Hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới - Nhìn từ thực tiễn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Tài liệu Hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới - Nhìn từ thực tiễn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 59 - Thaùng 7/2018 118 Hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới - Nhìn từ thực tiễn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu The New-Style Cooperative in National Target Program for New Rural Development (NTP-NRD) viewed from the reality of Ba Ria – Vung Tau Province Bùi Thị Oanh Trường Chính trị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Bui Thi Oanh Ba Ria – Vung Tau Academy of politics Tóm tắt Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đồng thời tích cực hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Để đáp ứng được yêu cầu này cần tăng cường hơn nữa công cuộc xây dựng nông thôn mới, trong đó, phát triển liên kết chuỗi giá trị của sản xuất nông nghiệp ở các hợp tác xã kiểu mới chính là “chìa khóa”. Quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt đầu từ năm 2010, đến nay đã thu được những thành tựu nhất định. Các hợp tác xã kiểu mới của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đẩy mạnh ch...

pdf10 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 29/01/2021 | Lượt xem: 67 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới - Nhìn từ thực tiễn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 59 - Thaùng 7/2018 118 Hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới - Nhìn từ thực tiễn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu The New-Style Cooperative in National Target Program for New Rural Development (NTP-NRD) viewed from the reality of Ba Ria – Vung Tau Province Bùi Thị Oanh Trường Chính trị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Bui Thi Oanh Ba Ria – Vung Tau Academy of politics Tóm tắt Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đồng thời tích cực hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Để đáp ứng được yêu cầu này cần tăng cường hơn nữa công cuộc xây dựng nông thôn mới, trong đó, phát triển liên kết chuỗi giá trị của sản xuất nông nghiệp ở các hợp tác xã kiểu mới chính là “chìa khóa”. Quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt đầu từ năm 2010, đến nay đã thu được những thành tựu nhất định. Các hợp tác xã kiểu mới của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đẩy mạnh chuỗi giá trị liên kết “4 nhà”, đưa đến sự hợp tác có hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tiễn, mô hình liên kết hợp tác xã kiểu mới vẫn còn nhiều bất cập, chưa đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Đó cũng là thực trạng chung của nhiều địa phương khác, đang đặt ra một bài toán khó cho toàn bộ ngành nông nghiệp và các chương trình phát triển nông thôn hiện nay. Từ khóa: chương trình xây dựng nông thôn mới, hợp tác xã kiểu mới, nông thôn mới tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chuỗi giá trị liên kết. Abstract Vietnam is boosting the process of industrialization and modernization in the fields of agriculture and rural development while promoting deep and wide integration into the global economy. In that context, the value chain development in agricultural production in line with new-style cooperative model is considered as an important “key" to the success of NTP-NRD. The construction process of the new rural community in Ba Ria - Vung Tau province, which started in 2010, has achieved initial results so far. Such new-style cooperatives have boosted the value chain of “4 partners” link, resulting in a very effective cooperation. However, in reality, this new-style cooperative model has still revealed some disadvantages and failed to bring sustainable development. This is a common situation for other provinces nationwide, posing a difficult problem for the entire agricultural sector and the current rural development programs. Keywords: National Target Program on New Rural Development (NTP-NRD), the new-style cooperative, the new rural of Ba Ria - Vung Tau, the value chain. Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp mà nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới có vai trò quan trọng, được Đảng và Nhà nước quan tâm, khuyến khích. Các hợp tác xã nông nghiệp có vai trò thiết yếu trong việc định hướng, hỗ trợ và dẫn dắt kinh tế hộ nông dân phát triển, đặc biệt tạo ra các chuỗi liên kết sản phẩm hiệu quả giữa khu vực sản xuất với BÙI THỊ OANH 119 doanh nghiệp, thị trường, thúc đẩy sức cạnh tranh hàng hóa và chuỗi giá trị nông sản. Với phương châm “chung sức cùng thành công”, mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 đã thực sự đi vào cuộc sống, thúc đẩy sự phát triển về số lượng và chất lượng, hoạt động có hiệu quả, khẳng định được uy tín và vị thế trên thương trường. Sau 5 năm triển khai Luật Hợp tác xã, nhiều mô hình hợp tác xã tốt đã ra đời và đi vào hoạt động, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho các thành viên như Hợp tác xã Evergrowth (Sóc Trăng), Hợp tác xã Quý Hiền (Lào Cai), Hợp tác xã Ỷ La (Tuyên Quang), Hợp tác xã An Nhứt (Bà Rịa – Vũng Tàu) Tuy nhiên, quá trình xây dựng các hợp tác xã kiểu mới với việc thúc đẩy chuỗi giá trị liên kết “4 nhà” vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, khiến cho mô hình này đến nay chưa phát huy hết tiềm năng của mình. Từ lý luận chung về hợp tác xã kiểu mới và sự liên kết chuỗi giá trị diễn ra trong đó, phân tích thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Bà Rịa – Vũng Tàu thời gian qua, rút ra những kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp là những nội dung mà nghiên cứu này muốn hướng tới. 1. Mô hình hợp tác xã kiểu mới trong xây dựng nông thôn mới Từ năm 1986 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã ba lần thông qua và ban hành Luật Hợp tác xã, đó là vào các năm 1996, 2003 và 2012 nhằm điều chỉnh những nội dung pháp luật về hợp tác xã để phù hợp với điều kiện cụ thể từng thời kỳ. Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích phát triển bền vững kinh tế hợp tác, nòng cốt là hợp tác xã với nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng; nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác hiệu quả”. Nhà nước ta đã xác định đúng đắn và kịp thời về hợp tác xã kiểu mới và xem đó là “khâu trọng yếu” mang tính “đột phá” trong xây dựng nông thôn mới. Nhận thức đó phù hợp với thực tiễn phát triển của kinh tế - xã hội đất nước trong thời kỳ mới cũng như thực tiễn phát triển của các hợp tác xã trên thế giới hơn một thế kỷ qua. Năm 1844, ở Anh đã ra đời hợp tác xã đầu tiên trên thế giới trong lĩnh vực ngành dệt. Sau đó 5 năm, Hội nguyên liệu (cũng là một hình thức hợp tác xã) được thành lập ở Đức để cung cấp các nguyên vật liệu cho các thợ mộc, thợ giày đang đứng trước nguy cơ phá sản vì sự cạnh tranh của các công ty. Các hợp tác xã đầu tiên này đã đảm bảo khâu cung cấp đầu vào với giá thấp nhưng chất lượng cho các thành viên, trong khi các thợ dệt, thợ giày, thợ mộc vẫn tiếp tục là các hộ sản xuất cá thể. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các hợp tác xã đảm bảo cung cấp giống, phân bón, thức ăn.., giá rẻ cho các hộ thành viên của hợp tác xã. Các hợp tác xã còn có thể đảm đương phần sửa chữa máy móc, xây dựng, bảo quản nông sản.., cho thành viên của mình. Khảo sát lịch sử phát triển của hợp tác xã trên thế giới cũng cho thấy, các mô hình hợp tác xã của Việt Nam trong các Luật hợp tác xã 1996, 2003 và trước 2012 đã cơ bản phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước trong tiến trình đổi mới. Vì vậy, “Luật hợp tác xã năm 2012 của Việt Nam thực chất thể hiện sự thay đổi căn bản nhận thức của chúng ta về bản chất và vai trò của hợp tác xã, phù hợp với sự phát triển hợp tác xã trên thế giới hơn 150 năm qua” [6; tr.24]. Theo Luật hợp tác xã năm 2012, các hợp tác xã hoạt động như một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cho thành viên hợp tác xã, còn việc trồng cây, chăn nuôi là việc của các thành viên hợp tác xã [1; tr.24]. Nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, về cơ bản có năm hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp của nông dân Việt Nam như sau [6; tr.31-37]: HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - NHÌN TỪ THỰC TIỄN CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 120 (1) Hộ nông dân không liên kết: Mua đầu vào Bán đầu ra Giống Thiết bị Phân bón Thuốc bảo vệ thực vật Công nghệ mới... (2) Hộ nông dân làm thuê cho doanh nghiệp: Thị trường đầu vào Thị trường đầu ra (3) Hộ nông dân liên kết thành hợp tác xã: Thị trường đầu vào Thị trường đầu ra (4) Hộ nông dân liên kết qua hợp tác xã và hợp tác xã liên kết qua thành lập Liên hiệp hợp tác xã tiêu thụ sản phẩm và cung cấp đầu vào cho hợp tác xã: Thị trường đầu vào Thị trường đầu ra Thị trường đầu vào Thị trường đầu ra Doanh nghiệp Hộ nông dân... Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 1 Hộ nông dân 3 Liên hiệp hợp tác xã Hộ nông dân.. Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 1 Hợp tác xã 1 Hộ nông dân 1 Hộ nông dân 1 Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 2 Hộ nông dân.. Hộ nông dân.. Hợp tác xã 2 Hợp tác xã 3... Hợp tác xã Hộ nông dân... Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 1 Hộ nông dân 3 Các doanh nghiệp cung cấp đầu vào (1) Trung gian mua nông sản (3) Hộ nông dân sản xuất (2) BÙI THỊ OANH 121 (5) Hộ nông dân liên kết qua hợp tác xã và hợp tác xã hợp đồng tương đối ổn định với doanh nghiệp để mua đầu vào và tiêu thụ sản phẩm: Theo đó, GS Nguyễn Thiện Nhân cũng ước lượng khả năng phát triển các loại hình hộ nông dân sản xuất trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam vào năm 2015 như sau: Thành tựu phát triển các hợp tác xã kiểu mới được thể hiện qua các con số như sau: tính đến hết năm 2016, toàn quốc có hơn 19.500 hợp tác xã, tăng khoảng 3,07% so với thời điểm cuối năm 2013; thu hút trên 6,2 triệu thành viên tham gia. Trong giai đoạn này, khoảng 5.600 hợp tác xã được thành lập mới và 4.800 hợp tác xã đã giải thể. Tổng số hợp tác xã phải tiến hành chuyển đổi theo Luật là 15.606 hợp tác xã; Doanh nghiệp đầu vào HTX Hộ nông dân 1 Doanh nghiệp đầu ra HTX Thị trường đầu vào Thị trường đầu ra Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 3 Hộ nông dân... Hộ nông dân 1 Hộ nông dân 2 Hộ nông dân 3 Hộ nông dân... 1 3 4 5 2 Hộ cá thể không liên kết Hộ liên kết qua hợp tác xã 12 triệu hộ nông dân là chủ đất (hoặc có quyền khai thác mặt nước) Hộ làm thuê cho doanh nghiệp Hộ liên kết qua hợp tác xã Hộ liên kết qua hợp tác xã và Liên hiệp hợp tác xã 10% số hộ nôn g dân 25% số hộ nông dân không liên kết qua hợp tác xã 75% số hộ nông dân liên kết qua hợp tác xã 25% số hộ nông dân liên kết qua doanh nghiệp 15% 20% 45% 10% HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - NHÌN TỪ THỰC TIỄN CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 122 trong đó 13.094 hợp tác xã đã chuyển đổi và đăng ký lại (chiếm 83,9%), 338 hợp tác xã đã chuyển đổi sang loại hình tổ chức khác (chiếm 2,87%); chỉ còn khoảng 2.036 hợp tác xã (chiếm 13,23%) chưa tiến hành chuyển đổi theo Luật do còn vướng mắc về tài sản, công nợ... Doanh thu bình quân năm 2016 đạt trên 3 tỷ đồng/hợp tác xã, tăng 19,8% so với năm 2013; lãi bình quân tăng từ 155 triệu đồng/hợp tác xã năm 2013 lên 196,8 triệu đồng/hợp tác xã năm 2016. Thu nhập bình quân của một lao động thường xuyên trong hợp tác xã tăng từ 22,8 triệu đồng năm 2013 lên 31,3 triệu đồng năm 2016 [7]. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không chỉ dừng lại ở những con số đã nêu trên. Có thể thấy, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã thể hiện tư duy mới về mô hình hợp tác xã kiểu mới với nòng cốt là “hợp tác”, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với cơ chế thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Hợp tác xã kiểu mới không đơn giản là sự thay đổi “từ chức danh ông chủ nhiệm hợp tác xã thành chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc hợp tác xã, mà là sự thay đổi từ bản chất”; khẳng định kinh tế hộ gia đình không bị “thui chột, mất động lực” khi tham gia hợp tác xã mà hợp tác xã kiểu mới còn làm gia tăng giá trị kinh tế của hộ gia đình [1]. Vậy hợp tác xã kiểu cũ và hợp tác xã kiểu mới có điểm gì khác nhau? Trên website của Hội nông dân, tác giả Nguyễn Cao đã so sánh như sau [1]: Về đối tượng tham gia, trong hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, thành viên chỉ gồm các cá nhân. Trong hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, thành viên gồm cả cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân (người lao động, cán bộ, công chức, các hộ sản xuất kinh doanh, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế); cả người có ít vốn và người có nhiều vốn nếu có nhu cầu tự nguyện cùng nhau lập ra và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về hợp tác xã. Về sở hữu, trong hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, sở hữu cá nhân của người nông dân không được thừa nhận, sở hữu của các hộ gia đình bị xóa bỏ, chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất; người nông dân vào hợp tác xã phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu. Trong hợp tác xã kiểu mới, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân của thành viên được phân định rõ. Sở hữu tập thể (sở hữu của hợp tác xã) bao gồm các nguồn vốn tích lũy tái đầu tư, các tài sản do tập thể mua sắm để dùng cho hoạt động của hợp tác xã, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng và tài sản do nhà nước hoặc các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước tài trợ làm tài sản không chia và các quỹ không chia. Thành viên khi tham gia hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới không bắt buộc góp ruộng đất và các công cụ sản xuất, mà tiên quyết phải góp vốn theo quy định của Điều lệ Hợp tác xã. Suất vốn góp không hạn chế, song không được vượt quá 20% so với tổng số vốn góp của thành viên (vốn điều lệ của hợp tác xã). Vốn góp của thành viên được chia lãi hàng năm theo quy định của Điều lệ và được rút khi thành viên ra khỏi hợp tác xã. Trong các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất, trở thành người làm công theo sự điều hành của hợp tác xã nên tính hợp tác đích thực không còn. Trong các hợp tác xã kiểu mới, quan hệ giữa hợp tác BÙI THỊ OANH 123 xã và thành viên là quan hệ bình đẳng, thỏa thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh. Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, tự điều hành lao động của gia đình, tự quyết định bố trí sản xuất cây trồng, vật nuôi phù hợp với thế mạnh của từng hộ, tự mua vật tư để đầu tư vào sản xuất, thuê dịch vụ, bán sản phẩm làm ra theo nguyên tắc thuận mua vừa bán. Ở đó, ban quản trị hợp tác xã không can thiệp trực tiếp vào quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của hộ xã viên, không điều hành, chỉ huy từng khâu, từng việc hàng ngày như trước, mà chuyển sang làm dịch vụ theo yêu cầu của hộ gia đình. Trong các hợp tác xã kiểu cũ, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, hạch toán lỗ lãi, phân phối, giá cả.., đều theo sự chỉ huy của cơ quan quản lý cấp trên và theo kế hoạch của nhà nước. Trong các hợp tác xã kiểu mới, những trói buộc cứng nhắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã được tháo gỡ. Các hợp tác xã kiểu mới đã thực sự là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ có đầy đủ tư cách pháp nhân trong cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật như các doanh nghiệp, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên. Ở đây, Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của hợp tác xã, thực hiện chức năng quản lý thông qua việc ban hành pháp luật và các chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã. Trong các hợp tác xã kiểu cũ, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân, bao cấp, chủ yếu theo công lao động, việc phân phối theo vốn góp gần như không tồn tại (vì việc góp vốn chỉ mang tính hình thức). Phân phối như thế không khuyến khích được người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó với hợp tác xã và dành nhiều công sức cho kinh tế gia đình. Trong các hợp tác xã kiểu mới, hình thức phân phối được thể hiện trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi, theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ. Đây là động lực khuyến khích thành viên gắn bó với hợp tác xã. Trong quá trình phân phối, các hợp tác xã kiểu mới còn có thể tạo ra được các quỹ không chia. Những quỹ này, một mặt, để mở rộng sản xuất, kinh doanh; mặt khác, tạo nên nguồn phúc lợi công cộng để mọi thành viên trong hợp tác xã cùng hưởng; đó cũng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ thường bị giới hạn trong địa giới thôn hoặc liên thôn, xã hoặc liên xã và chủ yếu là canh tác nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập trung. Trong các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, quy mô và phạm vi hoạt động đã không còn bị giới hạn như trước. Mỗi hợp tác xã có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành khác nhau, không giới hạn địa giới hành chính. Ở đây, mô hình hợp tác xã linh hoạt, đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành, với nhiều trình độ phát triển, từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên, đến mở mang ngành nghề, vươn lên kinh doanh tổng hợp và hình thành các doanh nghiệp trực thuộc, từ hợp tác xã phát triển thành các liên hiệp hợp tác xã. Với những so sánh trên đây, bức tranh về các hợp tác xã kiểu mới đã được dựng lên một cách khái quát. Trong xu thế phát HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - NHÌN TỪ THỰC TIỄN CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 124 triển hiện nay, các hợp tác xã kiểu mới đã thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và đó là một “đòn bẩy” cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn. 2. Liên kết chuỗi giá trị trong các hợp tác xã kiểu mới Khái niệm “chuỗi giá trị” (Value chain) do Michael Porter khởi xướng vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Theo ông, đó là “một tập hợp các hoạt động để đưa một sản phẩm từ khái niệm đến khi đưa vào sử dụng và cả sau đó. Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc được phân phối giữa các doanh nghiệp khác nhau” [4]. Vai trò và sức mạnh của liên kết được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Những mô hình liên kết có hiệu quả phần lớn do các thành viên có chung mục tiêu, phương pháp, chính sách hành động đúng đắn và phải cùng có nghĩa vụ, quyền lợi theo mức độ về năng lực và hiệu quả do các thành viên đóng góp. Liên kết “4 nhà” thường được nói đến bao gồm Nhà nước, nhà sản xuất (nông dân), nhà kinh doanh và nhà khoa học, một hình thức liên kết thị trường, thông qua các chính sách giúp điều hòa mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên tham gia, đặc biệt khi nhu cầu và giá cả thị trường biến động mạnh. Liên kết bốn nhà trong hoạt động của hợp tác xã kiểu mới thời gian qua đã thực sự mang lại lợi ích cho các bên. Nhà nông dựa vào vốn, chính sách, pháp luật của Nhà nước (nhà quản lý) để sản xuất đúng hướng và có hiệu quả. Nhà quản lý cung cấp vốn thông qua ngân hàng, cung cấp thông tin, thị trường cho nông dân, có thể đứng ra tổ chức việc liên kết và đảm bảo cho sản xuất, kinh doanh đi đúng hướng, có hiệu quả. Nhà khoa học tạo ra giống, quy trình kỹ thuật và đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho người nông dân... Nhà doanh nghiệp thường là “mốc cuối cùng” trong chuỗi liên kết vì là khâu tiêu thụ sản phẩm và cũng có thể là “mốc khởi đầu” trong nhiều trường hợp. Với trí tuệ và sức mạnh tổng hợp của chuỗi liên kết “nhiều nhà”, hợp tác xã kiểu mới chắc chắn sẽ hạn chế được rủi ro và thất bại trong sản xuất. Liên kết không chỉ có lợi cho sản xuất của nông dân mà cho cả nhà doanh nghiệp và các chủ thể khác. Như vậy, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị là hướng đi bền vững giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân. Hình thức này đảm bảo cho các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm với nhau, điều tiết cung cầu thị trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp cũng là một giải pháp quan trọng của “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” được phê duyệt theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ. 3. Thực tiễn xây dựng hợp tác xã kiểu mới của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và những bài học kinh nghiệm Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp liên kết theo chuỗi đang là hướng đi mới giúp công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương đi vào thực chất, đạt được mục đích cốt lõi là nâng cao đời sống và thu nhập của người nông dân, nâng cao giá trị sản phẩm một cách bền vững. Với những ưu thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con người, tỉnh Bà Rịa – Vũng BÙI THỊ OANH 125 Tàu thời gian qua đã có những bước tiến quan trọng về xây dựng nông thôn mới, trong đó có liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng thương hiệu hàng hóa. Bà Rịa – Vũng Tàu chú trọng phát triển mô hình này theo hướng đầu tư nhiều về vốn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tính đến tháng 12/2017, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 106 hợp tác xã, trong đó có 71 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Nhiều hợp tác xã đã và đang thành công, đem lại hiệu quả kinh tế lớn với nhiều loại sản phẩm như: lúa gạo hợp tác xã (nông nghiệp An Nhứt, nông nghiệp Long Phượng, nông nghiệp Gò cát); hải sản tươi, khô hợp tác xã (thủy sản Quyết Thắng, thủy sản Đức thịnh, thủy sản Vĩnh Hưng); tôm thẻ, tôm sú (hợp tác xã nông nghiệp Quyết Thắng); nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu ta (hợp tác xã nông nghiệp Nhân Tâm); trái bơ (hợp tác xã nông nghiệp Thái Dương); thanh long ruột đỏ, ruột trắng (hợp tác xã nông nghiệp Hưng Thịnh); ca cao bột (hợp tác xã hữu cơ Bapula); socola (hợp tác xã nông nghiệp Xà Bang); trứng gia cầm (hợp tác xã nông nghiệp Tam Phước); hàu thịt (hợp tác xã thủy sản Thành Đạt); gà thịt (hợp tác xã nông nghiệp Long Hải); rau an toàn (hợp tác xã nông nghiệp Hải Phát, hợp tác xã rau an toàn Thắng Lợi) [3]. Nhờ sự liên kết chuỗi giá trị, các địa phương trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi kém hiệu quả sang những cây trồng, vật nuôi có giá trị, năng suất cao. Được sự hỗ trợ vốn từ các chương trình, dự án, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, các xã nông thôn mới của tỉnh đã dần chuyển đổi diện tích nhiều cây trồng già cỗi, năng suất thấp sang trồng những cây có giá trị kinh tế cao. Căn cứ vào điều kiện thực tế của mình, từng địa phương đã tập trung vào các sản phẩm mũi nhọn. Trong tương lai, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ từng bước hình thành các vùng trồng lúa, vùng cây lâm sản, vùng chăn nuôi gia súc.., với các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, cá thể tư nhân. Quá trình đó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu lao động, đồng thời tăng sản phẩm xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên, thực tế của Bà Rịa – Vũng Tàu hiện còn nhiều hạn chế: Tỉnh chưa có chính sách hữu hiệu để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý quy hoạch và thực hiện quy hoạch trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; sản xuất nông nghiệp còn mang tính manh mún, nhỏ lẻ thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa những người sản xuất, dẫn đến hạn chế liên kết giữa doanh nghiệp với người sản xuất, tạo ra sự bất hợp lý trong phân phối lợi ích giữa các khâu trong chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm; chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất nông phẩm hàng hóa, trong khi doanh nghiệp chính là nhân tố cốt lõi tham gia thúc đẩy sản xuất hàng hóa và đảm bảo tính ổn định cho đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp. Riêng kinh tế tập thể ở Bà Rịa – Vũng Tàu còn những hạn chế như: nhiều hợp tác xã chưa hoạt động hiệu quả thật sự, vốn điều lệ thấp, phương án sản xuất kinh doanh thiếu khả thi nên chưa thu hút được các hộ nông dân trên địa bàn tham gia; trong kinh doanh, giá cả vật tư đầu vào và đầu ra không ổn định, diễn biến theo chiều hướng bất lợi cho người sản xuất nông nghiệp, khó có điều kiện để phát triển bền vững và tích HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - NHÌN TỪ THỰC TIỄN CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 126 lũy để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; mối quan hệ giữa các thành viên trong việc tổ chức sản xuất của các hợp tác xã còn lỏng lẻo, thiếu bền vững; việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình liên kết “4 nhà” vẫn chưa chặt chẽ, các mối “liên kết dọc và ngang” hình thành và phát triển gặp nhiều khó khăn. Để thúc đẩy chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn của Tỉnh, các cơ quan quản lý, tư vấn, hỗ trợ hợp tác xã cần tập trung nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, người nông dân và doanh nghiệp tham gia liên kết, tập trung nguồn lực đầu tư, hỗ trợ tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các hợp tác xã về trình độ quản lý. Nhóm sản xuất cần được trang bị không chỉ kỹ thuật sản xuất mà còn cả kỹ năng quản trị kinh doanh, phối hợp tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, chính quyền và các cơ quan chức năng của Tỉnh cần có chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ việc liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản.., tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào chuỗi sản xuất, kinh doanh nông sản, tìm đầu ra cho sản phẩm và đẩy mạnh công tác quảng bá các sản phẩm đặc sản của ngành nông nghiệp, liên kết hình thành chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Các cơ quan chức năng cần phối hợp với các cấp chính quyền của Tỉnh để kiểm soát tốt chất lượng từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông, hỗ trợ cho các hợp tác xã nông nghiệp bảo đảm sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong chuỗi sản xuất, kinh doanh nông sản, an toàn lưu thông trên thị trường [3]. Khi thực hiện các giải pháp trên cần chú trọng vai trò của các hợp tác xã kiểu mới trong liên kết chuỗi giá trị. Hợp tác xã không chỉ sản xuất với nguyên liệu đầu vào mà cần tham gia chuỗi giá trị sản phẩm, góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm. Do đó, cần chuyên nghiệp hóa bộ máy quản lý hợp tác xã, vì đây là một doanh nghiệp hoạt động ở nhiều cấp độ thị trường: địa phương, khu vực, quốc gia hay quốc tế. Ở những cấp độ thị trường này, hợp tác xã luôn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có cơ cấu quản lý rất chuyên nghiệp. Hợp tác xã cần đáp ứng được những yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao của thị trường bán buôn, siêu thị và xuất khẩu. Quá trình liên kết các doanh nghiệp phải gắn với các tổ hợp tác, hợp tác xã ngay từ đầu để cùng xây dựng chuỗi giá trị gắn sản xuất với tiêu thụ. Các vùng nguyên liệu cần bảo đảm các khâu từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản cũng như sử dụng giống phù hợp điều kiện sinh thái của từng vùng và thị trường. Bên cạnh đó, không thể thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các chính sách khuyến khích liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ, tạo sự liên kết vững chắc giữa doanh nghiệp và nông dân, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Kết luận Có thể nói, đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn được xác định là một nước nông nghiệp, người dân sống chủ yếu ở vùng nông thôn với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông, nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: BÙI THỊ OANH 127 “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã. Hợp tác xã nông nghiệp là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông hưng thịnh. Hợp tác xã nông nghiệp giúp cho nhà nông đạt đến mục đích đã ích quốc lại lợi dân” (Trích trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Tấc đất, số ra ngày 11/4/1946). Khẳng định đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị cho sự nghiệp thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Các hợp tác xã kiểu mới phải được xây dựng từ tư duy mới, không áp đặt máy móc, không chạy theo thành tích, quan trọng nhất là phát huy nội lực, phát động rộng khắp trong nhân dân phong trào “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới” vì mục tiêu cuối cùng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh”. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Cao, Nhận thức đúng về hợp tác xã kiểu mới, /nhan-thuc- dung-ve-htx-kieu-moi, ngày 21/11/2017. 2. Nguyễn Đức Khiển (2014), Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội. 3. Nhật Nam, Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới: tác nhân tạo nên chuỗi giá trị liên kết cho nông sản, vungtau.gov.vn/hoat-dong-lmhtx-va-thanh- vien/-/view_content/content/37140/hop-tac- xa-nong-nghiep-kieu-moi-tac-nhan-tao-nen- chuoi-gia-tri-lien-ket-cho-nong-san, 30/3/2018. 4. Porter, M.E. (1985), Competitive Advantage, Free Press, New York. 5. Mai Văn Quyền, Liên kết “4 nhà” tạo “đường băng” để nông dân “cất cánh”, -nghiep-nong-thon/Lien-ket-quot4-nhaquot- tao-quotduong-bangquot-de-nong-dan- quotcat-canhquot.aspx, 6/2/2010. 6. Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2017), Những hợp tác xã kiểu mới điển hình giai đoạn 2014-2016, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 7. Chu Thanh Vân, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Muốn có hợp tác xã kiểu mới, cần phải có tư duy mới, vuong-dinh-hue-muon-co-hop-tac-xa-kieu-moi- can-phai-co-tu-duy-moi/, ngày 06-12-2017. Ngày nhận bài: 10/5/2018 Biên tập xong: 15/7/2018 Duyệt đăng: 20/7/2018

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf101_5192_2215006.pdf
Tài liệu liên quan