Đổi mới giáo trình lí Luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XIX - Đỗ Văn Hiểu

Tài liệu Đổi mới giáo trình lí Luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XIX - Đỗ Văn Hiểu: JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2018-0004 Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 1, pp. 27-33 This paper is available online at ĐỔI MỚI GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC TRUNG QUỐC ĐẦU THẾ KỈ XIX Đỗ Văn Hiểu Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt. Sang thế kỉ XIX, đời sống kinh tế văn hóa xã hội ở Trung Quốc có những biến chuyển rõ rệt, kinh tế thị trường, xã hội tiêu dùng, phương tiện truyền thông hiện đại phát triển. . . đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sáng tạo văn học, đến tâm lí tiếp nhận văn học, học tập lí luận văn học của học sinh sinh viên. Lúc này, giáo trình lí luận văn học cũ đã bộc lộ những hạn chế, kiến thức lí luận trong giáo trình đã không thể giúp học sinh sinh viên lí giải được một số hiện tượng văn học mới xuất hiện. Trước tình hình đó, giới nghiên cứu giảng dạy ở Trung Quốc đã tiến hành tìm tòi đổi mới giáo trình lí luận văn học từ phương diện quan niệm viết giáo trình đến cấu trúc và hàm lượng kiến thức cụ thể. Bài viết này gi...

pdf7 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 23/01/2021 | Lượt xem: 85 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đổi mới giáo trình lí Luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XIX - Đỗ Văn Hiểu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2018-0004 Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 1, pp. 27-33 This paper is available online at ĐỔI MỚI GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC TRUNG QUỐC ĐẦU THẾ KỈ XIX Đỗ Văn Hiểu Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt. Sang thế kỉ XIX, đời sống kinh tế văn hóa xã hội ở Trung Quốc có những biến chuyển rõ rệt, kinh tế thị trường, xã hội tiêu dùng, phương tiện truyền thông hiện đại phát triển. . . đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sáng tạo văn học, đến tâm lí tiếp nhận văn học, học tập lí luận văn học của học sinh sinh viên. Lúc này, giáo trình lí luận văn học cũ đã bộc lộ những hạn chế, kiến thức lí luận trong giáo trình đã không thể giúp học sinh sinh viên lí giải được một số hiện tượng văn học mới xuất hiện. Trước tình hình đó, giới nghiên cứu giảng dạy ở Trung Quốc đã tiến hành tìm tòi đổi mới giáo trình lí luận văn học từ phương diện quan niệm viết giáo trình đến cấu trúc và hàm lượng kiến thức cụ thể. Bài viết này giới thiệu một số cuốn giáo trình lí luận văn học tiêu biểu cho những hướng đổi mới giáo trình cơ bản ở Trung Quốc đầu thế kỉ XIX với mục đích nhằm tìm kiếm những gợi ý cho đổi mới giáo trình lí luận văn học ở Việt Nam hiện nay, đó là cuốn giáo trình của Nam Phàm, Đào Đông Phong, Vương Nhất Xuyên, Đồng Khánh Bính. Từ khóa: Lí luận văn học, Giáo trình, Việt Nam, Trung Quốc. 1. Mở đầu Bộ môn lí luận văn học có vai trò quan trọng trong đào tạo sinh viên chuyên ngành văn học ở Trung Quốc. Bước sang thế kỉ XIX, trước những yêu cầu của thế kỉ mới, hoạt động đổi mới biên soạn giáo trình diễn ra tương đối sôi động. “Công việc biên soạn và chỉnh sửa giáo trình lí luận văn học của Trung Quốc đại lục tính từ năm 1920 đến nay đã có hơn 90 năm lịch sử phát triển. Đặc biệt là từ năm 2000, công tác biên soạn và chỉnh sửa giáo trình lí luận văn học vô cùng sôi động, nội dung giáo trình, cách thức biên soạn, cơ chế xuất bản giáo trình. . . đều thể hiện trạng thái đa nguyên hóa, theo người viết thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2000 đến 2011 đã xuất bản hơn 79 bộ giáo trình lí luận văn học” [4;106]. Tuy nhiên, tình trạng “đại đồng tiểu dị” vẫn phổ biến trong biên soạn giáo trình ở Trung Quốc. Trong số những bộ giáo trình đó đáng chú ý nhất là: Lí luận văn học (bản mới) (2002) do Nam Phàm chủ biên, Lí luận văn học (2003, chỉnh sửa năm 2011) của Vương Nhất Xuyên, Vấn đề cơ bản của lí luận văn học (2004, tái bản năm 2005, 2007, chỉnh sửa năm 2012) do Đào Đông Phong chủ biên, Lí luận văn học tân biên (2010, tái bản sửa chữa 3 lần trong 1 năm) và Tân biên lí luận văn học (2011) do Đồng Khánh Bính chủ biên. Bài viết tập trung phân tích tư tưởng biên soạn giáo trình, khung tri thức, cách thức biên soạn của các bộ giáo trình trên, đồng thời đánh giá từ góc độ yêu cầu đổi mới của lí luận văn học nói chung cũng như đặc thù của một môn học trong nhà trường. Ngày nhận bài: 15/3/2017. Ngày sửa bài: 20/8/2017. Ngày nhận đăng: 20/10/2018. Liên hệ: Đỗ Văn Hiểu, e-mail: dovanhieu@hnue.edu.vn/ dovanhieu@hotmail.com. 27 Đỗ Văn Hiểu 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Lí luận văn học (bản mới) (2002) do Nam Phàm chủ biên Ở Trung Quốc trước thời kì đổi mới, lí luận văn học thiên sang nghiên cứu văn học trong quan hệ với chính trị, thì sau thời kì đổi mới lại nghiêng sang nghiên cứu nội tại, chú trọng vấn đề tính thẩm mĩ. Từ những năm 90, ở Trung Quốc tồn tại song song quan niệm văn học có tính độc lập, tính thẩm mĩ thuần túy và quan niệm cần phải đặt văn học trong bối cảnh lịch sử văn hóa. Sang thế kỉ mới Nam Phàm ý thức rất rõ về yêu cầu cần phải đổi mới giáo trình lí luận văn học để đáp ứng nhu cầu của thời đại, ông viết: “Từ thập niên 90, văn hóa hậu hiện đại và bối cảnh toàn cầu hóa mang đến không gian lí luận lớn hơn cho vấn đề văn học, lúc này, mô hình lí luận văn học truyền thống đã không đủ đáp ứng nữa, hệ thống mới của lí luận văn học phải được khảo sát và định vị lại trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại” [5, 2]. Ông muốn giải quyết mâu thuẫn giữa quan niệm văn học có tính thẩm mĩ thuần túy và quan niệm văn học gắn với bối cảnh lịch sử văn hóa, đồng thời cũng muốn thay thế mô hình cũ về quan hệ giữa văn học và chính trị bằng mô hình quan hệ giữa văn học và văn hóa, muốn đưa vào giáo trình những thành tựu lí luận văn học mới nhất của phương Tây, cố gắng kết hợp giữa lí luận văn học phương Tây hiện đại với văn luận truyền thống Trung Quốc. Với chủ trương đó, ông đã tổ chức giáo trình thành 4 phần với 27 chương. Phần 1 “Sự cấu thành của văn học”, thể hiện tư tưởng nghiên cứu nội tại văn bản văn học, gồm các chương: Tái hiện văn học, Diễn ngôn văn học, Nhà văn, Văn bản, Thể loại, Diễn ngôn tự sự, Diễn ngôn trữ tình, Tu từ, Phương tiện truyền thông. Phần 2 “Lịch sử và lí luận”, nghiên cứu hình thái lịch sử của văn học, thể hiện quan niệm tiêu chuẩn bình giá văn học không ngừng thay dổi trong lịch sử, gồm các chương sau: Nguồn gốc của văn học, Kinh điển, Văn học đại chúng, Chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa hiện đại, Chủ nghĩa hậu hiện đại. Phần 3 Văn học và văn hóa, nghiêng sang hướng nghiên cứu văn hóa, gồm các chương sau: Văn học và hình thái ý thức, Văn học và lịch sử, Văn học và xã hội, Văn học và đạo đức, Văn học và tư tưởng, Văn học và giới tính. Phần 4 “Phê bình và diễn giải”, chủ yếu là giới thiệu phương pháp phê bình ba lần chuyển đổi trọng tâm tác giả, tác phẩm, độc giả trong lí luận văn học phương tây, bao gồm các chương: Chức năng của phê bình văn học, Phê bình văn học và truyền thống nhà văn trung tâm, Phê bình văn học và nghiên cứu tác phẩm, Phê bình văn học và lí luận tiếp nhận, Phê bình văn học và nghiên cứu văn hóa. Trong bộ giáo trình này Nam Phàm đã coi phân tích diễn ngôn là tiêu điểm của lí luận văn học, lí luận văn học thông qua phân tích diễn ngôn để thấy được diễn ngôn đã tạo ra hiệu quả gì và làm thế nào để phát huy hiệu quả đó. Ông sử dụng phân tích diễn ngôn để xử lí mâu thuẫn giữa nghiên cứu nội tại văn bản văn học và nghiên cứu các mối liên hệ ngoài văn bản văn học. Có thể thấy ông đi từ phân tích diễn ngôn đến phân tích các quan hệ giữa văn học với lịch sử xã hội, và khuynh hướng chủ yếu của giáo trình vẫn là chú trọng phân tích lịch sử xã hội văn học trong lí luận văn học – một khuynh hướng chủ đạo trong lí luận văn học phương tây hiện đại. Khi chọn diễn ngôn làm tiêu điểm để xây dựng lí luận, Nam Phàm đã không hứng thú với việc trả lời theo kiểu chủ nghĩa bản chất cho câu hỏi “văn học là gì” nữa, mà hứng thú với tính lịch sử của tồn tại văn học, thậm chí ông hướng theo quan niệm của Eagleton: văn học bất kì một tác phẩm nào được xã hội trong một giai đoạn nhất định cho rằng nó là văn học. Xuất phát từ tính văn học rồi hướng tới coi trọng phân tích lịch sử xã hội vốn là dòng chính trong lí luận văn học phương tây hiện đại, do đó, khi thiết kế giáo trình như trên, Nam Phàm đã thể hiện rõ dụng ý muốn cập nhật những thành tựu lí luận văn học mới nhất của phương Tây. Mặc dù cố gắng đổi mới tư duy biên soạn giáo trình, nhưng trên thực tế, bộ giáo trình xuất 28 Đổi mới giáo trình lí luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XXI bản năm 2002 này cũng có những hạn chế. Mặc dù hướng tới xây dựng một hệ thống lí luận mở, nhưng trên thực tế lại chỉ là một sự “trưng bày” lí luận hiện đại phương Tây. Không những thế, nỗ lực xây dựng hệ hình lí luận văn học hậu hiện đại dựa trên sự kết hợp giữa lí thuyết phương Tây và văn luận truyền thống Trung Quốc là điều vô cùng khó khăn, bởi vì tiến trình lí luận văn học ở Trung Quốc và phương Tây rất khác nhau. Nam Phàm đã cố gắng chỉnh hợp những đặc trưng phi thống nhất của lí luận văn học hậu hiện đại bằng tư duy hiện đại. Giáo trình lí luận văn học phương Tây thường được triển khai theo các trường phái, từ bỏ trường phái này, lựa chọn trường phái kia. Còn giáo trình lí luận văn học của Trung Quốc nói chung, cuốn giáo trình do Nam Phàm chủ biên nói riêng lại cố gắng đi tìm những thuộc tính phổ biến và quy luật phổ biến của các hiện tượng văn học trong nước và thế giới từ cổ chí kim. Tư duy biên soạn giáo trình lí luận văn học cũ của Trung Quốc thường bắt đầu từ một định nghĩa nào đó, coi định nghĩa đó đúng cho mọi hiện tượng văn học trong các thời điểm lịch sử khác nhau, thuộc các không gian khác nhau. Kiểu tư duy biên soạn giáo trình này thoát li thực tế văn học, khiến sinh viên lúng túng khi giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn đương thời. Kết hợp tư duy biên soạn giáo trình lí luận của phương Tây và Trung Quốc gặp không ít khó khăn. Nam Phàm mặc dù đã từ bỏ định nghĩa theo kiểu chủ nghĩa bản chất trong những khía cạnh cụ thể như “văn học là gì”, “lí luận văn học là gì”, nhưng trên cấp độ hệ thống, tư duy bản chất chủ nghĩa vẫn còn khá rõ rệt. Nhìn chung, giáo trình của Nam Phàm dưới ảnh hưởng của xu hướng tư duy phản bản chất chủ nghĩa đã có được một số thành tựu nhất định, nhưng không có nghĩa là đã xóa bỏ được xung đột giữa các hệ thống lí luận. 2.2. Lí luận văn học (2003) của Vương Nhất Xuyên Trong số các bộ lí luận văn học đầu thế kỉ XIX ở Trung Quốc, cuốn Lí luận văn học của Vương Nhất Xuyên có nhiều nét độc đáo. Phần lớn giáo trình lí luận văn học ở Trung Quốc đều là sản phẩm của cả tập thể, thì cuốn Lí luận văn học xuất bản năm 2003 này lại là sản phẩm của cá nhân tác giả. Tư tưởng biên soạn giáo trình được Vương Nhất Xuyên trình bày ngay trong Lời nói đầu: “Lí luận văn học hiện đại Trung Quốc đã thử đi trên hai con đường khác nhau. Con đường thứ nhất là “Tây hóa”, tức là khái niệm, phạm trù, phương pháp, phương thức tư duy lí luận văn học đều mượn từ khung lí luận của phương Tây. Con đường này ở một mức độ nhất định đã thỏa mãn được nhu cầu của người Trung Quốc trong việc mượn khung tri thức của thế giới hiện đại để nắm bắt vấn đề văn học Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng khiến chúng ta cảm thấy mất đi truyền thống văn luận vốn có của dân tộc, do đó, cũng có xu hướng quay trở về với văn luận truyền thống. Con đường thứ hai là quay về văn luận truyền thống Trung Quốc, tìm kiếm khái niệm, phạm trù, phương pháp, phương thức tư duy. . . lí luận văn học thích hợp nhằm điều chỉnh sự thiên lệch trong con đường “Tây hóa”. Con đường này tuy thỏa mãn mong muốn Trung Quốc hóa, truyền thống hóa của chúng ta, nhưng do chúng ta sống trong thể chế mang tính hiện đại, ít có cơ hội thực tiễn cụ thể, cho nên phần lớn chỉ có thể là chủ trương lí tưởng hoặc phương án trên phương diện lí thuyết mà thôi. Nó đối diện với một vấn đề nan giải, khi bứt văn luận cổ đại ra khỏi mảnh đất văn hóa cổ đại mà nó ra đời, đưa vào mảnh đất văn hóa hiện nay, liệu nó còn có thể tồn tại và đầy sức sống như cũ không? Theo cách nhìn hiện nay, con đường Tây hóa và con đường trở về với truyền thống Trung Quốc đều có ưu điểm và hạn chế, cần tổng kết thành công và thất bại trên hai con đường đó, tìm con đường mới. Và con đường này có thể gọi một cách giản đơn là văn luận hiện đại cần truyền thống mới. Tìm truyền thống mới của văn luận hiện đại có tính tất yếu trong việc xây dựng văn luận hiện đại Trung Quốc hiện nay” [6, 1]. Cuốn Lí luận văn học của Vương Nhất Xuyên làm nổi bật cảm giác lịch sử và cảm giác hiện thực của vấn đề được trình bày. Cuốn giáo trình được triển khai thành 10 chương: Văn học và lí luận văn học, Quan niệm văn học, Đặc tính của văn học, Phương tiện của văn học, Văn bản 29 Đỗ Văn Hiểu văn học, Các tầng của văn bản văn học, Phẩm chất văn học, Sáng tác văn học, Đọc văn học, Phê bình văn học. Thành công của giáo trình là đã kết hợp giữa thành quả tiên tiến của lí luận hiện đại phương Tây và văn luân cổ đại Trung Quốc. Ông tán thành phản bản chất chủ nghĩa nhưng không muốn giải cấu lí luận, ông chỉ muốn xây dựng lí luận văn học mang tính dân tộc hiện đại. Ông đã ra sức khai thác hệ thống khái niệm lí luận và tinh thần văn học truyền thống kết hợp với thành tựu lí luận hiện đại phương Tây, hay đúng hơn là mượn lí luận phương Tây để xây dựng lí luận phương Đông. Đây là cố gắng khắc phục hiện tượng coi lí luận văn học phương Tây là trung tâm, cố gắng xây dựng lí luận văn học mang bản sắc Trung Quốc, cố gắng để có thể đối thoại bình đẳng với lí luận văn học phương Tây. Ngoài ra, kết cấu giáo trình của Vương Nhất Xuyên còn khác các giáo trình khác ở chỗ ông đã đưa vào một số mẫu phân tích như khi bàn về “Đặc tính của văn học” ông đã phân tích hai trường hợp là bài thơ Tôi đến bờ sông Dương Tử mua một bông hoa sen của Từ Chí Ma và tiểu thuyết Nhật quang lưu niên của Diêm Liên Khoa, hay khi viết về “Đọc văn học” ông đã phân tích tiểu thuyết Thế giới bình thường của Lộ Dao. Cách biên soạn này là một thử nghiệm nhằm tăng tính ứng dụng cho một giáo trình lí thuyết, đồng thời gắn lí thuyết với hiện tượng văn học đương đại - Nhật quang lưu niên của Diêm Liên Khoa lần đầu tiên công bố vào năm 1998, còn cuốn giáo trình của Vương Nhất Xuyên được xuất bản năm 2003. Các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc thường phân tích các ví dụ kinh điển, ít khi sử dụng hiện tượng văn học mang tính thời sự khiến người học cảm thấy những lí thuyết được đưa vào giáo trình có phần xa lạ so với thực tiễn văn học đang diễn ra. 2.3. Cuốn Vấn đề cơ bản của lí luận văn học (2004) do Đào Đông Phong chủ biên Trong số giáo trình lí luận văn học xuất hiện đầu thế kỉ XIX ở Trung Quốc, giáo trình do Đào Đông Phong chủ biên được coi là cuốn giáo trình tấn công vào chủ nghĩa bản chất trực diện nhất, giương cao ngọn cờ phản bản chất chủ nghĩa, mang đậm tính chất hậu hiện đại. Ngay trong “Lời nói đầu” ông đã đưa ra mệnh đề về chủ nghĩa bản chất: “Chủ nghĩa bản chất” là phương thức tư duy và mô hình sản xuất tri thức đông cứng, khép kín, độc đoán. Trên phương diện bản thể luận, chủ nghĩa bản chất không phải là giả định sự vật có bản chất nhất định mà là giả định sự vật có bản chất vĩnh hằng, phổ biến, phi lịch sử (thực tại tuyệt đối, nhân tính phổ biến. . . ). Loại bản chất này không thay đổi theo thời gian, không gian; trên phương diện tri thức luận, chủ nghĩa bản chất xây dựng đối lập nhị nguyên với hạt nhân là hiện tượng và bản chất, kiên trì chân lí tuyệt đối” [3]. Đào Đông Phong cực lực phản đối tư duy bản chất chủ nghĩa, phản đối việc trình bày các tri thức lí luận phi thời gian, không gian, vĩnh hằng, bất biến, đúng cho mọi trường hợp. Vì thế, ông đã chủ biên tổ chức một bộ giáo trình thể hiện đậm nét đặc trưng của chủ nghĩa phản bản chất. Giáo trình do Đào Đông Phong chủ biên bao gồm các chương: Văn học là gì (Khó khăn trong định nghĩa về “văn học”, Sự ra đời và diễn biến của khái niệm “văn học”, Sự trưởng thành của khái niệm văn học, Phát triển đa nguyên và mở rộng của khái niệm văn học), Văn học và phương thức tư duy (Các loại hình tư duy văn học, Lí thuyết tư duy văn học trong hệ thống văn luận cổ đại Trung Quốc, Lí thuyết tư duy văn học trong hệ thống thi học phương Tây); Văn học và thế giới (Văn học “tái hiện” thế giới, Từ thuyết mô phỏng đến lí luận chủ nghĩa hiện thực, Mô hình lí luận tác giả trung tâm, Mô hình lí luận văn bản trung tâm và diễn biến của nó, Từ thuyết ngôn chí đến lí luận ý cảnh); Ngôn ngữ văn học, ý nghĩa và diễn giải (Ngôn truyền và ý hội, Ý nghĩa và diễn giải); Thể tài văn học và phong cách văn học; Truyền thống và sáng tạo trong văn học (Thông và biến của văn học, Tranh luận cổ kim, Truyền thống và cách tân, Cái chết của tác giả và lí luận liên văn bản); Văn học và văn hóa, Đạo đức và các hình thái ý thức khác, Văn học và căn cước (Văn học và căn cước giới tính; Văn học và căn cước dân tộc). Cuốn giáo trình này còn trích xuất ra các từ khóa trong mỗi chương, cuối mỗi chương ngoài yêu cầu giải thích một số thuật 30 Đổi mới giáo trình lí luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XXI ngữ cơ bản còn có các câu hỏi mang tính gợi mở giúp người học nắm được những vấn đề cơ bản của chương và mở rộng tư duy. Đào Đông Phong cố gắng thoát li tư duy bản chất chủ nghĩa, chú trọng không gian và thời gian xuất hiện tri thức lí luận. Đào Đông Phong đã thay đổi toàn bộ kết cấu cơ bản của giáo trình lí luận văn học, từ bỏ việc tìm kiếm quy luật phổ biến, đặc điểm bản chất của những hiện tượng văn học. Giữa các chương của giáo trình không có tuyến logic xuyên suốt từ đầu đến cuối như kết cấu giáo trình truyền thống, thay vào đó là kết cấu theo vấn đề. Bộ giáo trình đã giới thiệu các nhà lí luận ở các thời đại khác nhau, trình bày các quan niệm ở các thời đại khác nhau về cùng một vấn đề lí luận văn học, tìm ra ý thức hệ và diễn ngôn quyền lực ẩn sau những vấn đề đó trong ngữ cảnh lịch sử cụ thể. . . Giáo trình không đưa ra các chân lí thuyết đối, chủ trương đa nguyên, dân chủ để người học tự suy nghĩ, bồi dưỡng quan niệm văn học mở. Cuốn giáo trình do Đào Đông Phong chủ biên có nhiều điểm cấp tiến nhưng cũng có không ít bất cập. Ưu điểm rõ nhất của giáo trình này là đã phá bỏ việc biên soạn giáo trình theo chủ nghĩa bản chất siêu hình, sử dụng phương pháp lịch sử, tư tưởng giải cấu trúc, có giá trị rất lớn trong việc dẫn nhập lí luận hậu hiện đại vào giáo trình lí luận văn học, giúp người học ý thức rằng, có nhiều cách hiểu, cách lí giải khác nhau về cùng một vấn đề văn học, cần chú ý đến tính lịch sử, tính địa phương của lí thuyết. Tuy nhiên, tư tưởng của Đào Đông Phong rất khó thực hiện triệt để trong khuôn khổ một giáo trình. Giáo trình này hợp với đối tượng sau đại học hơn là sinh viên đại học, hoặc nói cách khác, nó là sự tìm tòi nằm ngoài thể chế môn học. 2.4. Lí luận văn học tân biên (2010) và Tân biên lí luận văn học (2011) do Đồng Khánh Bính chủ biên Sang thế kỉ XIX, ở Trung Quốc nhiều bộ giáo trình khuếch trương ngọn cờ phản bản chất chủ nghĩa, hướng tới xóa bỏ bản chất chủ nghĩa trong biên soạn giáo trình, chú trọng tính lịch sử của tri thức. Tuy nhiên chỉ miêu tả, giới thiệu, không khái quát cũng là một kiểu cực đoan. Cuốn giáo trình do Đào Đông Phong chủ biên ít nhiều cũng có biểu hiện cực đoan đó. Đồng Khánh Bính chủ trương xây dựng bộ giáo trình hướng tới phê bình văn bản cụ thể, hướng tới thực tiễn văn học. Ông chủ trương giải thích văn học từ ba góc độ: ngôn ngữ, thẩm mĩ và văn hóa. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn học đã kiến tạo không gian thẩm mĩ đầy chất thơ, nhưng văn học cũng là sản phẩm của văn hóa, mang nội hàm văn hóa như thần thoại, tôn giáo, lịch sử, khoa học, luân lí, đạo đức, chính trị, triết học. . . Giáo trình Lí luận văn học tân biên (2010), tái bản lần 3 gồm 13 chương: Văn học và lí luận văn học, Văn học và ngôn ngữ, Văn học và thẩm mĩ, Văn học và văn hóa, Văn học và trữ tình, Tự sự văn học, Văn học và kịch, Sáng tác văn học, Tiếp nhận văn học, Phê bình văn học, Phong cách văn học, Trào lưu văn học, Tương lai của văn học. Điểm đáng chú ý của giáo trình này là đã nhấn mạnh đặc tính thẩm mĩ, tính tự luật của văn học, thay đổi quan niệm phản ánh cũ; chú trọng nâng cao năng lực đọc văn bản của học sinh; mở rộng biên giới của nghiên cứu và giảng dạy lí luận văn học, hướng tới nghiên cứu liên ngành của thi học văn hóa. Tuy nhiên, ông vẫn khẳng định nghiên cứu lí luận văn học có đối tượng đặc thù, không thể đồng nhất với nghiên cứu xã hội học văn hóa. Ở phương diện dạy học lí luận văn học, ông chủ trương trở về với việc đọc và giảng dạy nguyên tác kinh điển. Điều này cho thấy ông đã cố gắng thoát li phương pháp biên soạn giáo trình thiên sang đưa ra các khái niệm, các kết luận phi lịch sử, phi ngữ cảnh. Trong giáo trình lí luận văn học cũ, những thứ có vẻ hoàn chỉnh, hệ thống thực ra lại là thứ xa rời thực tế, xa rời “chân tướng” vốn có. Quay trở lại hướng dẫn đọc nguyên tác kinh điển là một biện pháp khắc phục hạn chế trên, tăng cường tính lịch sử cụ thể của tri thức lí luận. Mỗi chương của giáo trình đều gồm hai phần: 31 Đỗ Văn Hiểu “Đọc văn bản kinh điển” và “Khái quát vấn đề liên quan”. Phần “Đọc văn bản kinh điển” ông thường chọn hai bài của nhà văn hoặc nhà lí luận phương Tây, phương Đông cổ kim, chú thích kĩ những văn bản này, kèm theo giới thiệu về tác giả, bối cảnh tri thức, đọc hiểu văn bản, hướng dẫn sinh viên thảo luận, phân tích, lí giải, tìm kiếm tinh hoa tư tưởng ẩn tàng trong nguyên tác kinh điển. Đây là cách để Đồng Khánh Bính tạo ra sự liên kết không gian và thời gian: phương Đông – phương Tây, cổ đại – hiện đại. Trong mỗi chương còn có phần “Khái quát vấn đề liên quan”, thuyết minh mang tính bổ sung, diễn giải một cách hệ thống về cùng một vấn đề. Có thể thấy, giáo trình Lí luận văn học tân biên (2010) do Đồng Khánh Bính chủ biên vẫn lấy vấn đề thẩm mĩ làm trung tâm nhưng không coi văn học là thứ thuần thuẩn mĩ, mà đã sử dụng góc nhìn văn hóa để nghiên cứu văn học. Giáo trình tạo ra không gian tương đối rộng cho suy tư của người học, đồng thời bồi dưỡng năng lực đọc nguyên tác kinh điển, bồi dưỡng năng lực tiếp nhận tác phẩm cụ thể. Tất nhiên, bộ giáo trình này cũng còn một số hạn chế, như: lựa chọn văn bản kinh điển còn thiên sang văn bản lí luận; tính sự kiện, lịch sử, địa phương vẫn chưa thực sự rõ ràng; vẫn còn hỗn hợp giữa lí luận Đông Tây kim cổ. Trước hạn chế của một số bộ giáo trình trong nước cũng như hạn chế của giáo trình do chính mình chủ biên, năm 2011 Đồng Khánh Bính đã chủ biên cuốn Tân biên lí luận văn học với một thử nghiệm táo bạo. Các nhà biên soạn giáo trình lí luận văn học ở Trung Quốc trước kia luôn tham vọng cung cấp cho người học một hệ thống lí luận văn học chặt chẽ, có sức bao phủ rộng cả phương Đông lẫn phương Tây, cả cổ đại lẫn hiện đại. Nhưng lí luận văn học phương Đông và phương Tây vốn là hai hình thái lí luận văn học khác nhau về bản chất và hệ thống, do đó khi dung hợp chúng thành một chỉnh thể rất dễ trở thành miễn cưỡng, lắp ghép các mảnh vụn của nhiều tri thức lí luận. Để tránh hạn chế trên, tăng cường khả năng đối thoại giữa hai hệ thống lí luận, Đồng Khánh Bính đã mạnh dạn tổ chức giáo trình trên tư duy so sánh. Tân biên lí luận văn học gồm 5 phần, mỗi phần gồm hai chương, một chương trình bày quan niệm của phương Đông, một chương trình bày quan niệm của phương Tây, cuối mỗi chương đều có tiểu kết, từ khóa, vấn đề cần suy nghĩ và giới thiệu tài liệu tham khảo; cuối mỗi phần đều có mục “So sánh đối thoại” giữa phương Đông và phương Tây. Các phần của giáo trình cụ thể là: Văn học và thế giới, Văn học và tác giả, Tác phẩm văn học, Văn học và độc giả, Giá trị của văn học. Cách biên soạn này thực sự đã thể hiện quỹ đạo phát triển và bản sắc của lí luận văn học phương Đông và phương Tây, tránh hiện tượng hỗn tạp, tập hợp diễn ngôn lí luận văn học Đông - Tây, tăng cường tính lịch sử, sự kiện, địa phương của tri thức lí luận, tăng cường vai trò chủ động của người dạy và người học. 3. Kết luận Những bộ giáo trình trên đã thể hiện một cách sâu sắc khát vọng đổi mới giáo trình lí luận văn học của giới nghiên cứu giảng dạy Trung Quốc đầu thế kỉ XIX. Họ muốn xóa bỏ chủ nghĩa bản chất, tăng cường tính lịch sử, tính sự kiện, tính địa phương của tri thức lí luận; kết hợp giữa nghiên cứu nội tại văn bản với nghiên cứu văn hóa; cập nhật thành quả lí luận văn học mới nhất trên thế giới; kết hợp giữa lí luận văn học phương Tây với lí luận văn học truyền thống; so sánh đối thoại giữa lí luận văn học truyền thống với lí luận văn học phương Tây. Mặc dù nỗ lực đổi mới giáo trình lí luận văn học ở Trung Quốc đạt được những thành quả quan trọng, nhưng vẫn còn tồn tại không ít hạn chế. Xét từ phương diện người học, những kiến thức trong giáo trình vẫn còn trừu tượng, giáo trình ít phân tích ví dụ cụ thể và những ví dụ được trích dẫn phân tích mặc dù rất điển hình nhưng lại quá cũ, ít khi lấy từ thực tiễn văn học đang diễn ra. Ngoài ra, những người viết giáo trình vẫn chưa thực sự chú ý đến nền tảng tri thức và năng lực tiếp nhận của sinh viên, khối lượng tri thức và cách trình bày còn tương đối hàn lâm. Ngay bộ giáo 32 Đổi mới giáo trình lí luận văn học Trung Quốc đầu thế kỉ XXI trình Lí luận văn học tân biên (2010) do Đồng Khánh Bính chủ biên cũng phải có một cuốn sách hướng dẫn dành cho giáo viên. Những nội dung mới hoặc có tính liên ngành như văn học mạng, văn học trên điện thoại, văn học điện ảnh vẫn còn chưa thực sự được chú ý trong khung tri thức của giáo trình. Thành công và hạn chế trong tìm tòi đổi mới giáo trình lí luận văn học ở Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XIX có giá trị gợi ý bổ ích cho việc chỉnh sửa, biên soạn giáo trình lí luận văn học ở Việt Nam trong những năm tới. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Đồng Khánh Bính chủ biên, 2010. Lí luận văn học tân biên. Nxb Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Bắc Kinh. [2] Đồng Khánh Bính chủ biên, 2011. Tân biên lí luận văn học. Nxb Đại học Nhân dân Trung Quốc, Bắc Kinh. [3] Đào Đông Phong chủ biên, 2007. Vấn đề cơ bản của lí luận văn học. Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh. [4] Bành Linh, 2014. Vấn đề tồn tại của dạy học lí luận văn học và tìm kiếm đối sách trong “thời đại đọc hình ảnh”. Tạp chí Khoa học Học viện Khoa học Kĩ thuật Nhân văn Hồ Nam, số 6. [5] Nam Phàm chủ biên, 2002. Lí luận văn học (bản mới). Nxb Văn nghệ Triết Giang, Triết Giang. [6] Vương Nhất Xuyên, 2011. Lí luận văn học. Nxb Đại học Tứ Xuyên, Tứ Xuyên. ABSTRACT Renovation of the curriculum of chinese literary theory in the early 21st century Do Van Hieu Faculty of Philology, Hanoi National University of Education In the 21st century, the economic, cultural and social life in China has changed significantly, the market economy, consumer society, modern media development ... That has a great impact on the literary creativity, the psychology of students to receive literature in general and the subject of literature theory in particular. The old curriculum of literature theory has exposed the limitation, theoretical knowledge in the curriculum did not explain some new literary phenomenon. In this situation, researchers and teachers in China have investigated and renovated the curriculum of literature theory in terms of conception of writing textbooks, the structure and content of specific knowledge. This article introduces several textbooks of literature theory that are typical for renovation of the basic curriculum in China early 21st century with the purpose of searching ideas for renewing the literature theory curriculum in Vietnam today, they are textbooks of Nan-fan, Tao Dong-feng, Wang Yi-chuan, Tong Qing-bing. Keywords: Literature theory, Curriculum, Vietnam, China. 33

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf5057_dvhieu_2617_2123607.pdf
Tài liệu liên quan