Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các yếu tố liên quan

Tài liệu Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các yếu tố liên quan: Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 246 TỶ LỆ SỬ DỤNG DỊCH VỤ TẠI PHÒNG KHÁM ĐA KHOA KHU VỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Lục Duy Lạc*, Nguyễn Văn Chinh*, Phạm Anh Tùng*, Phạm Tiến Phương*, Trần Tấn Tài*, Nguyễn Thị Diệu Hương**, Lê Thị Ngọc Dung*** Tác giả liên hệ: TÓM TẮT Đặt vấn đề: Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân tại phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV) là việc làm không thể thiếu cung cấp những chứng cứ cho việc ra quyết định điều chỉnh quy mô hoạt động PKĐKKV theo quy định của Bộ Y tế. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017 và các yếu tố liên quan. Phương pháp Thiết kế cắt ngang mô tả được sử dụng trong việc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự điền 548 người dân từ 18 tuổi trở lên sinh sống xung quanh 19 PKĐKKV tại Bình Dương. Kết quả: Tỷ lệ người dân đã từng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV là 60%. Những yếu tố tăng kh...

pdf8 trang | Chia sẻ: Đình Chiến | Ngày: 10/07/2023 | Lượt xem: 93 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các yếu tố liên quan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 246 TỶ LỆ SỬ DỤNG DỊCH VỤ TẠI PHÒNG KHÁM ĐA KHOA KHU VỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Lục Duy Lạc*, Nguyễn Văn Chinh*, Phạm Anh Tùng*, Phạm Tiến Phương*, Trần Tấn Tài*, Nguyễn Thị Diệu Hương**, Lê Thị Ngọc Dung*** Tác giả liên hệ: TÓM TẮT Đặt vấn đề: Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân tại phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV) là việc làm không thể thiếu cung cấp những chứng cứ cho việc ra quyết định điều chỉnh quy mô hoạt động PKĐKKV theo quy định của Bộ Y tế. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017 và các yếu tố liên quan. Phương pháp Thiết kế cắt ngang mô tả được sử dụng trong việc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự điền 548 người dân từ 18 tuổi trở lên sinh sống xung quanh 19 PKĐKKV tại Bình Dương. Kết quả: Tỷ lệ người dân đã từng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV là 60%. Những yếu tố tăng khả năng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV như có bệnh mạn tính, có bảo hiểm y tế (BHYT), người thích nhận dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ tiêm chủng và những người dân có ý kiến để cải thiện nhằm thu hút người bệnh; tuy nhiên, những người thích nhận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe chỉ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV chỉ bằng 0,77 lần so với những người không thích nhận dịch vụ này; tất cả những sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết luận: Cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh và truyền thông giáo dục sức khỏe tại các PKĐKKV chưa đạt nhu cầu và đòi hỏiở người dân. Từ khóa: phòng khám đa khoa khu vực, sử dụng dịch vụ ABTRACT THE PREVALENCE OF SERVICE USING AT REGIONAL CLINIC DEPARTMENTS IN BINH DUONG PROVINCE AND RELATED FACTORS Luc Duy Lac, Nguyen Van Chinh, Pham Anh Tung, Pham Tien Phuong, Tran Tan Tai, Nguyen Thi Dieu Huong, Le Thi Ngoc Dung * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 2- 2019: 246-253 Background: Surveying the demand for the service using of people at regional clinic department (RCD) is indispensable to provide evidence for the decision to adjust the action scale of regional polyclinic department according to regulations of the Ministry of Health. Objectives: This study aims to identify the prevalence of service using at regional clinic department in Binh Duong Province in 2017 and to explore some related factors. Methods: A cross-sectional study was conducted among 548 people (≥ 18 years old) living around 19 regional clinic departments in Binh Duong by interviewing with a prepared questionnaire. Results: The proportion of people who used the service at RCD is 60%. Some factors make an increase in *Sở Y tế Bình Dương **Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh Bình Dương ***Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Dương Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Văn Chinh ĐT: 0988341427 Email: Vanchinhcc@yahoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 247 people’s ability to use the service in regional polyclinic departments such as: having a chronic disease, having health insurance, people who like to receive medical examination and treatment services, vaccination services at the RCD and people who give feedback to improve the services at RCD. However, people who prefer to receive health education and communication information using clinic services only 0.77 times compared with people who do not like to receive this service, difference with statistical significance (p < 0.05). Conclusions: Providing medical examination and treatment and health education services in RCD that have not enough for the demand of people. Keyword: regional clinic department, service using ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Bình Dương, với 19 phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV) thì 18 đơn vị có tổ chức mô hình hoạt động lồng ghép với trạm y tế (02 đơn vị còn là cơ sở thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh của 02 trung tâm y tế huyện), không đơn vị nào được giao chỉ tiêu điều trị nội trú. Việc thành lập các PKĐKKV trên địa bàn đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, phù hợp trong bối cảnh dân số tăng cơ học cao. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của y tế ngoài công lập đã chia sẽ, đảm nhiệm hoạt động khám chữa bệnh ban đầu cho y tế công lập. Từ năm 2017, Bộ Y tế ban hành các văn bản về rà soát, tổ chức hoạt động các PKĐKKV (Công văn: Số 5251/BYT-KCB ngày 18/9/2017, số 618/BYT-KCB ngày 25/01/2018); qua đó, việc điều chỉnh, sắp xếp mô hình hoạt động các PKĐKKV trên địa bàn theo yêu cầu của Bộ Y tế là nhiệm vụ một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành. Qua rà soát tài liệu cho thấy nghiên cứu thực hiện trong năm 2017 về hoạt động khám chữa bệnh cho thấy những PKĐKKV hoạt động không hiệu quả tập trung tại những khu vực có y tế ngoài công lập phát triển hoặc có vị trí không thuận lợi(1). Ngoài ra, để có những cơ sở cho việc điều chỉnh quy mô hoạt động thì việc rà soát quy hoạch, kiểm tra tình hình hoạt động của các PKĐKKV qua các năm là việc làm đã thực hiện.Việc khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân tại các cơ sở này là việc làm không thể thiếu cung cấp những chứng cứ cho việc ra quyết định điều chỉnh quy mô hoạt động PKĐKKV theo quy định của Bộ Y tế. Do vậy, nghiên cứu được tiến hành qua việc khảo sát thực trạng sử dụng các dịch vụ y tế, những nhu cầu và các yếu tố thúc đẩy người dân sử dụng dịch vụ tại các PKĐKKV; đây là những thông tin có giá trị trong việc nâng cao năng lực PKĐKKV phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi của người dân trong việc sử dụng dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Mục tiêu Xác định tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017 và các yếu tố liên quan. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế cắt ngang mô tả được sử dụng trong việc phỏng vấn người dân về việc sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV (sử dụng dịch vụ ghi nhận qua khai báo của người dân khi sử dụng bất kỳ dịch vụ nào đang triển khai trong năm qua như khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, tiêm chủng mở rộng và truyền thông giáo dục sức khỏe v.v.), ước tính tỷ lệ sử dụng dịch vụ trong nghiên cứu là 55%, sai số cho phép là 5%, sai lầm loại I là 5%, hệ số thiết kế là 1,4, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 534 người dân. Nhân viên y tế tuyến tỉnh là thành viên của đoàn kiểm tra hoạt động khám chữa bệnh tại PKĐKKV tiến hành phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn người dân cư ngụ xung quanh PKĐKKV (có 19 PKĐKKV, mỗi PKĐKKV nghiên cứu 30 người dân sinh sống xung quanh nên số người ước tính tham gia nghiên cứu là 570 người); cách thức chọn người dân như sau: từ PKĐKKV đi về hướng bên trái khoảng 1 km chọn hộ đầu tiên (mỗi hộ chỉ phỏng vấn 1 người được chọn phỏng vấn là người tiếp xúc đầu tiên từ 18 tuổi trở lên, có khả năng trả lời câu hỏi), sau đó cách hộ chọn 1 hộ Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 248 (nếu là khu nhà trọ thì mỗi phòng trọ được coi là 1 hộ, nếu hộ gia đình không có ai ở nhà thì sẽ chọn hộ liền kề), trường hợp gặp ngõ/hẻm sẽ đi về hướng bên phải (nếu gặp ngõ/hẻm cụt thì quay lại) và chọn đủ 30 người. Việc tính cỡ mẫu ban đầu là 570 nhằm mục đích thuận tiện cho việc lấy mẫu (xung quanh mỗi PKĐKKV phỏng vấn 30 người); tuy nhiên, trong quá trình thu thập dữ kiện, có một số phòng khám lấy đủ cỡ mẫu dự kiến, có 8 phòng khám lấy thiếu 02 mẫu, 01 phòng khám lấy thiếu 3 mẫu, 03 phòng khám thiếu 1mẫu. Nên cỡ mẫu thu được là 548 mẫu đủ ước lượng được tỷ lệ mong muốn theo mục đích ước lượng ban đầu. Tất cả các dữ kiện được nhập bằng phần mềm Epidata 3.0 và xử lý bằng phầm mềm Stata 10.0. Tất cả dữ liệu được trình bày bằng tần số và tỷ lệ %, sử dụng phép kiểm chi bình phương để so sánh tỷ lệ sử dụng dịch vụ ở những đặc điểm khác nhau (dân số học, bệnh mạn tính, dịch vụ ưa thích và ý kiến đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng), giá trị PR được sử dụng để đo lường mức độ liên quan, với p<0,05 xác định có mối liên quan. Các thông tin người dân cung cấp hoàn toàn tự nguyện, không ghi nhận tên, địa chỉ người phỏng vấn; tất cả dữ kiện thu được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu. KẾT QUẢ Tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu chỉ chiếm 35,1%, người trên 64 tuổi chiếm 15,1% (Bảng 1). những người nghỉ hưu trong nghiên cứu là 6%, trong khi những người ghi nhận là sống phụ thuộc/thất nghiệp chiếm đến 14,4%; tuy vậy, những người có thu nhập dưới 2 triệu/tháng chỉ chiếm 0,4%; những người có hộ khẩu thường trú là 76,8% và tỷ lệ có BHYT trong nghiên cứu là 78,5%. Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n=548) Đặc điểm Tần số (tỷ lệ%) Nam giới 192(35,1) Nhóm tuổi 18-24 20(3,7) 25-34 98(17,8) 35-44 125(22,8) 45-54 103(18,8) 55-64 119(21,7) >64 83(15,1) Nghề nghiệp Có nghề 436(79,6) Phụ thuộc/thất nghiệp 79(14,4) Nghỉ hưu 33(6,0) Thu nhập dưới 2 triệu 2(0,4) Hộ khẩu thường trú 421(76,8) Có BHYT 430(78,5) Hầu hết trên địa bàn có PKĐKKV đều có cơ sở y tế ngoài công lập hoạt động với quy mô từ phòng khám đa khoa trở lên (Bảng 2). Trong đó, tại cùng địa bàn xã/phường có PKĐKKV thì 50% PKĐKKV có 1 cơ sở y tế ngoài công lập quy mô từ phòng khám đa khoa trở lên trong cùng địa bàn xã/phường đó, số liệu này trên cùng địa bàn huyện/thị/thành phố là 8 cơ sở y tế ngoài công lập quy mô từ phòng khám đa khoa trở lên. Bảng 2. Số lượng đơn vị y tế tư nhân trên địa bàn có PKĐKKV (n=19) Số lượng Trung vị(khoảng tứ vị) Cơ sở y tế tư nhân quy mô từ PKĐK trở lên trên địa bàn xã/phường có PKĐKKV 1(0-4) Cơ sở y tế tư nhân quy mô từ PKĐK trở lên trên địa bàn huyện có PKĐKKV 8(1-21) Biểu đồ 1. Tỷ lệngười dân đã từng sử dụng dịch vụ trong năm qua tại PKĐKKV (n=548) Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 249 Tỷ lệ người dân đã từng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV là 60% (Biểu đồ 1). Trong số những người đã sử dụng trong năm qua, thì có đến 50% số người có số lần sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh từ 3 lần/năm trở xuống [trung bình là 5,34 lần/năm với độ lệch chuẩn là 5,88 lần/năm] (Bảng 3). Tuy nhiên, 50% người dân có số lần sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại PKĐKKV là 2 lần/năm trở xuống (trung bình là 3,21 lần/năm). Bảng 3. Số lần khám chữa bệnh trung bình trong năm(n=329) Số lần sử dụng dịch vụ Trung vị(khoảng tứ vị) Của những người đã từng sử dụng 3(2-7) Chung 2(0-4) Bảng 4. Lý do sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV (n=329) Lý do sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV Tần số (tỷ lệ%) Gần nhà, thuận tiện 309(93,9) Chi phí khám chữa bệnh thấp 159(48,3) BHYT đăng ký tại đây 89(27,1) Tiêm chủng 38(11,6) Khác 8(2,4) Trong số những người đã từng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV, thì lý do phổ biến nhất là gần nhà và thuận tiện (93,9%), lý do chi phí khám chữa bệnh thấp hơn các nơi khác là 48,3%, lý do đăng ký BHYT tại PKĐKKV là 27,1%, lý do sử dụng dịch vụ tiêm chủng mở rộng là 11,6% và các lý do khác chiếm dưới 3% (Bảng 4). Những dịch vụ mà người dân đã từng sử dụng tại các PKĐKKV phổ biến nhất là điều trị các bệnh thông thường (79,0%), điều trị bệnh mạn tính (24,6%), tiêm chủng mở rộng (21,6%), xét nghiệm (19,2%); trong khi tỷ lệ nhận các thông tin về truyền thông giáo dục sức khỏe chỉ chiếm 12,8%, điều trị bệnh bằng YHCT chiếm 12,8%, các dịch vụ khám thai, đỡ đẻ và cấp cứu ban đầu chỉ chiếm dưới 4% (Bảng 5). Những người sử dụng dịch vụ đều có tỷ lệ hài lòng rất cao khoảng trên 90%, các dịch vụ như cấp cứu, khám thai, tiêm chủng mở rộng có tỷ lệ hài lòng khi sử dụng dịch vụ chỉ khoảng 75%. Bảng 5. Những dịch vụ đã sử dụng và sự hài lòng khi sử dụng dịch vụ (n=329) Dịch vụ Dịch vụ [Tần số(tỷ lệ %)] Hài lòng [Tần số (tỷ lệ %)] Cấp cứu 11(3,3) 8(72,7) Khám thai 12(3,7) 9(75,0) Đẻ 3(0,9) 3(100) Điều trị bệnh thông thường 260 (79,0) 230(88,8) Điều trị bệnh mạn tính 81(24,6) 77(95,1) Điều trị bằng YHCT 42(12,8) 37(88,1) Xét nghiệm 63(19,2) 60(95,2) Nhận thông tin tuyên truyền 42(12,8) 40(95,2) Tiêm chủng mở rộng 71(21,6) 53(75,7) Trong số những người chưa sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV thì lý do phổ biến là chưa mắc bệnh (64,8%), thích khám tuyến trên (47,5%), thích khám tại các cơ sở y tế ngoài công lập (16,9%), đăng ký BHYT tại nơi khác chiếm (16,0%), không đủ trang thiết bị (13,2%); các lý do như trình độ nhân viên y tế thấp và không đủ thuốc chiếm là lượt 6,4%, 3,2% (Bảng 6). Bảng 6. Lý do không sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV (n=219) Lý do không sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV Tần số (tỷ lệ%) Không khám ra bệnh 0(0) Không chữa khỏi bệnh 0(0) Mọi người đồn chất lượng không tốt 0(0) Không có Bác sỹ 1(0,5) Không đủ thuốc 7(3,2) Thủ tục rườm rà 8(3,7) Trình độ NVYT thấp 14(6,4) Không đủ trang thiết bị 29(13,2) BHYT nơi khác 35(16,0) Thích khám tư nhân 37(16,9) Thích khám tuyến trên 104(47,5) Không mắc bệnh 142(64,8) Lý do khác 7(3,2) Bảng 7. Những dịch vụ thích sử dụng/muốn nhận từ PKĐKKV (n=548) Dịch vụ thích sử dụng/muốn nhận từ PKĐKKV Tần số(tỷ lệ%) Khám chữa bệnh 403(73,5) Nhận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe 253(46,2) Tiêm chủng 90(16,4) Khám thai 9(1,6) Đỡ đẻ 2(0,4) Khác 12(2,2) Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 250 Những dịch vụ như khám chữa bệnh và nhận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe là những dịch vụ người dân thích sử dụng hoặc mong muốn nhận từ PKĐKKV (lần lượt 73,5% và 46,2%) (Bảng 7). Trong khi đó nhận dịch vụ tiêm chủng chỉ có 16,4% người dân muốn nhận/sử dụng tại PKĐKKV; tỷ lệ thích sử dụng hoặc muốn nhận các dịch vụ như khám thai, đỡ đẻ và các dịch vụ khác chỉ chiếm dưới 2%. Để PKĐKKV triển khai thêm các hoạt động nhằm thu hút người bệnh thì các hoạt động như mua sắm thêm trang thiết bị (22,8%), tuyển thêm các nhân lực có chất lượng (14,6%) là các hoạt động người dân quan tâm nhất, các lý do khác chiếm dưới 2% (Bảng 8). Tuy nhiên, tỷ lệ người không có ý kiến chiếm đến 58%. Bảng 8. Những hoạt động cần triển khai để thu hút người bệnh (n=548) Hoạt động cần triển khai Tần số(tỷ lệ%) Mua sắm thêm trang thiết bị 125(22,8) Tuyển nhân lực chất lượng 80(14,6) Đầu tư cơ sở vật chất 12(2,2) Thái độ nhân viên 9(1,6) Khám chữa bệnh 5(0,9) Truyền thông giáo dục sức khỏe 4(0,73) Tiêm chủng mở rộng 2(0,4) Khám thai 1(0,2) Đỡ đẻ 1(0,2) Điều trị YHCT/PHCN 1(0,2) Không ý kiến 383(69,9) Bảng 9. Các yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV Các yếu tố Đã sử dụng [Tần số (tỷlệ%)] PR (KTC95%) P Nhóm tuổi 25-34* 67(68,4) 1,24(0,82-1,89) 0,31 Nhóm tuổi 35-44* 62(49,6) 0,90(0,58-1,39) 0,64 Nhóm tuổi 45-54* 60(58,3) 1,06(0,69-1,62) 0,79 Nhóm tuổi 55-64* 72(60,5) 1,10(0,72-1,68) 0,66 Nhóm tuổi trên 64* 57(68,7) 1,24(0,82-1,90) 0,30 Giới nam 104(54,2) 0,86(0,73-0,99) 0,047 Thường trú 255(60,6) 1,04(0,88-1,22) 0,65 Thu nhập dưới 2 triệu 2(100) 1,67(0,70-3,98) 0,25 Sống phụ thuộc/thất nghiệp 51(64,6) 1,12(0,93-1,33) 0,23 Nghỉ hưu 26(78,9) 1,36(1,12-1,65) 0,002 Từ 1 đến 10 năm 85(59,0) 1,11(0,69-1,78) 0,65 Trên 10 năm 235(60,7) 1,15(0,73-1,80) 0,55 Có bệnh mạn tính 111(73,5) 1,33(1,17-1,52) <0,001 Có BHYT 274(63,7) 1,37(1,11-1,67) <0,001 Thích khám chữa bệnh 268(66,5) 1,58(1,29-1,93) <0,001 Thích nhận thông tin 131(51,8) 0,77(0,67-0,89) <0,001 Thích nhận dịch vụ tiêm chủng 70(77,8) 1,38(1,20-1,57) <0,001 Có ý kiến về hoạt động PKĐKKV 115(69,7) 1,25(1,09-1,42) 0,001 *: So sánh với nhóm 18-24 tuổi Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các nhóm tuổi, tình trạng hộ khẩu, thời gian cư ngụ tại địa phương với việc sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV. Những người có thu nhập dưới 2 triệu/tháng có tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV cao gấp 1,67 lần so với những người có thu nhập từ 2 triệu/tháng trở lên nhưng sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tương tư, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) về sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV đối với những người có nghề nghiệp với những người sống phụ thuộc/thất nghiệp nhưng những người nghỉ hưu có tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV cao gấp 1,36 lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Những người có bệnh mạn tính (tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp, dạ dày v.v.) có tỷ lệ sử dụng dịch vụ cao gấp 1,33 lần so với những Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 251 người không có bệnh mạn tính, những người có BHYT sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV cao gấp 1,37 lần so với những người không có BHYT; những người thích nhận dịch vụ khám chữa bệnh và dịch vụ tiêm chủng tại PKĐKKV có tỷ lệ sử dụng dịch vụ lần lượt cao gấp 1,58 và 1,38 lần so với những người không thích nhận dịch vụ này; tương tự, những người dân có ý kiến để cải thiện nhằm thu hút người bệnh (các dịch vụ như khám chữa bệnh, khám thai, đỡ đẻ, tiêm chủng, truyền thông GDSK và tuyển nhân lực chất lượng, mua sắm thêm trang thiết bị v.v.) có tỷ lệ sử dụng dịch vụ cao gấp 1,25 lần so với những người không ý kiến; tuy nhiên, những người thích nhận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe chỉ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV chỉ bằng 0,77 lần so với những người không thích nhận dịch vụ này; tất cả những sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p<0,05). BÀN LUẬN Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV là khá thấp, mặc dù định nghĩa sử dụng dịch vụ trong nghiên cứu bao gồm tất cả các dịch vụ đang cung ứng thuộc các lĩnh vực khám chữa bệnh, y tế dự phòng. Đặc biệt tỷ lệ nhận các thông tin về truyền thông giáo dục sức khỏe chỉ chiếm 12,8%; rà soát các quy định trong các chiến dịch tổng vệ sinh môi sinh môi trường hằng năm cho thấy, 100% hộ gia đình được vãng gia và cung cấp các tài liệu truyền thông; từ kết quả này cho thấy, các mục tiêu trong các chiến dịch y tế vẫn chưa đạt yêu cầu, mặc dù có thể có những sai lệch hồi tưởng của người dân trong khai báo nhận dịch vụ từ PKĐKKV nhưng tỷ lệ này là rất thấp so với các yêu cầu ở các chương trình y tế cũng đang triển khai. Theo các báo cáo hằng năm tại Sở Y tế Bình Dương cho thấy, tổng số lượt khám chữa bệnh trung bình mỗi năm trên toàn địa bàn là 6 triệu lượt người, trung bình mỗi người dân sử dụng khoảng 3 lượt khám chữa bệnh/năm (dân số năm 2017 ước đạt là 2.015.997 người), kết quả trong nghiên cứu này cho thấy số lượt sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại PKĐKKV không có sự khác biệt so với các số liệu quản lý được về khám chữa bệnh của người dân, mặc dù tỷ lệ là những người có bệnh mạn tính, cần sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở nghiên cứu này chiếm khoảng gần 30%; các dịch vụ khám thai, đỡ đẻ và cấp cứu ban đầu chỉ chiếm rất thấp. Ngoài ra, số liệu khám chữa bệnh trung bình của mỗi người dân tại Bình Dương quản lý được chưa bao gồm số liệu khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa/phòng khám chuyên khoa ngoài công lập nên số liệu khám chữa bệnh trung bình tại PKĐKKV trong nghiên cứu này có thể không cao hơn những số liệu đã được công bố. Những lý do sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV cho thấy vẫn còn những nhu cầu nhất định của một bộ phận người dân có nhu cầu sử dụng các dịch vụ đang cung ứng tại PKĐKKV đặc biệt là những người có BHYT, thu nhập không cao; do vậy, việc tăng các dịch vụ cung ứng phù hợp với nhu cầu của người dân là nội dung cần chú trọng thực hiện để tăng tính tiếp cận của người dân. Tuy nhiên, trong số những người không sử dụng dịch vụ thì có đến gần 50% do thích khám tuyến trên, 16,9% thích sử dụng dịch vụ tại đơn vị y tế ngoài công lập, 13,2% cho rằng không đủ trang thiết bị y tế và 6,4% cho rằng trình độ nhân viên y tế thấp. Điều này phù hợp với các nghiên cứu thực hiện trước đây(3,4,5) cũng như báo cáo của ngân hàng thế giới(2) cho thấy “Trạm y tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân; cán bộ y tế thường không đủ năng lực chuyên môn, thiếu kỹ năng trong các lĩnh vực như sơ cứu, khám phát hiện sớm quản lý các bệnh không lây nhiễm và ít có cơ hội được đào tạo liên tục; danh mục thuốc cán bộ y tế xã được phép kê đơn rất hạn chế; ít có điều kiện thực hiện xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh. Do vậy, bệnh nhân ít tin tưởng vào chất lượng dịch vụ tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và thường chọn lên tuyến trên mặc dù bản thân họ phải chịu chi phí cao hơn và thủ tục phiền toái hơn rất nhiều”. Đồng thời, theo các báo cáo tổng kết gần đây của Sở Y tế Bình Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 252 Dương cho thấy “Nguồn nhân lực y tế vẫn còn bất cập so với yêu cầu hoạt động của ngành; chủ yếu là thiếu bác sĩ, đặc biệt là các chuyên khoa sâu, hiếm; ngoài ra, thực hiện kỹ thuật theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế tại tuyến y tế cơ sở còn hạn chế, đặc biệt về ngoại khoa và sản khoa; vì vậy chưa thu hút người dân đến khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở”. Ngoài ra, cơ cấu tổ chức và cách thức cung cấp dịch vụ của các PKĐKKV chưa thể cạnh tranh với các cơ sở y tế ngoài công lập; đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV (đặc biệt là các dịch vụ khám chữa bệnh) thấp hơn so với kỳ vọng. Y tế ngoài công lập đã chia sẽ, đảm nhiệm hoạt động khám chữa bệnh ban đầu cho y tế công lập, lại có nhiều điều kiện thuận lợi trong sự tiếp cận của người dân với việc khám chữa bệnh như tổ chức khám chữa bệnh 24/24 giờ, cả những ngày nghỉ lễ; cơ cấu tổ chức phải có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi(trong khi tại PKĐKKV dao động từ 1-4 Bác sỹ; trình độ chuyên môn cán bộ y tế còn nhiều hạn chế, hầu hết cán bộ khám chữa bệnh có trình độ Bác sỹ đa khoa, chưa qua đào tạo chuyên khoa, nên hầu như chưa thể triển khai được các chuyên khoa)(1); đây là những điểm mạnh so với y tế công lập (mặc dù y tế công lập vẫn tổ chức khám chữa bệnh những thời điểm trên nhưng với số lượng con người hạn chế hơn); hơn nữa, các quy định về thông tuyến bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho người dân có thể sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bất kỳ nơi nào họ thấy thuận tiện và hài lòng v.v. Những dịch vụ mà người dân mong muốn nhận được từ PKĐKKV gồm các dịch vụ khám chữa bệnh, nhận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe và dịch vụ tiêm chủng; điều này cho thấy, ngoài các gói dịch vụ thuộc lĩnh vực dự phòng thì người dân vẫn muốn nhận các dịch vụ khám chữa bệnh tại các PKĐKKV (chiếm khoảng 73,5% người dân); do vậy, ngoài các rào cản, hạn chế trong cung cấp dịch vụ như trang thiết bị, chủng loại thuốc, trình độ nhân viên y tế là những nội dung căn bản cần phải thực hiện đồng bộ để giành lại niềm tin của người dân bởi lẽ có đến 22,8% người dân cho rằng cần phải đầu tư thêm trang thiết bị, 14,6% phải tuyển thêm nhân lực chất lượng. Những người quan tâm đến nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại PKĐKKV (có ý kiến nhằm cải thiện chất lượng khám chữa bệnh tại đây), những người trả lời là “Thích khám chữa bệnh và thích nhận dịch vụ tiêm chủng” thì có tỷ lệ đã sử dụng dịch vụ cao hơn những người không có ý kiến hoặc không thích nhận các dịch vụ này. Điều này cho thấy, vẫn còn một bộ phận người dân có nhu cầu sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV cung ứng, đây là những người có bệnh mạn tính, nữ giới và người có BHYT (nhưng vẫn thấp hơn so với thực tế bởi vì tỷ lệ tham gia BHYT của Bình Dương vào năm 2017 là 81,8% nhưng tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại PKĐKKV của người có BHYT trong nghiên cứu này là 63,7%), đặc biệt là các dịch vụ khám chữa bệnh. Tuy nhiên, những người thích nhận dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe lại có tỷ lệ sử dụng dịch vụ thấp hơn, nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng của nhóm người này đã mất sự tin tưởng và hầu như chưa có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chửa bệnh có thể có nhiều lý do như đã trình bày ở trên. KẾT LUẬN Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ tại các PKĐKKV là chưa cao; thói quen sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại PKĐKKV của người dân chủ yếu là nữ, có BHYT và để khám chữa bệnh thông thường, điều trị một số bệnh lý mãn tính. Tỷ lệ nhận các thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe cũng là vấn đề bất cập bởi phần đông người dân vẫn chưa nhận được dịch vụ này. ĐỀ XUẤT Địa phương cần tuyên truyền, vận động người dân, tăng cường các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ khám chữa bệnh, khám chữa bệnh bằng BHYT tại các PKĐKKV. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 253 Tăng cường trang bị các trang thiết bị hiện đại, tăng đào tạo và thực hiện luân chuyển 2 chiều bác sỹ về công tác tại PKĐKKV/Trạm Y tế nhằm nâng cao chất lượng nhân lực; đồng thời triển khai các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của người dân ở các địa phương khác nhau, gắn với công tác truyền thông tới người dân khi thực hiện các giải pháp này nhằm thay đổi nhận thức và để người dân thay đổi niềm tin; từ đó cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn. Nghiên cứu xây dựng, triển khai các phương án xã hội hóa về y tế phù hợp với từng địa phương nhằm hạn chế lãng phí cơ sở vật chất (Phòng khám vệ tinh của Trung tâm Y tế, phòng khám Bác sỹ gia đình, liên doanh liên kết, xã hội hóa v.v.). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cao Thị Bích Thuận, Phạm Anh Tùng, Huỳnh Thanh Hà, Trần Tấn Tài, Nguyễn Văn Chinh (2018). Hoạt động khám chữa bệnh các PKĐKKV trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các yếu tố liên quan. Kỷ yếu nghiên cứu khoa học công nghệ &kỹ thuật ngành y tế tỉnh Bình Dương lần thứ XVII. 77-81. 2. Ngân hàng thế giới. Hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân tại Việt Nam. Nguồn từ: 5/pdf/122055-WorldBank-UHC-Viet-version-final-CMYK.pdf, truy cập ngày 15/8/2018. 3. Lê Quang Cường, Lý Ngọc Kính, Khương Anh Tuấn (2011). Nghiên cứu thực trạng quá tải, dưới tải của hệ thống bệnh viện các tuyến và đề xuất giải pháp khắc phục, Viện chiến lược và chính sách y tế. Nguồn từ: cuu-thuc-trang-qua-tai-duoi-tai-cua--he-thong-benh-vien-cac- tuyen-va-de-xuat-giai--phap-khac-phuc-t56-8128.html, truy cập ngày 22/10/2017. 4. Trần Thị Thoa (2012). Thực trạng và tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc thiết yếu tại tuyến xã, Đại học Dược Hà Nội. 49-56. 5. Trần Văn Hưởng (2012). Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và hiệu quả mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại tuyến y tế cơ sở của Bình Dương. Đại học Y Hà Nội, p.43- 55. Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2019

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfty_le_su_dung_dich_vu_tai_phong_kham_da_khoa_khu_vuc_tren_di.pdf
Tài liệu liên quan