Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh – Giá trị và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Tài liệu Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh – Giá trị và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay: TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 27 (52) - Thaùng 4/2017 19 Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh – Giá trị và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay Phan Chau Trinh’s political thought conversion – Value and history lessons for innovation enterprise in Vietnam TS. Phạm Đào Thịnh Trường Đại học Sài Gòn Pham Dao Thinh, Ph.D. Saigon University Tóm tắt Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh phản ánh quá trình nhận thức của ông trước sự thay đổi của thời đại. Trong giai đoạn hiện nay, xuất hiện những biến đổi rất lớn trên nhiều mặt của xã hội. Trên cơ sở phân tích những cơ sở hình thành, nội dung của bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh, bài viết đưa ra những giá trị và bài học lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: bước chuyển tư tưởng, tư tưởng chính trị, dân chủ tư sản. Abstract The transformation of Phan Chau Trinh's political thought has reflected his congnitive pro...

pdf9 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 29/01/2021 | Lượt xem: 73 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh – Giá trị và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 27 (52) - Thaùng 4/2017 19 Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh – Giá trị và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay Phan Chau Trinh’s political thought conversion – Value and history lessons for innovation enterprise in Vietnam TS. Phạm Đào Thịnh Trường Đại học Sài Gòn Pham Dao Thinh, Ph.D. Saigon University Tóm tắt Bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh phản ánh quá trình nhận thức của ông trước sự thay đổi của thời đại. Trong giai đoạn hiện nay, xuất hiện những biến đổi rất lớn trên nhiều mặt của xã hội. Trên cơ sở phân tích những cơ sở hình thành, nội dung của bước chuyển tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh, bài viết đưa ra những giá trị và bài học lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: bước chuyển tư tưởng, tư tưởng chính trị, dân chủ tư sản. Abstract The transformation of Phan Chau Trinh's political thought has reflected his congnitive process before the change of times. In the present period, there are great changes in many aspects of society. Based on the analysis of the foundations, contents of Phan Chau Trinh's political ideology conversion, the paper presents values and historical lessons for innovation enterprise in Vietnam. Keywords: moving thoughts, political thought, bourgeois democracy. Phan Châu Trinh (1872 - 1926), xuất thân trong gia đình quan võ tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi, năm 1900 đỗ cử nhân, năm 1901 đỗ phó bảng. Năm 1902, ông học trường Hậu bổ và được nhậm chức quan Thừa biện bộ Lễ. Với nhãn quan chính trị nhạy bén, ông nhận thức được sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà Nguyễn, nên từ bỏ quan trường (1904), đem tài trí đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Qua trải nghiệm thực tiễn cách mạng, sự tác động của các trào lưu tư tưởng, các cuộc cải cách trong khu vực, đã góp phần hình thành bước chuyển trong tư tưởng của Phan Châu Trinh, đó là bước chuyển từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản và tiến gần đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Bước chuyển tư tưởng của Phan Châu Trinh xuất phát từ những cơ sở, tiền đề lý luận của nó. Về lịch sử, cuối thế kỷ XIX, dân tộc Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Vua quan trở thành tay sai của thực dân Pháp, nhân dân sống dưới hai tròng nô lệ: thực dân, phong BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH – GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ 20 kiến. Điều đó đánh thức lương tri của một bộ phận trí thức tiến bộ, khiến họ sẵn sàng đứng về phía lợi ích dân tộc và nhân dân, chống lại thực dân, phong kiến. Lịch sử dân tộc đặt ra yêu cầu đi tìm con đường cách mạng để cứu nước, cứu dân. Cùng với hoàn cảnh lịch sử ấy, ở trong nước một trào lưu tư tưởng mới xuất hiện, đó là tư tưởng Canh tân của các nhà trí thức tiến bộ, như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Họ chủ trương đổi mới đất nước trên các lĩnh vực như cách thức cai trị đất nước của nhà vua, chính sách ngoại giao, học thuật, lối sống, củng cố quân sự, v.v Bên cạnh đó, tư tưởng Tân thư là một trào lưu tư tưởng tiến bộ của Nhật Bản, Trung Quốc khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. “Tân thư” dùng để chỉ các sách báo về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên chứa đựng kiến thức mới của Âu - Mỹ dịch ra chữ Hán, chữ Nhật có ảnh hưởng lớn đến các nhà tư tưởng đương thời. Phan Châu Trinh viết: “Buổi ấy các danh sỹ nước Pháp như Lư - thoa, Mạnh - đức - tư - cưu, Phúc - lộc - đặc - nhĩ, v.v kế tiếp nhau nổi lên phát huy cái nghĩa dân quyền, chẳng đầy vài mươi năm mà cái thế lực ảnh hưởng ra khắp toàn châu Âu”[2, 669]. Năm 1911, khi sang Pháp được chứng kiến sự phát triển của nền dân chủ phương Tây, sự tác động của cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) của Trung Quốc, các cuộc canh tân của Nhật Bản, Thái Lan, đã góp phần hình thành bước chuyển trong tư tưởng của Phan Châu Trinh. Bước chuyển tư tưởng của Phan Châu Trinh diễn ra trong thời gian khá dài, có thể chia thành các giai đoạn: thứ nhất, từ năm 1894 đến năm 1904, Phan Châu Trinh ông theo Nho học, đứng trên lập trường tư tưởng quân chủ, đậu Phó bảng năm 1901 và được bổ nhiệm làm quan. Sau một thời gian quan trường, ông thấy được bản chất của chế độ phong kiến nên từ quan, chuẩn bị cho một con đường mới. Thứ hai, từ năm 1905 đến năm 1910, Phan Châu Trinh xây dựng phong trào Duy tân, theo tư tưởng dân chủ tư sản ở trong nước. Thứ ba, từ năm 1911 đến năm 1926, Phan Châu Trinh hoạt động đòi các quyền dân sinh, dân chủ tại Pháp và diễn thuyết tại Việt Nam lúc cuối đời. Về tác phẩm, Phan Châu Trinh viết nhiều thể loại: Chính luận có các tác phẩm: Đầu Pháp chính phủ thư, Trung kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký, Đông Dương chính trị luận, Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Thư thất điều; Diễn thuyết có các bài nổi tiếng: Đạo đức và luân lý Đông Tây, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa; Thơ ca quốc âm và thơ chữ Hán gồm những tập thơ Tây hồ thi tập, Tỉnh quốc hồn ca I, Tỉnh quốc hồn ca II, Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, Xăng tê thi tập, Năm bài gia huấn, Quốc âm tạp vịnh; Các bài báo và Các bức thư. Bước chuyển tư tưởng của Phan Châu Trinh phản ánh sự phát triển của dân tộc và thời đại, với nội dung phong phú, đa dạng nhưng có thể khái quát thành các nội dung cơ bản như sau: Phan Châu Trinh từ bỏ chế độ quân chủ và đi đến chủ nghĩa dân quyền. Mục đích sự nghiệp Phan Châu Trinh là dùng tài trí để cứu dân, cứu nước đang chìm đắm trong nô lệ. Khi được bổ nhiệm làm quan, ông thấy khoa cử cũng chỉ là kiếm chức quan nhằm “vinh thân, phì gia”, chứ không thể thực hiện được mục đích. Ông nhận thức được sự suy tàn của chế độ phong kiến, sự chìm đắm trong hư văn một bộ phận Nho sỹ vẫn chưa kịp chuyển biến theo thời thế. Phan Châu Trinh viết: “Thế sự hồi đầu dĩ nhất không, Giang sơn vô lệ khấp anh hùng. Vạn gia nô lệ cường quyền hạ, PHẠM ĐÀO THỊNH 21 Bát cổ văn chương thụy mộng trung” [2, tr.95]. Nghĩa là: Việc đời nhìn lại thấy chẳng còn gì, sông núi không còn nước mắt để khóc các bậc anh hùng. Muôn nhà làm tôi tớ dưới ách cường quyền, nhiều người đang ngủ mê trong giấc mộng văn chương bát cổ. Khi làm quan (1902), thông qua Đào Nguyên Phổ, Thân Trọng Huề - những người có tư tưởng canh tân, Phan Châu Trinh được tiếp xúc với tư tưởng Tân thư. Phan Châu Trinh rất phấn khởi và đến với tư tưởng dân chủ, ông viết: “Đến ngày kia có sách mới mà đọc, thì thích lắm nói: “Đây chính là cái thời hữu dụng của kẻ ngu cuồng. Ta đem cái chí của kẻ cuồng ngu của ta, thi hành kiến thức ngu cuồng của ta, chưa hẳn không ít có ích cho quốc dân” [2, tr.588-589]. Càng tiếp xúc với Tân thư, ông càng tin vào con đường cách mạng dân chủ tư sản. Ông viết: “Từ khi sách mới dịch của châu Âu du nhập, mới hiểu rõ tiền đồ sống chết của dân tộc ở trong cái đại mạnh yếu của năm châu” [2, tr.577]. Có thể nói, Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh là người sớm nhận thức được giá trị tư tưởng dân chủ tư sản, từ đó ông tập hợp lực lượng tham gia như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... Những năm đầu thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện phong trào tư sản hóa các nhà Nho tiến bộ. Tư tưởng dân chủ tư sản như một luồng gió mới trong đời sống chính trị Việt Nam. Sự chuyển biến đó thể hiện quá trình phủ định biện chứng: từ bỏ hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, xây dựng hệ tư tưởng dân chủ tư sản trong bối cảnh lịch sử Việt Nam hết sức tăm tối. Vậy tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Châu Trinh bao gồm những nội dung nào? Trước hết, trên lập trường dân chủ tư sản Phan Châu Trinh đã kịch liệt phê phán chế độ quân chủ chuyên chế, đồng thời ca ngợi chế độ dân chủ. Để giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, phải thức tỉnh nhân dân ra khỏi sự mê muội của nọc độc chuyên chế phong kiến, cho nên Phan Châu Trinh đã tích cực phê phán, tố cáo chế độ phong kiến nhằm làm cho nhân dân hiểu được bản chất thối nát của nó. Ông viết: “Hiềm vì nỗi học hành sai lối, Thóc vứt đi, rơm bổi quơ về, Sai lầm từ thuở nhà Lê, Bước qua nhà Nguyễn sa bê dần dần” [2, tr.340]. Theo ông, sự chậm chạp trong đổi mới về chính trị đã làm cho dân tộc đi vào con đường suy yếu, “vì cái nọc độc quân chủ mà nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta” [2, tr.981]. Ông còn cho rằng, Nho giáo đã hết vai trò lịch sử, không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại, ông viết: “Nay tôi mới biết cái độc hại của văn bát cổ, không những đủ làm cho mất nhà mất nước; mà còn hiện hình biến tướng để giết hết cả nòi giống mới thôi” [2, tr.605]. Phan Châu Trinh là người đầu tiên tố cáo vua Khải Định bán nước, Thư thất điều đã khái quát bảy tội của vua Khải Định đáng phải chém đầu [2, tr.647-674]. Ông phê phán vua: “Nay bệ hạ sinh đẻ trong nước Nho giáo, và làm vua trong thời bây giờ là thời thế kỷ XX, mà nước ta lại đứng dưới quyền nước Pháp bảo hộ, mà Bệ hạ dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân. Vậy thì chẳng những dân An Nam không thể dung được Bệ hạ, mà dân nước Pháp cũng lại khi dể Bệ hạ nữa [2, tr.653]. Phan Châu Trinh cho rằng, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, chính thể quân chủ chuyên chế đã không còn phù hợp với thời đại, cần phải chấm dứt sự tồn tại của nó thay bằng chế độ dân chủ. Cùng với việc phê phán chế độ quân BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH – GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ 22 chủ, Phan Châu Trinh ca ngợi chế độ dân chủ tư sản. Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đều nằm trong khuôn khổ luật pháp, vua trái phép cũng bắt tội. Bộ máy nhà nước là những người do nhân dân bầu ra nên nhất nhất phải làm theo lợi ích của nhân dân. Ông viết: “Là những người được uỷ quyền cho, phải thuận theo ý muốn của dân mà làm những việc lợi dân ích nước” [2, tr.652]. Trong bài diễn thuyết tại Sài Gòn năm 1925, ông đã trình bày rất nhiều về tư tưởng dân chủ và một trong những vấn đề khá mới mẻ là quản lý xã hội bằng pháp luật thay cho quản lý thần dân theo ý chí của vua. Ông viết: “Nói tóm lại, dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do muốn bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả. Chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi” [2, tr.985]. Theo Phan Châu Trinh, cách mạng dân chủ tư sản phải dựa vào Pháp để làm cho dân tộc mở mang dân trí, bồi dưỡng sức dân, rồi từ đó mà giành độc lập, nên không chủ trương bạo động. Con đường cách mạng dân chủ tư sản như một luồng gió mới thức tỉnh dân tộc ta trong sự mê muội mấy trăm năm. Tuy nhiên, ông chưa nhận thức đầy đủ bản chất của dân chủ tư sản, đặc biệt, ông lại ảo tưởng khi chủ trương dựa vào Pháp để thực hiện dân chủ ở Việt Nam, rồi giành độc lập dân tộc. Một thuộc địa của thực dân thì không thể có dân chủ và độc lập, tự do! Ông đề ra nhiệm vụ giành độc lập dân tộc, nhưng ông chưa đề ra mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp. Khi phê phán chế độ phong kiến, ông công kích rất mạnh mẽ nhưng đối với thực dân chỉ phê phán việc ngược đãi của người Pháp đối với nhân dân, hoặc một số chính sách thực dân, hoặc chính phủ bảo hộ không làm hết sứ mệnh bảo hộ,.. [2, tr.385-408]. Cùng với việc phê phán chế độ quân chủ chuyên chế, ca ngợi chế độ dân chủ, Phan Châu Trinh nhận thấy vai trò quyết định sự phát triển lịch sử của nhân dân nên đã chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh nhằm chấn hưng dân tộc. Theo Phan Châu Trinh, khai dân trí tức là phải bỏ lối học tầm chương trích cú của nền Nho học, mở trường dạy chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục. Việt Nam mất nước có lý do từ nguyên nhân “cái nọc độc quân chủ vào trong óc dân ta sâu quá, mà cái trình độ của dân ta cũng thấp quá” [2, tr.980], nền Nho học với kiến thức cũ kỹ, lạc hậu không còn phù hợp với thời cuộc, ông viết: “Từ khi cử nghiệp thiết khoa, Năm kinh, bốn truyện hóa ra tro tàn” [2, tr.342]. Để mở mang dân trí, Phan Châu Trinh cho rằng phải tiến hành học thực dụng cốt để phục vụ cuộc sống dân sinh chứ không chỉ học thơ văn phù phiếm. Về kiến thức trong giáo dục cần phải đổi mới nội dung, phương pháp, đặc biệt là chú trọng về giáo dục khoa học, kỹ thuật. Ông viết: “Ước học hành mở cho xứng đáng, Đừng vẽ hình, vẽ dạng cho qua; Công thương, kỹ nghệ chuyên khoa, Trí tri, cách vật cho ta theo cùng” [2, tr.348]. Đối với nền văn minh phương Tây, theo ông cần phải tiếp thu những giá trị để mở mang dân trí. Tư tưởng của ông đã phá bỏ truyền thống “trọng Đông, khinh Tây”, ông viết: “đem cái sự học Âu tây để so sánh lại với cái học cũ của ta, để xem điều gì hay, điều gì dở, cho người ta xét đoán mà tìm lấy đàng tấn tới về sau” [2, tr.964]. Trong bối cảnh đất nước bế tắc về con PHẠM ĐÀO THỊNH 23 đường cách mạng, tư tưởng khai dân trí có tác dụng nhất định làm thay đổi lối tư duy cũ để vươn lên tầm nhận thức mới cao hơn, phù hợp với sự phát triển của thời đại. Chấn dân khí là làm cho mọi người thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, giác ngộ được quyền lợi của mình giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ quân chủ chuyên chế. Sự trì trệ, suy vong của dân tộc không phải từ bản chất của dân tộc ta kém cỏi. Từ buổi đầu lịch sử, dân tộc ta đã có hàng trăm năm dựng nước trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có nền văn hóa bền vững. Sự yếu kém của dân tộc là do chế độ phong kiến không cho nhân dân quyền học tập, tự lực, tự cường. Qua khảo cứu lịch sử nước nhà, ông chỉ ra nguyên nhân yếu kém đó: “Lấy lịch sử mà nói thì dân tộc Việt Nam không phải là một dân tộc hèn hạ, mà cũng không phải là một dân tộc không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm nay mà vẫn còn mê mê muội muội, bịt mắt vít tai không chịu xem xét, không chịu học hỏi cái hay, cái khéo của người” [2, tr.952]? Tư tưởng chấn dân khí của Phan Châu Trinh thể hiện tính cách mạng nhằm phục hưng truyền thống hào hùng của dân tộc. Trong chế độ thực dân phong kiến đã làm cho dân mê muội trong sự an phận, xa lánh chính trị, ông viết: “Còn nó sợ dân biết chính trị nhiều thì nó lại sinh ra cách mạng, cho nên nó cấm học trò và dân không được nói đến chính trị” [2, tr.973]. Vì thế, trong Tỉnh quốc hồn ca I và Tỉnh quốc hồn ca II Phan Châu Trinh kêu gọi, khích lệ nhân dân mau mau tỉnh ngộ, học tập những giá trị văn minh phương Tây để chấn hưng đất nước. Hậu dân sinh tức là phải làm cho mọi người biết phát triển kinh tế mở mang ngành nghề, làm cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Theo ông, một dân tộc muốn phát triển kinh tế phải tiến hành phát triển ngành nghề nhằm tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ đời sống xã hội. Đặc biệt, trong quá trình giao lưu với văn minh phương Tây, cũng như khi đọc những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh rất tâm đắc các đề nghị của Nguyễn Trường Tộ với nhà vua là cần phải nhanh chóng cho người sang phương Tây học nghề. Trong bài diễn thuyết tại Sài Gòn (1925) có đoạn ông nói: “Cũng có người học hành như Nguyễn Trường Tộ khuyên vua dạo qua bên Tây xem xét cái văn minh của họ, rồi cho người qua học,” [2, tr.975]. Sự giao lưu với các phong trào văn minh phương Tây là điều kiện phát triển đất nước, ông viết: “Mau mau đi học lấy nghề, Học rồi ta sẽ đem về dạy nhau” [2, tr.174]. Lúc bấy giờ, Phan Châu Trinh đã quan tâm đến việc mở mang ngành nghề với mục đích phát triển kinh tế hàng hóa. Nền sản xuất phải giao lưu với nước ngoài, phải bảo đảm nhiều hàng hóa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu để tạo ra sự tích luỹ cho nền kinh tế, phạm trù “tư bản” đã được Phan Châu Trinh đề cập, ông viết: “Nghề càng ngày càng đua càng tới, Vật càng ngày càng mới dễ coi. Chở chuyên đi bán nước ngoài, Lợi trong đã được, lợi ngoài lại thêm. Được nhiều lời càng thêm tư bổn, Rộng bán buôn khắp bốn phương trời” [2, tr.193]. Như vậy, có thể nói Phan Châu Trinh là người có tầm nhìn mang tính chất hiện đại, không chỉ bàn về kinh tế hàng hóa mà còn đề cập hàng loạt vấn đề như: lập hội buôn bán, dạy học nghề, xây dựng lối sống giản dị, lành mạnh, chống mê tín, dị đoan, cải tiến kỹ thuật, tổ chức y tế, Đó là những chủ trương bám sát thực tế, phục vụ BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH – GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ 24 đời sống nhân dân [2, tr.168-194]. Để thực hiện được những chủ trương trên, theo Phan Châu Trinh cần phải thức tỉnh nhân dân hiểu được quyền lợi của mình. Trong tư tưởng dân chủ, Phan Châu Trinh nhấn mạnh đến vai trò, những quyền lợi cơ bản và thực hiện những nghĩa vụ thiêng liêng cao cả với đất nước, ông viết: “Một nòi dân cùng một giọt máu xẻ ra, cùng một thứ tiếng nói, ở trong miếng đất mà ông cha ta nó đã đổ máu, đổ mồ hôi, đổ nước mắt, để vỡ vạc ra, thành ra một nước lưu truyền bốn ngàn năm đến giờ, thì được phép hưởng quyền lợi trong miếng đất ấy, được sống ở đó, chết chôn đó, giàu nhờ đó, nghèo nương đó, làm gì thì không ai cấm đoán được” [2, tr.940]. Khi nói về quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, Phan Châu Trinh gọi đó là đạo đức luân lý. Theo ông đạo đức luân lý có sự phát triển từ thấp lên cao: luân lý gia đình, luân lý quốc gia, luân lý xã hội. Dân tộc hèn yếu chỉ vì hiểu biết hạn hẹp trong quan hệ vua - tôi, không hề biết được quan hệ nước với dân, cho nên, nhân dân không hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Ông viết: “cho nên dân trong nước không biết quyền dân là gì, thương nước là gì, nghĩa vụ là gì?” [2, tr.938]. Hạn chế trong luân lý xã hội là nhân dân không hề biết đoàn thể là gì, tổ chức là gì, nguyên nhân này là từ chế độ phong kiến. Ông viết: “Dân không biết đoàn thể, không trọng công ích là bởi ba bốn trăm năm trở về đây, bọn học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham bã vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết vua mà chẳng biết có dân” [2, tr.943]. Cho nên, phải khơi dậy tinh thần dân tộc, vì trước đây, dân tộc ta rất hào hùng và đoàn kết, biết bênh vực nhau. Ông nói: “dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, ù lỳ như ngày nay” [2, tr.943]. Giá trị nổi bật trong tư tưởng Phan Châu Trinh là làm cho nhân dân nhận thức được phạm trù dân chủ. Cũng như Phan Bội Châu, các ông đều có quan niệm về mối quan hệ dân với nước, quốc quyền với dân quyền, ông viết: “Gọi là nước, thì phải có đất đai, có nhân dân” [2, tr.605], đó là mối quan hệ biện chứng nổi bật nhất trong tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX ở nước ta. Vậy để nhân dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì cách mạng Việt Nam phải làm gì? Trước hết phải xây dựng một luân lý quốc gia mới, không thể dựa vào tư tưởng truyền thống quân chủ chuyên chế, Phan Châu Trinh cho rằng, phải kết hợp truyền thống với hiện đại, dân tộc với thế giới. Ông viết: “Nếu ta giữ một ít đạo đức của ta, thâu thái một ít đạo đức của Âu đem điều hòa lại, rồi khuyếch trương luân lý, nghĩa là khiến dân Việt Nam ai ai cũng đều biết nghĩa vụ đối với nước Việt Nam. Được như thế thì chẳng những nước Việt Nam sau này được giàu mạnh, mà trong thế giới này bất kỳ dân tộc nào muốn đến ăn chung ở đậu trên miếng đất này cũng không giám đem lòng khinh dễ ta như ngày nay nữa” [2, tr.957]. Theo đó, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh có bước phát triển, nếu trước đây, tư tưởng dân chủ chỉ dừng lại ở việc đối lập dân chủ với quân chủ một cách chung chung thì đến đây, tư tưởng dân chủ gắn liền với độc lập dân tộc, gắn liền với những quyền cụ thể của người dân Việt Nam, gắn liền với phạm trù xã hội mang tính phổ biến. Điều này, thể hiện sự phát triển, chuyển biến tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh và cũng là tiền đề căn bản để ông đến gần chủ nghĩa Mác - Lênin. Với chủ trương cách mạng dân chủ tư sản, Phan Châu Trinh sử dụng phương PHẠM ĐÀO THỊNH 25 pháp cách mạng hòa bình, hợp pháp, công khai. Căn cứ vào tình hình trong nước, Phan Châu Trinh cho rằng chủ trương cách mạng bạo động của Phan Bội Châu là không phù hợp, ông khẳng định bạo động cách mạng sẽ gặp thất bại. Xét về mặt chiến lược cách mạng, Phan Bội Châu là hoàn toàn đúng, vì đối với thực dân xâm lược phải dùng bạo động cách mạng để đánh đuổi. Xét về thực lực cách mạng, bạo động cách mạng có thể thất bại, cho nên quan điểm Phan Châu Trinh cũng có phần phù hợp với thực tế cách mạng. Căn cứ tình hình sức người, sức của ở trong nước còn rất yếu, nhân dân “không có chỗ nương thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của mà tiêu, quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự được với ai nữa” [2, tr.404], Phan Châu Trinh chủ trương phương pháp đấu tranh hòa bình, đòi dân sinh, dân chủ một cách công khai với mục đích “trông dân có trí, dân có đường sống” [2, tr.596]. Muốn thực hiện được những nhiệm vụ ấy, ông chủ trương đấu tranh trên diễn đàn công khai, ông viết: “Cho nên sự vận động của đảng tôi, toàn là tụ tập dân chúng đường đường chính chính, diễn thuyết, họp chí sĩ, khảo cứu chính trị thời thế, ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ. Chủ nghĩa của tôi đã lợi dụng dân trí, thủ đoạn lợi dụng rõ ràng, cho nên những kẻ nghe theo đều là người đọc sách biết lẽ, vì nước quên mình” [2, tr.597]. Phương pháp đấu tranh hòa bình là một phương pháp được một bộ phận trí thức yêu nước tán thành, họ dựa vào pháp luật và diễn đàn công luận để đấu tranh, nhưng thường không đạt kết quả mong muốn, hoặc nếu có cũng chỉ là sự nhượng bộ tạm thời của thực dân nhằm xoa dịu mâu thuẫn xã hội. Phương pháp này có ưu điểm là không gây ra tổn thất về tính mạng và vật chất của nhân dân, làm cho nhân dân thức tỉnh, vươn lên làm cách mạng, phê phán chế độ quân chủ, tố cáo quan lại Pháp vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với mục đích đánh đuổi thực dân xâm lược. Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của cách mạng dân chủ tư sản, Phan Châu Trinh phát hiện ra động lực của cách mạng là đoàn kết nhân dân. Theo ông, nhân dân đoàn kết thì mới tập hợp được thành đảng phải, tổ chức để đấu tranh với thực dân Pháp. Ông kêu gọi nhân dân đoàn kết xây dựng thành tổ chức, đoàn thể để tham gia phong trào cách mạng, đoàn kết là một sức mạnh của dân tộc. Ông viết: Xưa nay góp gió làm nên bão, Muôn vạn nên ghi một chữ đồng [2, tr.281]. Trong tác phẩm Tỉnh quốc hồn ca I, với mười hai phần nội dung, Phan Châu Trinh dành một phần bàn về sự đoàn kết nhân dân. Ông phân tích thấu đáo những hậu quả của mất đoàn kết, chỉ ra nguyên nhân của mất đoàn kết là thiếu sự thông cảm, chia sẻ, không biết nhường nhịn nhau, thậm chí tranh giành nhau quyền lợi vật chất. Do đó làm cho giống nòi hèn kém, giảm sức mạnh của dân tộc, dẫn đến mất nước. Cho nên, muốn giành độc lập, nhân dân ta phải đoàn kết một long [2, tr.168- 194]. Về nền chính trị, Phan Châu Trinh cho rằng, nó có vai trò rất quan trọng đối với đời sống nhân dân: nền chính trị tiến bộ thì nhân dân hạnh phúc, còn chính trị lạc hậu thì gây hậu họa cho nhân dân. Nền chính trị tốt hay xấu phụ thuộc vào chỗ dùng người, và mục đích chính trị sẽ quyết định việc dùng người của nền chính trị đó. Ông viết: “Họa phúc của nhân dân gốc ở nền chính trị; mà chính trị tốt hay xấu thì bắt BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH – GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ 26 đầu ở chỗ dùng người. Nếu chính trị nhằm làm cho nước lợi dân giàu thì lối dùng người sẽ là công; dùng người công chính thì tài trí sẽ được phát huy, mọi việc thực hành được chu tất; nếu chính trị dùng vào tư lợi cá nhân, thì lối dùng người ắt là tư; dùng người là thiên tư thì hối lộ nảy sinh, kỷ cương rối loạn” [2, tr.479-482]. Nhận thức đúng đắn về quyền quyết định của nhân dân đối với thể chế, nên ông cho rằng việc lựa chọn nền chính trị dân chủ hay quân chủ do nhân dân tự quyết. Ông viết: “Sau khi đã khôi phục sơn hà rồi, thì quân chủ hay dân chủ nhứt nhứt tuỳ theo ý quốc dân, đảng thiếu niên không nên chủ trì bên nào cả” [2, tr.692]. Điều đó, cho thấy, trong tư tưởng Phan Châu Trinh mọi ý đồ chính trị đều tập trung vào ích nước, lợi dân, mưu cầu một xã hội tốt đẹp cho dân tộc. Sau này, khi phong trào cách mạng tư sản chưa đạt được những kết quả mong đợi, trong lúc đó phong trào cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ. Ở Pháp, Đảng Cộng sản ra đời (1920), Nguyễn Ái Quốc (thành viên của nhóm Ngũ Long: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh) tham gia sáng lập và đi theo phong trào cộng sản quốc tế. Sự kiện ấy, có ảnh hưởng nhất định đối với các thành viên của nhóm Ngũ Long. Những năm 1920, phong trào cách mạng vô sản cũng đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công đã làm rung động châu Âu. Từ những tác động ấy, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có những chuyển biến nhất định. Mặc dù, ông chưa có ý đồ chuyển hướng cách mạng vô sản nhưng ông đã nghiên cứu và đến gần tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại Pháp, ông bắt đầu nghiên cứu, có những nhận thức và cảm tình nhất định với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong bức thư gửi cho Nguyễn Ái Quốc năm 1922, Phan Châu Trinh đã nói về chủ nghĩa Mác - Lênin [2, tr.787-794]. Mặc dù đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Phan Châu Trinh chỉ dừng lại với tư cách là một người cách mạng dân chủ tư sản có cảm tình với chủ nghĩa Mác - Lênin, chứ chưa nhận thức đầy đủ phạm trù cách mạng vô sản. Trong lúc đó, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin và tìm thấy được con đường cách mạng vô sản. Cho nên, có thể nói Phan Châu Trinh mới đến gần chủ nghĩa Mác - Lênin chứ chưa hoàn toàn nhận thức được bản chất của học thuyết cách mạng này, do hạn chế bởi những điều kiện lịch sử và nhận thức chi phối. Việc ông tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin đã đánh dấu một bước chuyển khá quan trọng trong quá trình phát triển tư tưởng chính trị của ông. Từ chỗ nhận thức được hạn chế của tư tưởng dân chủ tư sản, nên Phan Châu Trinh đã khuyên Nguyễn Ái Quốc cần phải thay đổi phương pháp hoạt động, theo chủ nghĩa Mác và về trong nước để hoạt động cách mạng. Ông viết: “Tôi khuyên anh thu xếp mà về, đem cái tài năng của mình khích động nhân tâm, hô hào đồng bào ba kỳ đồng tâm hiệp lực, để mà đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công” [2, tr.790]. Đối với bản thân, Phan Châu Trinh thấy mình trong cảnh “chim lồng cá chậu”, “hoa sắp tàn”, không còn con đường nào khác, nên gửi lời nhắn nhủ đến Nguyễn Ái Quốc rằng: “Bởi vậy tôi thành tâm mong mỏi anh thay đổi cái phương pháp cũ kỹ đi để mà mưu đồ đại sự” [2, tr.794]. Ông ý thức được “phương pháp cũ kỹ” của mình để từ đó rút ra kinh nghiệm cho thế hệ sau không dẫm lên con đường sai lầm. Nếu nói mỗi nhà tư tưởng PHẠM ĐÀO THỊNH 27 tiến bộ là một bước đi trong lịch sử của tư tưởng Việt Nam, thì Phan Châu Trinh là một bước đi khá tiến bộ, có tác dụng thúc đẩy lịch sử, tạo tiền đề cho những bước tiếp theo. Tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh được nhiều nhà tư tưởng đánh giá cao như là một sự thức tỉnh dân tộc, Hồ Chí Minh viết: “Năm 1926 có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa Phan Châu Trinh” [8, tr.20]. Từ bước chuyển tư tưởng của Phan Châu Trinh, có thể rút ra những giá trị và bài học lịch sử như sau: Thứ nhất, bước chuyển tư tưởng Phan Châu Trinh góp phần tạo nên quá trình chuyển biến ý thức hệ của dân tộc. Trước sự suy tàn của chế độ phong kiến, Phan Châu Trinh cùng các nhà tư tưởng đã kịch liệt phê phán tư tưởng phong kiến và từ bỏ nó để tạo nên hệ tư tưởng mới - tư tưởng dân chủ tư sản nhằm đi tìm con đường cách mạng cứu dân, cứu nước. Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nước ta cũng cần tiếp thu bài học của Phan Châu Trinh, đó là: từ bỏ những tư tưởng lạc hâu, bảo thủ, tiêu cực, tiếp thu những giá trị tinh hoa của thời đại nhằm chấn hưng dân tộc, kiên quyết, kiên trì giữ vững nền độc lập dân tộc. Thứ hai, khi dân tộc mất nước, thời đại đã thay đổi Phan Châu Trinh đã xây dựng một hệ thống quan điểm về cách mạng dân chủ tư sản: tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, những vấn đề dân chủ, nền chính trị, v.v... Trong giai đoạn hiện nay, với những biến đổi sâu sắc của thời đại và yêu cầu hội nhập quốc tế, chúng ta cũng cần xây dựng và đẩy mạnh thực hiện những nội dung mới như đổi mới toàn diện giáo dục, quan tâm hơn nữa vấn đề dân sinh, mở rộng và phát huy dân chủ, đổi mới, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước kiến tạo và phát triển. Thứ ba, tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Châu Trinh phản ánh tinh thần trách nhiệm của tầng lớp trí thức tiến bộ đối với một giai đoạn lịch sử tối tăm của dân tộc. Giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nước và thời đại, hơn lúc nào hết đội ngũ trí thức nước nhà cần phát huy hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc trước những vấn nạn như: vấn đề tham nhũng trong xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên, vấn đề biến đổi khí hậu, như Phan Châu Trinh đã từng kêu gọi trí thức: “Sao cho gắng chí, gắng công, Sao cho chẳng phụ con Rồng, cháu Tiên” [2, tr.184]. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng. 2. Nguyễn Văn Dương (2006), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 3. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 4. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (1997), Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Huỳnh Lý (1992), Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp, Nxb Đà Nẵng. 6. Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh (2003), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1, Nxb Đà Nẵng. 7. Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh) (2003), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, Nxb Đà Nẵng. 8. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ngày nhận bài: 17/3/2017 Biên tập xong: 15/4/2017 Duyệt đăng: 20/4/2017

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf83_7863_2215135.pdf
Tài liệu liên quan