Đối tượng tác động của báo chí

Tài liệu Đối tượng tác động của báo chí: 32 Xã hội học số 4 (88), 2004 đối t−ợng tác động của báo chí Nguyễn Văn Dững Báo chí ngày càng có vai trò và đóng góp quan trọng vào sự phát triển xã hội. Việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cần quan tâm. Đối t−ợng và cơ chế tác động của báo chí là một trong những vấn đề cơ bản, cần thiết đ−ợc nhận thức một cách sáng rõ và cụ thể. Trong bài viết này, chúng tôi tham góp vào việc nhìn nhận đối t−ợng tác động của báo chí. Có một số ý kiến cho rằng, đối t−ợng tác động của báo chí là ý thức xã hội. Điều đó hoàn toàn đúng, nh−ng có lẽ ch−a xác đáng. Bởi ý thức xã hội là phạm trù của triết học đ−ợc dùng, đ−ợc hiểu trong sự đối lập với tồn tại xã hội. Mặt khác, phạm trù của triết học là phạm trù rộng nhất, chung nhất do đó nếu dùng để chỉ đối t−ợng tác động của báo chí có lẽ là ch−a thỏa đáng, vì nh− vậy trên thực tế, cũng ch−a xác định rõ ràng và cụ thể đ−ợc đối t−ợng tác động của báo chí với t− cách c...

pdf7 trang | Chia sẻ: honghanh66 | Ngày: 26/03/2018 | Lượt xem: 36 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đối tượng tác động của báo chí, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
32 Xã hội học số 4 (88), 2004 đối t−ợng tác động của báo chí Nguyễn Văn Dững Báo chí ngày càng có vai trò và đóng góp quan trọng vào sự phát triển xã hội. Việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cần quan tâm. Đối t−ợng và cơ chế tác động của báo chí là một trong những vấn đề cơ bản, cần thiết đ−ợc nhận thức một cách sáng rõ và cụ thể. Trong bài viết này, chúng tôi tham góp vào việc nhìn nhận đối t−ợng tác động của báo chí. Có một số ý kiến cho rằng, đối t−ợng tác động của báo chí là ý thức xã hội. Điều đó hoàn toàn đúng, nh−ng có lẽ ch−a xác đáng. Bởi ý thức xã hội là phạm trù của triết học đ−ợc dùng, đ−ợc hiểu trong sự đối lập với tồn tại xã hội. Mặt khác, phạm trù của triết học là phạm trù rộng nhất, chung nhất do đó nếu dùng để chỉ đối t−ợng tác động của báo chí có lẽ là ch−a thỏa đáng, vì nh− vậy trên thực tế, cũng ch−a xác định rõ ràng và cụ thể đ−ợc đối t−ợng tác động của báo chí với t− cách các kênh truyền thông đại chúng. Báo chí học là bộ môn khoa học ứng dụng, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội đang vận động. Hoạt động báo chí lại gắn liền trực tiếp với mọi trạng thái tinh thần thực tế và các tiến trình của xã hội vận động từng ngày. Do đó việc xác định cụ thể hơn về đối t−ợng tác động của báo chí là điều hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Theo chúng tôi, tr−ớc hết, đối t−ợng tác động của báo chí và truyền thông đại chúng là công chúng xã hội. Công chúng xã hội đ−ợc hiểu là quần thể dân c− rộng lớn chịu sự tác động và chi phối của các kênh truyền thông đại chúng, ở đó không phân biệt thành phần, giai cấp, lứa tuổi, trình độ... xét về mặt nhân khẩu học - xã hội. Hoặc có thể nói báo chí tác động vào ý thức của công chúng xã hội, tác động vào ý thức quần chúng. ý thức quần chúng là một trạng thái tinh thần thực tế, một dạng thức biểu hiện hàng ngày của ý thức xã hội. ý thức quần chúng là một hiện t−ợng phức tạp, phong phú, sinh động, bao gồm hàng loạt yếu tố cấu thành, bao gồm cả nhận thức, ý chí và tình cảm, cảm xúc và ấn t−ợng, động cơ, tâm lý Tuy nhiên, để nghiên cứu ý thức quần chúng với t− cách là đối t−ợng tác động của báo chí, có thể trừu t−ợng hóa một số những thành tố và giữ lại, mô tả một số thành tố liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ đang xem xét, nh−: thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức lịch sử - văn hóa và thành tố d− luận xã hội. Các thành tố này có thể đ−ợc mô tả bằng mô hình cấu trúc nh− sau: Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.org.vn Nguyễn Văn Dững 33 4 2323 Báo chí (Sự kiện , vấn đề thời sự) D− luận Xã hội ý thức lịch sử- văn hóa Nhân sinh quan Thế giới quan Mô hình ý thức quần chúng) Trong mô hình này, thế giới quan và nhân sinh quan là hai yếu tố hạt nhân của ý thức quần chúng (thế giới quan và nhân sinh quan đã đ−ợc triết học đề cập nhiều, xin không bàn thêm ở đây) - Tri thức lịch sử văn-hóa nh− là lớp vòng đệm, là tầng nấc trung gian truyền dẫn có vai trò thẩm định, so sánh, đối chiếu trong quá trình tiếp nhận các sự kiện, hiện t−ợng và vấn đề mới với những dữ liệu đ−ợc l−u giữ trong kho tàng tri thức lịch sử văn hóa của mỗi ng−ời, mỗi nhóm công chúng. Bất kỳ sự kiện hay tác nhân nào tr−ớc khi đ−ợc “phán quyết” ở thế giới quan, tr−ớc hết đều đ−ợc l−u giữ, thẩm định ở kho tàng tri thức lịch sử văn hóa. Trong trí thức lịch sử-văn hóa có hai loại thành tố rất đáng quan tâm : Sự kiện lịch sử và quan hệ (thái độ, đánh giá, quan niệm ) của con ng−ời đối với các sự kiện ấy. Có nghĩa là “sự kiện” và “quan hệ” là hai yếu tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định tạo nên giá trị, chất l−ợng nhận thức của ý thức quần chúng. Hai yếu tố này quy định giá trị nhận thức của con ng−ời, của nhóm công chúng về các sự kiện và vấn đề trong cuộc sống. Ai, hay nhóm công chúng nào có trình độ văn hóa cao, giao tiếp và tiếp nhận các sản phẩm văn hóa, truyền thông đại chúng nhiều thì kho tàng tri thức lịch sử - văn hóa dày dặn và phong phú. Và đó là điều kiện quan trọng để công chúng nhận thức, thẩm định nhanh, chính xác và chắc chắn những sự kiện mới tiếp nhận. Ng−ợc lại, việc tiếp thu, thẩm định sẽ chậm hơn. Nh− vậy có thể có hai khả năng khi phân tích tri thức lịch sử - văn hóa ở từng nhóm công chúng (hoặc ở mỗi ng−ời) cụ thể. Thứ nhất, trong ý thức quần chúng nếu thiếu Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.ac.vn Đối t−ợng tác động của báo chí 34 loại sự kiện mà họ cần, hoặc nhà tuyên truyền cần cung cấp mà họ ch−a có thì báo chí cần phải cung cấp thông in, dữ liệu cho họ. Đó là yếu tố tiền đề tạo nên hấp dẫn của tin tức. Điều này giải thích tại sao báo Anh ninh thế giới ra đời sau mà trong thời gian ngắn đã nhanh chóng tăng nhanh chỉ số phát hành và chiếm lĩnh đ−ợc công chúng. Bởi vì trong ý thức quần chúng nhân dân ta, các sự kiện và vấn đề chính trị trên thế giới lâu nay hầu nh− ch−a ai cung cấp, còn bỏ ngỏ, nh− các điệp vụ tình báo, các vụ bê bối chính trị n−ớc ngoài, v.v... Hoặc đặc san, phụ san của một số báo nh− báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh (Đặc san cuối tuần) sau khi cải tiến, tăng trang mở rộng diện thông tin, thêm mảng đề tài nào đó thì chỉ số phát hành tăng gấp đôi, gấp ba. Rõ ràng một trong những yếu tố tạo nên tính hấp dẫn của thông tin báo chí là nhanh chóng phát hiện và“lấp đầy”các khoảng trống trong nhận thức của công chúng mình. Thứ hai, trong ý thức quần chúng đã có những sự kiện nào đó, nh−ng nhận thức, thái độ, đánh giá, quan điểm (nh− trên gọi là quan hệ) của công chúng đối với những sự kiện ấy còn ch−a chuẩn xác, tức là ch−a phù hợp với hệ thống quan điểm chính trị hiện tại, thì cần thiết phải giúp họ điều chỉnh. Tức là báo chí phải phân tích, bình luận để điều chỉnh quan điểm, nhận thức, thái độ và hành vi của nhóm công chúng xã hội. Nh− vậy, mỗi khả năng diễn ra đòi hỏi báo chí có ph−ơng thức tác động thích hợp, thông tin hay giải thích, bình luận hoặc cả hai ph−ơng thức ấy. Do đó, đối với nhà báo, việc nhận thức đ−ợc, nắm đ−ợc tri thức lịch sử - văn hóa của công chúng mình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm kiếm, phát hiện đề tài, sự kiện và lựa chọn ph−ơng thức thông tin phù hợp, bởi đó là tiền đề tạo nên tính hấp dẫn của bài viết. Lịch sử và hiện tại trong nhận thức của ý thức quần chúng bao giờ cũng có những khoảng trống. Vấn đề là ở chỗ, ng−ời làm báo có phát hiện ra khoảng trống ấy hay không, và có ph−ơng thức đáp ứng phù hợp giúp họ lấp dần những khoảng trống và điều chỉnh mối quan hệ cho phù hợp với hiện tại và định h−ớng cho t−ơng lai hay không. Càng lấp dần những khoảng trống này, lại xuất hiện khoảng trống khác. Do đó, nhân dân ta có câu, “càng học càng thấy mình dốt". Báo chí là tấm g−ơng phản ánh hiện tại trong hơi ấm của quá khứ và h−ớng tới hình dáng của t−ơng lai. Nhà báo hiểu đ−ợc thấu đáo tri thức lịch sử văn hóa của công chúng mình, tức là hiểu đ−ợc nhóm công chúng - đối t−ợng cần lôi kéo và tập hợp, thuyết phục và tổ chức nhằm tham gia giải quyết các vấn đề đang đặt ra; hiểu đ−ợc nhân dân mình, là cơ sở thấm đẫm tính nhân văn, đạo lý của dân tộc, nhìn nhận đ−ợc hiện tại một cách sáng rõ và h−ớng tới t−ơng lai với một niềm tin cháy bỏng. Trong mô hình ý thức quần chúng trên đây, d− luận xã hội là yếu tố ngoài cùng, rất nhạy cảm và hỗn hợp. Đó là điểm tiếp xúc, nơi tiếp nhận của ý thức quần chúng đối với những sự kiện và vấn đề thời sự, những tác nhân hàng ngày. Nói là nhạy cảm và hỗn hợp, vì bất kỳ một tác nhân nào gây ra, tùy ở mức độ, phạm vi khác nhau, đều đ−ợc d− luận xã hội ghi nhận. Một sự kiện nào đó tác động vào d− luận xã hội sẽ có thể lần l−ợt gây ra phản ứng dây chuyền nh− sau : Sự kiện ấy đ−ợc d− luận xã hội tiếp nhận, chuyển vào thế giới quan thông qua màng thẩm thấu tri thức lịch sử văn hóa. Sự kiện ấy sẽ đ−ợc thẩm định, suy xét, so sánh ở tri thức lịch sử văn hóa. Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.org.vn Nguyễn Văn Dững 35 Cho nên, ai, hoặc nhóm công chúng nào, có kho tàng tri thức lịch sử văn hóa dày dặn và phong phú,nhất là lĩnh vực liên quan đến sự kiện, thì việc thẩm định, phán xét sẽ rất nhanh và chính xác. Nếu không, sẽ ng−ợc lại. Sự kiện này từ ý thức lịch sử văn hóa sau khi đ−ợc thẩm định, nhanh chóng chuyển vào thế giới quan để ra quyết định đồng tình hay phản đối, khen hay chê Sau khi thế giới quan ra quyết định, mệnh lệnh sẽ truyền qua nhân sinh quan để bộc lộ ra bên ngoài, cũng tại điểm d− luận xã hội để thể hiện thái độ, phản ứng xung quanh sự kiện và vấn đề ấy. Cho nên có thể khen, chê nh−ng mỗi ng−ời, mỗi nhóm công chúng (công nhân, nông dân, tri thức...) bộc lộ việc khen , chê khác nhau, biểu hiện thái độ không giống nhau. Cuộc “hành trình” này diễn ra rất nhanh, trong giây lát nh−ng theo qui trình, tuần tự với cơ chế phản ứng tâm - sinh lý linh hoạt trong trạng thái tâm lý, tâm thế cụ thể. Nh− vậy, từ sự phân tích trên đây, b−ớc đầu có thể rút ra mấy vấn đề có ý nghĩa đối với hoạt động báo chí và công tác t− t−ởng nói chung. 1. Muốn củng cố và xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan khoa học cho công chúng mình, nhân dân mình, tr−ớc hết phải cung cấp và làm giàu, làm phong phú thêm kho tàng tri thức lịch sử văn hóa của họ, không ngừng cung cấp thông tin, sự kiện và điều chỉnh mối quan hệ trong nhận thức của họ với các sự kiện và vấn đề lịch sử cũng nh− các sự kiện và vấn đề thời sự đang diễn ra. Đây cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn tạo nên khả năng miễn dịch t− t−ởng cho nhân dân. Không thể có khả năng miễn dịch t− t−ởng ở nhân dân nếu trong kho tàng tri thức lịch sử- văn hóa của họ đơn điệu, nghèo nàn các sự kiện, vấn đề lịch sử và hiện tại, không đ−ợc cung cấp ở mức cần và đủ. Và trong cuộc đấu tranh t− t−ởng hiện nay, chúng ta không cung cấp thông tin-dữ liệu th−ờng xuyên, phong phú, đa dạng, nhiều chiều cho nhân dân mình thì ngay lập tức thế lực khác sẽ tìm cách tác động, lôi kéo. Do đó, nghiên cứu công chúng-nhóm đối t−ợng trong hoạt động báo chí và công tác t− t−ởng đã trở thành nhu cầu có tính chất tiền đề cơ bản và đòi hỏi cấp thiết. 2. D− luận xã hội là điểm tiếp xúc nhạy cảm, bộ phận ngoài cùng của ý thức quần chúng, luôn tiếp nhận các sự kiện và vấn đề do báo chí (và các tác nhân khác) gây ra. Tuy nhiên, muốn tạo đ−ợc d− luận xã hội và đặc biệt là gây đ−ợc chấn động d− luận xã hội thì các sự kiện và vấn đề ấy phải liên quan mật thiết đến lợi ích của nhân dân, của số đông, đ−ợc nhân dân quan tâm hoặc chí ít là của một nhóm lớn công chúng nào đó. Mọi biểu hiện giật gân câu khách chỉ có tác động tức thời và càng làm cho tờ báo (hay ch−ơng trình phát thanh, truyền hình) xa rời công chúng. Nói cách khác, báo chí tác động vào ý thức quần chúng, tr−ớc hết là tác động vào d− luận xã hội. Mối quan hệ giữa báo chí và d− luận xã hội là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, nh− hình với bóng. Về mặt lịch sử, d− luận xã hội là hiện t−ợng xã hội đặc thù và khái niệm này trên bình diện khoa học, đã đ−ợc các nhà hoạt động chính trị - xã hội đề cập từ thế kỷ 12, và tr−ớc hết gắn liền với tên tuổi nhà văn, nhà hoạt động xã hội ng−ời Anh Jonsonberi vào năm 1159. Nh−ng mãi cuối thế kỷ 18, khái niệm d− luận xã hội mới bắt đầu đi vào đời sống báo chí hiện đại, lên ngôi từ cuối thế kỷ 19, rồi trở thành Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.ac.vn Đối t−ợng tác động của báo chí 36 trung tâm của sự chú ý vào thế kỷ XX và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc của mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội hôm nay. d− luận xã hội ngày càng tỏ rõ sức mạnh và hiệu quả trong việc tổ chức, quản lý và giám sát các tiến trình xã hội. Vai trò, vị thế xã hội của báo chí hiện đại phụ thuộc một phần quan trọng , có tính quyết định vào mối quan hệ tác động của nó với d− luận xã hội. D− luận xã hội có thể đ−ợc hiểu là một hiện t−ợng xã hội đặc thù, biểu thị thái độ phán xét, ý kiến đánh giá của quần chúng nhân dân đối với các sự kiện và vấn đề thời sự mà họ quan tâm. Đó là một trạng thái tinh thần thực tế, có thể đ−ợc biểu hiện đầy đủ ở thái độ, lời nói và đỉnh cao là hành vi. D− luận xã hội có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi con ng−ời và nhóm xã hội, vì nó nhận xét đánh giá trên cơ sở chuẩn mực xã hội; mặt khác, d− luận xã hội có thể tạo lập những chuẩn mực xã hội mới; d− luận xã hội cũng lại là môi sinh của hệ thống giá trị đạo đức và chuẩn mực xã hội. Đó là một hiện t−ợng rất nhạy bén, mẫn cảm, luôn biến động. Trong xã hội nguyên thủy, d− luận xã hội là công cụ quan trọng nhất dùng để tổ chức - quản lý xã hội, tức là cộng đồng dùng d− luận xã hội để định h−ớng và tự định h−ớng nhận thức, thái độ và hành vi của con ng−ời và các nhóm ng−ời trong sự phù hợp với sự phát triển. Xã hội càng phát triển, dân trí càng cao và dân chủ càng mở rộng thì vai trò và sức mạnh của d− luận xã hội càng đ−ợc phát huy. Ngày nay, d− luận xã hội đã và đang trở thành một ph−ơng thức, một công cụ dùng vào việc tổ chức, quản lý và giám sát xã hội có hiệu quả. 3. Trong mối quan hệ với d− luận xã hội, báo chí có những vai trò đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, là vai trò khơi nguồn, tức là năng lực xã hội hóa các sự kiện và vấn đề từ một góc phố làng quê, ở một không gian hẹp thành sự kiện và vấn đề toàn xã hội, thậm chí toàn cầu; và ng−ợc lại, báo chí có thể nhanh chóng, ngay lập tức đ−a các sự kiện và vấn đề trên khắp hành tinh về đến góc nhà của mỗi ng−ời. Đó là khả năng có thật của báo chí và truyền thông đại chúng. Do vậy, sự kiện, vấn đề nào liên quan mật thiết đến lợi ích công chúng và có lợi cho nhân dân, cho dân tộc và đất n−ớc, cho Đảng ta thì báo chí tích cực khơi nguồn để nó có thể nhanh chóng trở thành mối quan tâm của xã hội, thậm chí trở thành phong trào xã hội. Chẳng hạn, hơn tháng nay, báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh đã kiên trì khơi dậy, tổ chức phong trào “Ký tên vì công lý”, “Góp tay xoa dịu nỗi đau da cam”...không chỉ trên phạm vi cả n−ớc mà còn đ−ợc bạn bè khắp nơi ủng hộ, tham gia. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà báo trong việc lựa chọn sự kiện và vấn đề thông tin. Từ lâu, Pi-cát-xô đã đ−a ra bộ lọc lựa chọn sự kiện và vấn đề thông tin thông qua ba câu hỏi : Sự kiện có thật không ? thật rồi, nh−ng có hấp dẫn không? Hấp dẫn nh−ng có ích lợi gì không ? (Tức là thông tin sự kiện này, xã hội hóa vấn đề này sẽ đem lại lợi ích gì và cho ai) Thứ hai, báo chí và truyền thông đại chúng có vai trò phản ánh d− luận xã hội, phản ánh d− luận xã hội càng kịp thời, càng sâu sát và đầy đủ bao nhiêu thì báo chí càng sinh động và hấp dẫn bấy nhiêu. Tuy nhiên, phản ánh d− luận xã hội đòi hỏi nhà báo phải vừa nhạy cảm vừa tỉnh táo, có ph−ơng thức cụ thể để tránh khỏi rơi vào đơn điệu khô cứng, áp đặt hoặc tự nhiên chủ nghĩa. Thứ ba, báo chí và truyền thông đại chúng có vai trò định h−ớng và điều hòa d− luận xã hội, điều hoà Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.org.vn Nguyễn Văn Dững 37 tâm lý, tâm trạng xã hội. Đây là vai trò có ý nghĩa quyết định hiệu quả tác động của báo chí. Dù khơi nguồn, phản ánh nh− thế nào, cuối cùng báo chí cũng phải định h−ớng cho đ−ợc d− luận xã hội, tức là định h−ớng đ−ợc nhận thức, t− t−ởng của nhân dân. Vai trò khơi nguồn hay phản ánh đều chủ yếu nhằm vào việc định h−ớng d− luận xã hội, tức là h−ớng dẫn nhận thức cho công chúng, cho nhân dân. Định h−ớng không chỉ là yêu cầu của nhà báo, nhà truyền thông, mà còn là yêu cầu khách quan của công chúng cần thống nhất nhận thức, thái độ và hành vi, cần bình ổn đời sống tinh thần để khai thác, phát huy mọi nguồn lực vật chất xây dựng-phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống và chất l−ợng cuộc sống. Và thứ t−, cùng với d− luận xã hội và bằng d− luận xã hội, báo chí thực hiện chức năng giám sát xã hội. Nói báo chí tham gia giám sát xã hội, tức là giám sát bằng tai mắt của nhân dân. Cho nên trong xã hội ta, báo chí vừa là cơ quan ngôn luận, là công cụ thể hiện quyền lực chính trị của Đảng và Nhà n−ớc, vừa là diễn đàn dân chủ thể hiện quyền lực của nhân dân và là công cụ của nhân dân giám sát mọi tiến trình kinh tế-xã hội, góp phần làm lành mạnh hóa các mối quan hệ. Ơ đâu và khi nào tiến trình dân chủ đ−ợc mở rộng(dân chủ cơ sở - tr−ớc hết là dân chủ về kinh tế, tài chính!), vai trò giám sát của báo chí đ−ợc phát huy thì ở đó tiêu cực đ−ợc đẩy lùi, đ−ợc ngăn chặn 4. Từ nhận thức trên đây, có thể coi d− luận xã hội là đối tác của báo chí Khái niệm đối tác, thoạt đầu đ−ợc dùng trong hoạt động kinh tế - đặc biệt là kinh tế thị tr−ờng. Ngày nay, khái nệm đối tác đ−ợc dùng rộng rãi trong hoạt động chính trị và các lĩnh vực hoạt động khác. Trong lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại, d− luận xã hội d− luận xã hội đ−ợc nhìn nhận nh− đối tác của báo chí để chỉ mối quan hệ gắn bó, tác động chặt chẽ của hai hiện t−ợng này. Một mặt, d− luận xã hội là đối t−ợng tác động, đối t−ợng phản ánh, đối t−ợng điều chỉnh của báo chí; mặt khác, d− luận xã hội là nguồn dữ liệu phong phú vô tận của báo chí. Nói cách khác, báo chí định h−ớng d− luận xã hội, h−ớng dẫn nhận thức của quần chúng chủ yếu bằng chính các sự kiện, vấn đề của cuộc sống. Càng gắn chặt với d− luận xã hội, phản ánh đầy đủ diện mạo d− luận xã hội thì báo chí càng sinh động và hấp dẫn. Đồng thời, báo chí (báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng internet và các loại hình báo điện tử khác) là những kênh truyền dẫn, những kênh phát tán, là ph−ơng tiện thể hiện mức mạnh chủ yếu và th−ờng xuyên của d− luận xã hội. Do đó, việc nghiên cứu, nắm bắt d− luận xã hội có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà báo. Trong các tác phẩm “ý kiến báo chí và ý kiến nhân dân”, “Hệ t− t−ởng Đức”, “D− luận xã hội n−ớc Anh”, C.Mác và F.Ănghen đã hơn một lần khẳng định vai trò to lớn của d− luận xã hội. Bởi vì theo C.Mác, d− luận xã hội là d− luận của nhân dân; sự tiến bộ to lớn của d− luận xã hội là tiền đề của các biến đổi xã hội; rằng "Sản phẩm của truyền thông là d− luận xã hội...". 5. Nghị quyết Trung −ơng 6 (lần 2) khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của mình, đã khẳng định vai trò giám sát xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng. Nói báo chí và truyền thông đại chúng là một trong 4 hệ thống giám sát xã hội, tức là giám sát bằng d− luận xã hội, bằng tai mắt của nhân dân, là kênh giám sát của nhân dân, thông qua báo chí để nhân dân Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.ac.vn Đối t−ợng tác động của báo chí 38 tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đất n−ớc, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Theo tinh thần Nghị quyết Trung −ơng 6 (lần 2), Đảng và Nhà n−ớc ta ngày càng quan tâm giải quyết có hiệu quả những vấn đề mà báo chí nêu ra. Mặt khác, cũng theo tinh thần đó, đòi hỏi báo chí ngày càng nâng cao trách nhiệm xã hội và năng lực phản ánh thực tiễn, năng lực vai trò khơi nguồn d− luận xã hội, phản ánh và định h−ớng d− luận xã hội, h−ớng dẫn nhận thức của nhân dân. Vai trò giám sát của báo chí và truyền thông đại chúng phụ thuộc vào tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, phụ thuộc vào trình độ văn hóa của c− dân và môi tr−ờng pháp lý. Hiệu quả giám sát này vừa phụ thuộc vừa thúc đẩy quá trình xây dựng nhà n−ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hay nói cách khác, hiệu quả giám sát xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng theo tinh thần Nghị quyết Trung −ơng 6 (lần 2) quan hệ chặt chẽ, mật thiết với năng lực lãnh đạo của các cấp bộ đảng và năng lực quản lý của các cấp chính quyền cũng nh− vai trò, vị thế xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng đất n−ớc, trong đấu tranh làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế- xã hội. Thái độ và trách nhiệm đối với những vấn đề báo chí nêu ra vừa thể hiện trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, vừa thể hiện văn hóa chính trị của cán bộ công chức trong bộ máy công quyền. Từ những luận điểm trên đây, có thể thấy rằng với t− cách là đối tác của hoạt động báo chí, d− luận xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng mà nếu hiểu và nắm bắt đ−ợc nó, sẽ không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí. Muốn hiểu đ−ợc đối tác của mình - d− luận xã hội, thì cần phải không ngừng nghiên cứu, nắm bắt d− luận xã hội. Nghiên cứu d− luận xã hội gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu công chúng. Tuy nhiên, nội dung và ph−ơng pháp nghiên cứu d− luận xã hội có những yêu cầu đặc thù, bởi đó là hiện t−ợng rất phong phú và linh hoạt. Nhà báo và cơ quan báo chí nên chú tâm và định kỳ hoặc đột xuất nghiên cứu d− luận xã hội. Muốn nghiên cứu có kết quả, cần có đội ngũ, có công cụ và kinh phí cho việc nghiên cứu. Thậm chí cần thiết thành lập trung tâm nghiên cứu d− luận xã hội ứng dụng ngay tại cơ quan báo chí. ở nhiều cơ quan báo chí lớn trên thế giới đều có trung tâm nghiên cứu d− luận xã hội của riêng mình. Nghiên cứu d− luận xã hội và công chúng cần phải trở thành nhu cầu tự thân, bắt buộc đối với cơ quan báo chí và nhà báo. Chủ động sử dụng các ph−ơng pháp công cụ để nghiên cứu sâu hơn các vấn đề kinh tế - xã hội, nghiên cứu d− luận xã hội và công chúng sẽ là cơ sở khoa học - thực tiễn để nâng cao chất l−ợng ch−ơng trình và các ấn phẩm truyền thông đại chúng, nâng cao năng lực phản ánh có tính nghiên cứu - dự báo xã hội của báo chí tr−ớc sự đòi hỏi của công chúng và lịch sử. Đó cũng là một trong những giải pháp cơ bản nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí và các ph−ơng tiện truyền thông đại chúng hiện nay. Bản quyền thuộc Viện Xó hội học. www.ios.org.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfso4_2004_nguyenvandung_769.pdf