở mọi nơi, mọi chỗ như trong lớp học, các câu lạc bộ ngoại ngữ, xem phim, truyền hình bằng tiếng nước ngoài, trao đổi hàng ngày giữa các học viên... để học viên có thói quen và hình thành các phản xạ ngoại ngữ. Ngoài ra, Học viện tiếp tục tăng cường tổ chức cho học viên giao lưu bằng ngoại ngữ với học viên người nước ngoài đang theo học tiếng 8 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v Việt tại Học viện thông qua các buổi hoạt động dã ngoại chung, các buổi tọa đàm trao đổi-giao lưu văn hóa.... Bên cạnh đó, Học viện cần tăng cường mời giáo viên người bản ngữ tham gia giảng dạy tại Học viện, nhất là các giáo viên có kiến thức và kinh nghiệm về đối ngoại quốc phòng trong khuôn khổ các chương trình trao đổi, hợp tác giữa Học viện với các đối tác nước ngoài theo quy định và được Bộ Quốc phòng cho phép. Học viện tạo điều kiện cho học viên được tham gia phiên dịch ở những sự kiện lớn nằm trong khuôn khổ các hoạt động đối ngoại quốc phòng như các giải bắn súng quân đội các nước Asean, giải Takewondo; cử học viên đi dịch thực tế ở các đơn vị... 2.4. Tăng cường liên kết đào tạo, trao đổi, giao lưu với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước ngoài Hợp tác, liên kết đào tạo là xu thế tất yếu của giáo dục đại học thời kỳ hội nhập. Bộ Quốc phòng cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích các học viện, nhà trường trong Quân đội mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo uy tín trong nước và quốc tế trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ và kiến thức đối ngoại quốc phòng. Học viện cần tăng cường hợp tác, liên kết đào tạo ngoại ngữ, quan hệ quốc tế với các đối tác trong nước, như: Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, Học viện Ngoại giao, Đại học Hà Nội. Các hình thức liên kết, hợp tác đa dạng như: gửi học viên sang đào tạo; gửi giảng viên ngoại ngữ sang bồi dưỡng chuyên môn quan hệ quốc tế, phương pháp giảng dạy và nâng cao trình độ; mời các chuyên gia ở các chuyên ngành khác nhau đến Học viện tham gia giảng dạy, nói chuyện chuyên đề, tập huấn cho giảng viên về phương pháp giảng dạy; hỗ trợ kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên ... Tích cực triển khai liên kết đào tạo ngoại ngữ và quan hệ quốc tế cho học viên dài hạn với các đối tác nước ngoài như Trung Quốc, Anh, Ấn Độ, Singapore, Nga... Chương trình đào tạo liên kết bậc đại học sẽ theo mô hình 3+1 (3 năm đào tạo trong nước, 1 năm đào tạo ở nước ngoài). Bên cạnh đó, tận dụng, khai thác tốt các suất học bổng, các chương trình hợp tác của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo để gửi giảng viên, học viên đi đào tạo ở nước ngoài. Ngoài ra, tăng cường mời chuyên gia, giảng viên người nước ngoài sang Việt Nam trong khuôn khổ các chương trình liên kết đào tạo với các đối tác nước ngoài tham gia giảng dạy ngoại ngữ, quan hệ quốc tế, tham gia nghiên cứu xây dựng giáo trình, giao lưu, hợp tác Cuối cùng, các cơ quan chức năng của Học viện cần tăng cường xây dựng quan hệ với các đầu mối phụ trách hợp tác quốc tế để có thêm nhiều nguồn học bổng, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu và chất xám phục vụ công tác giáo dục-đào tạo và NCKH của Học viện. 2.5. Tăng cường công tác phối hợp, liên kết với các cơ quan, đơn vị chuyên trách công tác đối ngoại quốc phòng Phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chuyên trách về công tác đối ngoại quốc phòng trong toàn quân để xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành và trình độ ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng cho học viên. Học viện cần thường xuyên tổ chức các đoàn công tác đi khảo sát các cơ quan, đơn vị làm công tác đối ngoại quốc phòng (Cục đối ngoại-Bộ Quốc phòng, các phòng, ban đối ngoại của các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, bộ tư lệnh) để nắm bắt các nhu cầu, thực tiễn công tác mà cán bộ đối ngoại quốc phòng đang làm, đánh giá của các cơ quan, đơn vị này đối với chất lượng, khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của đơn vị. Những kết quả khảo sát là cơ sở quan trọng cho phép xây dựng các chương trình đào tạo, xác định các nội dung giảng dạy phù hợp, sát với thực tiễn công tác sau này; kịp thời chỉnh sửa các nội dung chưa phù hợp, đã lỗi thời; bổ sung những nội dung mới cần thiết theo kịp sự phát triển của hoạt động đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới. Học viện tăng cường phối hợp, liên kết với các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tổ chức các lớp bồi dưỡng, đánh giá trình độ ngoại ngữ, trong đó chú ý trình độ ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng 9KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v cho các cán bộ đối ngoại quốc phòng. Các lớp như vậy sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, sát với thực tiễn công tác của học viên nên chất lượng đào tạo được nâng cao; góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng của từng cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, tăng cường gửi học viên ngoại ngữ đến thực tập trong các cơ quan, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng để được tiếp xúc, làm việc trực tiếp trong môi trường thực tế, nắm bắt được yêu cầu công việc cũng như các phẩm chất, năng lực (kiến thức chuyên ngành, trình độ ngoại ngữ, thái độ công tác) cần có của người cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng. Học viện tăng cường mời các cán bộ có kinh nghiệm, giỏi ngoại ngữ của các cơ quan, đơn vị này đến nói chuyện, tham gia giảng dạy một số chuyên đề liên quan đến hoạt động đối ngoại quốc phòng bằng ngoại ngữ trong quá trình đào tạo tại Học viện. 2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ dạy học Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy ngoại ngữ. Hệ thống phòng học của các lớp ngoại ngữ cần tiếp tục được Học viện đầu tư cải tạo, nâng cấp và trang bị thêm các thiết bị hỗ trợ dạy và học ngoại ngữ. Học viện lắp đặt và khai thác hiệu quả hệ thống truyền hình cáp, vô tuyến màn hình rộng, hệ thống đồng bộ máy tính-máy chiếu, cho phép giảng viên, học viên khai thác các kênh truyền hình bằng tiếng nước ngoài và ứng dụng hiệu quả CNTT vào dạy và học ngoại ngữ trên lớp. Tiếp tục đầu tư xây dựng các phòng học ngoại ngữ chuyên dụng phục vụ hiệu quả việc dạy-học các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ, kỹ năng biên- phiên dịch. Đặc biệt, Học viện chú trọng lắp đặt các phòng học dịch ca-bin, kỹ năng mà các các học viên tốt nghiệp tại Học viện còn yếu trong thời gian qua. Ngoài ra, Học viện tăng cường đầu tư lắp đặt các phòng học mô phỏng các hoạt động lễ tân đối ngoại quốc phòng giúp học viên làm quen, chuẩn bị và thích nghi tốt với môi trường công tác sau này. Đầu tư mở rộng, nâng cấp hệ thống thư viện; xây dựng cơ sở dữ liệu với số lượng lớn các tài liệu tham khảo chuyên ngành ngoại ngữ mang tính cập nhật cao. Ngoài ra, hệ thống thư viện của Học viện kết nối với các thư viện điện tử của các trường đại học ngoại ngữ bên ngoài (Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN) và tiến tới kết nối với cả các trường đại học nước ngoài, cho phép cán bộ, giảng viên, học viên có thể tiếp cận, khai thác cơ sở dữ liệu số phong phú, đa dạng phục vụ công tác dạy và học ngoại ngữ tại Học viện. Trong xu thế giáo dục ngày nay, giảng viên phải tăng cường khai thác và ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy của mình. Tích cực học tập, nghiên cứu và làm chủ CNTT; đưa vào bài giảng các nội dung giảng dạy sinh động, hấp dẫn với sự trợ giúp của các phương tiện, thiết bị CNTT... Sử dụng các phần mềm hỗ trợ như Powerpoint để làm phong phú, hấp dẫn nội dung bài giảng. Trên thư viện, Học viện tiếp tục tăng cường mua và lắp đặt các phần mềm tự học, tự đánh giá trình độ ngoại ngữ; xây dựng hệ thống bài tập tự học và rèn các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ 3. KẾT LUẬN Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, công tác đối ngoại quốc phòng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là một bộ phận của đối ngoại quốc gia, góp phần xây dựng, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng, trong đó có trình độ ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng ngày càng trở nên cấp thiết. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Học viện KHQS đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để chuẩn hóa chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói chung, ngoại ngữ quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng: Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy; Xây dựng đội ngũ giảng viên; Tăng cường liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước; Làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuyên trách về đối ngoại quốc 10 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰSố 15 - 9/2018 v IMPROVING THE QUALITY OF FOREIGN LANGUAGE TRAINING SPECIALIZING IN DEFENCE RELATIONS AT MILITARY SCIENCE ACADEMY NGUYEN TRONG HAI Abstract: Improving the quality of foreign language training, in general and foreign languages in defense relations, in particular at the Military Science Academy has made great contributions to improving the quality of the staff working in this field. The article depicts the current situations of foreign language training specializing in defence relations at the Academy. Also, some major solutions to improving the quality of foreign language training specializing in defence relations will be proposed with a view to making contributions to realizing all the assigned missions related to defense relations in the period of Vietnam’s international integration in a fruitful way. Keywords: quality of training, innovation, defense relations, foreign languages, international relations specializing in defense Received:01/8/2018; Revised: 20/8/2018; Accepted for publication: 30/8/2018 phòng... Nhờ đó, các học viên ngoại ngữ của Học viện có khả năng nhanh chóng thích ứng với môi trường công tác, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay của Việt Nam./. Tài liệu tham khảo: Bộ Quốc phòng (2016), Chỉ thị số 89/CT-BQP ngày 09/11/2016 về “Một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống nhà trường quân đội”, Hà Nội, 2016, tr.1. Đề án Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ và quan hệ quốc tế tại Học viện Khoa học Quân sự giai đoạn 2016-2020, năm 2017. NQ số 28-NQ/TW của BCH TƯ Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31/12/2013 về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftckhnnqs_15_9_2018_nguyen_trong_hai_3_10_8289_2136128.pdf
Tài liệu liên quan