Sử dụng công nghệ jet-Grouting gia cố xung quanh hầm bảo vệ công trình móng nông tại tuyến Metro số 1 - thành phố Hồ Chí Minh

Tài liệu Sử dụng công nghệ jet-Grouting gia cố xung quanh hầm bảo vệ công trình móng nông tại tuyến Metro số 1 - thành phố Hồ Chí Minh: 26 Journal of Transportation Science and Technology, Vol 21, Nov 2016 SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ JET-GROUTING GIA CỐ XUNG QUANH HẦM BẢO VỆ CÔNG TRÌNH MÓNG NÔNG TẠI TUYẾN METRO SỐ 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH USING JET-GROUTING TO REINFORCED SOID MASS SURROUNDING THE TUNEL AND PROTECT THE CONSTUCTION FOUNDATION IN METRO LINE 1 – HO CHI MINH CITY Phan Sỹ Liêm, Nguyễn Bá Hoàng Trường Đại Học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh Tóm tắt: Việc thi công hầm bằng công nghệ khiên đào sẽ xuất hiện biến dạng bề mặt đất trong quá trình thi công. Với điều kiện hạn chế về không gian thi công và bảo vệ công trình kiến trúc cổ Nhà hát Thành phố cần đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và lúc vận hành khai thác. Tại nghiên cứu này, tác giả trình bày công nghệ Jet - Grouting (cọc xi măng - đất phụt vữa áp lực cao) gia cố đất nền xung quanh hầm tại vị trí khó khăn trên để giảm lún bề mặt đất và công trình Nhà hát. Phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) được sử dụng để đánh giá độ lún bề mặt đất nề...

pdf5 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 18/02/2021 | Lượt xem: 33 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng công nghệ jet-Grouting gia cố xung quanh hầm bảo vệ công trình móng nông tại tuyến Metro số 1 - thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
26 Journal of Transportation Science and Technology, Vol 21, Nov 2016 SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ JET-GROUTING GIA CỐ XUNG QUANH HẦM BẢO VỆ CÔNG TRÌNH MÓNG NÔNG TẠI TUYẾN METRO SỐ 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH USING JET-GROUTING TO REINFORCED SOID MASS SURROUNDING THE TUNEL AND PROTECT THE CONSTUCTION FOUNDATION IN METRO LINE 1 – HO CHI MINH CITY Phan Sỹ Liêm, Nguyễn Bá Hoàng Trường Đại Học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh Tóm tắt: Việc thi công hầm bằng công nghệ khiên đào sẽ xuất hiện biến dạng bề mặt đất trong quá trình thi công. Với điều kiện hạn chế về không gian thi công và bảo vệ công trình kiến trúc cổ Nhà hát Thành phố cần đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và lúc vận hành khai thác. Tại nghiên cứu này, tác giả trình bày công nghệ Jet - Grouting (cọc xi măng - đất phụt vữa áp lực cao) gia cố đất nền xung quanh hầm tại vị trí khó khăn trên để giảm lún bề mặt đất và công trình Nhà hát. Phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) được sử dụng để đánh giá độ lún bề mặt đất nền. Từ kết quả tính toán bằng phương pháp PTHH đưa ra quan hệ giữa đặc trưng thông số của cọc xi măng – đất (Jet - Grouting) với độ lún bề mặt đất nền trên hầm và góc Nhà hát tại vị trí nguy hiểm nhất, trong điều kiện độ lún mặt đất cho phép nhỏ hơn 10mm. Từ khóa: Jet-Grouting, lún bề mặt, khiên đào, PTHH. Abstract: Due to tunneling with tunnel boring machine the surface settlerment will appear. With the restriction on construstion site and have to protection of ancient architicture Opera House building, the tunnel have to be placed ensure technical requirements and operating. In this study, the authors use the Jet - Grouting (Cement piles - high pressure grouting) for reinforcement of surrounding ground tunnels going through the restriction site to reduce surface settlerment and Opera House building. The finite element method will be used to evaluate the surface settlerment. From the results calculated by the finite element method will make the relationship between the characteristic parameters of the pile Jet - Grouting with the surface settlerment above the tunnel and the most dangerous locations Opeara House building corner’s, with a maximum allowable surface settlement of 10mm. Keywords: Jet - Grouting, surface setterment, tunnel boring machine, element method. 1. Giới thiệu Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trung tâm kinh tế, tài chính của cả nước với số dân 7,95 triệu người (Tổng cục thống kê - 2014) được xem là thành phố năng động cả nước và ASEAN. Trong khi, hệ thống hạ tầng giao thông chưa được phát triển, tình trạng kẹt xe giờ cao điểm ngày càng tăng. Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống Đường sắt đô thị (ĐSĐT) tại TP.HCM phát triển sớm từ cuối những năm 90. Tuyến Metro số 1 ngầm dưới lòng đất 2,6 km độ sâu trung bình [-12÷ -25]m tính theo cao độ đỉnh ray và được thi công bằng TBM (Tunnel Boring Machine) (BQLĐSĐT - 2010). Khi đưa TBM vào thi công sẽ xuất hiện lún bề mặt đất tại khu vực tuyến thi công. Nhà hát Thành phố (NHTP) nằm trong phạm vi thi công và cách tim hầm tại vị trí nguy hiểm nhất 9,14m. Móng NHTP dạng móng nông cọc cừ 25 cây/m2 và có ý nghĩa lịch sử quan trọng nên phương án giảm thiểu lún bề mặt trong điều kiện cho phép bé hơn 10 mm (Attewell 1986)[1] được xem ưu tiên giải quyết trước khi thi công tuyến hầm qua đây. 2. Tuyến Metro số 1 2.1. Giới thiệu về dự án Metro số 1 Tuyến ĐSĐT số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) được Ủy ban Nhân dân TP.HCM phê duyệt với sự hỗ trợ vây vốn ODA (Official Development Assistance) của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ký kết với Chính phủ Việt Nam ngày 30/3/2007 (BQLĐSĐT). Tuyến dài 19,7km, trong đó có 17,1km đi trên cao và 2,6km đi ngầm. 2.2. Vị trí công trình Độ lún của tòa nhà NHTP nằm trong khu vực gần đoạn tuyến đi qua được nghiên cứu qua mô hình mô phỏng sử dụng phần mềm Plaxis 2D. TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 21-11/2016 27 Khoảng cách từ tim hầm (đoạn ống chạy trùng tim trên dưới) đến góc tòa nhà tại vị trí nguy hiểm nhất là 9,14m (hình 1). Hình 1.Mặt cắt dọc tại vị trí nghiên cứu. (Thiết kế cơ sở-BQLĐSĐT-2010) 2.3. Số liệu địa chất Địa chất khu vực nghiên cứu được sử dụng thông số hố khoan U150 (bảng 1). Bảng 1. Thông số địa chất tại hố khoan U150. Nguồn: BQL ĐSĐT-01/2016. 2.4. Thông số đầu vào cho mô hình mô phỏng Bảng 2. Thông tin về hầm và máy TBM. Hình 2. Hướng tuyến Metro số 1 đi qua NHTP. (Nguồn: Google Earth). Bảng 3. Các thông số đặc trưng khiên TBM - móng Nhà hát. Nguồn: BQL ĐSĐS-01/2016. Số liệu về tải trọng (BQL ĐSĐT – 2016): - Tải trọng nhà hát gồm bốn tầng (bề rộng phương ngang 30m): 60kN/m2; - Tải trọng công viên và giao thông trên bề mặt: 10 kN/m2. 3. Phương pháp nghiên cứu 3.1. Cơ sở lý thuyết Dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan về vấn đề lún sụt bề mặt nền đất trong thi công bằng máy khiên đào TBM. Dựa trên cơ sở đường cong Graus, Peck (1969) đề xuất hình dạng đường trũng bề mặt đất nền trên đỉnh hầm và công thức thực nghiệm New & O’Reilly (1982), Mair (1996) về tính toán độ lún lớn nhất trên bề mặt tại vị trí đỉnh hầm. Độ lún trong bài này được phân tích bằng phần tử hữu hạn (PTHH). Độ lún bề mặt đất trên đỉnh hầm dựa trên thông số địa chất lỗ khoan U150 (bảng 1). Nguyễn Đức Toản (2006) đã tính toán lại độ lún của hầm trong dự án tuyến hầm Italian National Railway bằng phương pháp PTHH bao gồm bài toán lún bề mặt đất nền và về độ ổn định của bề mặt khiên đào. Phương pháp PTHH được sử dụng mô phỏng lún bề mặt đất khi thi công bằng TBM và khi được gia cố nền bằng Jet - Grouting. Độ lún bề mặt nền đất được khảo sát theo sự thay đổi của đặc trưng của lớp ngăn bằng xi măng trộn với đất (Mô đun đàn hồi và bề dày tường xi măng – đất). 3.2. Phương pháp PTHH Phần mềm Plaxis 2D được sử dụng mô phỏng lún bề mặt nền đất trên đỉnh hầm dựa trên giá trị mất mát thể tích VL(%). Mô hình Mohr - Culomb được chọn để mô phỏng ứng 28 Journal of Transportation Science and Technology, Vol 21, Nov 2016 xử đất nền, bài toán thoát nước (Drained), tải trọng tính toán tại vị trí nghiên cứu gồm: Nhà hát, giao thông, móng Nhà hát (hình 3). Hình 3. Mô hình phân tích bằng Plaxis 2D. Giá trị độ lún phụ thuộc vào giá trị mất mát thể tích VL(%) theo từng loại đất và công nghệ thi công. - Đối với đất cát: 0,5%; đất sét 1%÷2% thi công bằng công nghệ gương kín (New & O’Reilly 1991). - Tham khảo dự án Circle Line - Singapore địa chất tương tự TP.HCM chọn VL = 1% thiên về an toàn. Tác giả đề xuất VL= 1% đảm bảo an toàn. 4. Kết quả tính toán Để so sánh các trường hợp trước và sau khi gia cố nền, tác giá đề xuất các trường hợp để phân tích độ lún bề mặt đất nền như sau: 1. Vị trí khảo sát tại hai điểm gồm: Điểm A (mặt nền đất trên đỉnh hầm) và điểm B (góc phải nhà hát cách tim hầm 9,14m); 2. Khi nền chưa gia cố, phân tích độ lún với trường hợp tải trọng bên trên, thi công hầm dưới trước, hầm trên sau; 3. Khi nền gia cố Jet - Grouting phân tích độ lún với trường hợp tải trọng bên trên, xử lý nền bằng Jet - Grouting trước, tiếp theo thi công hầm dưới, sau cùng thi công hầm trên; 4. Khảo sát mối quan hệ về độ lún bề mặt với giá trị mô đun đàn hồi và bề dày tường xi măng – đất. 4.1. Kết quả tính toán độ lún của nền chưa gia cố Hình 4. Kết quả chuyển vị trường hợp không gia cố. Hình 5. Giá trị lún bề mặt S(mm) tại hai điểm khảo sát. Nhận xét: - Độ lún lớn nhất tại hai điểm khảo sát tăng so với lúc chưa thi công, điểm A tăng từ 14,62mm lên 38,71mm; điểm B tăng từ 52,48mm lên 61,04mm. - Lúc thi công TBM đất nền bên dưới, ngoài việc chịu tải trọng của tòa nhà, giao thông còn có thêm tải trọng của TBM và vỏ hầm và mất mát thể tích khi đào. Điều này dẫn đến độ lún bề mặt tăng lên là hợp lý. - Tuy nhiên giá trị độ lún lớn nhất vẫn lớn hơn độ lún cho phép 10mm nên cần phải đưa ra giải pháp xử lý gia cố nền trước khi thi công hầm. 4.2. Kết quả tính toán độ lún của nền được gia cố Jet - Grouting Mô hình nghiên cứu NHTP là biểu tượng nghệ thuật và lịch sử của TP.HCM, nên bảo vệ công trình này trong quá trình thi công được ưu tiên, với độ lún cho phép nhỏ hơn 10mm. Hình 6. Mô hình gia cố bằng Jet-Grouting tại NHTP. Phương pháp Jet - Grouting được đề xuất trong thiết kế sơ bộ dạng khung xung quanh hầm chiều dài vùng gia cố 83,5m đi qua vị trí NHTP (TKCS – BQLĐSĐT - 2010). TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI, SỐ 21-11/2016 29 Bảng 4. Thông số đặc trưng Jet-Grouting. Nguồn: BQLĐSĐT-03/2016 Trong bài nghiên cứu này, chỉ thay đổi giá trị E và  như sau: - Bề dày tường XM-Đ [] thay đổi như sau: 0,5m; 1,0m; 1,5; 2,0m; 2,5m; 3,0m; 3,5m. - Mô đun đàn hồi E thay đổi như sau: 120MPa; 140MPa; 160MPa; 180MPa (BQL ĐSĐT); 200MPa.  Kết quả tính toán a) Quan hệ E-S với  cố định Tính toán ban đầu với E = [120÷200] MPa và  = 2,7m (TKCS-BQL ĐSĐT-2010) để khảo sát độ lún lớn nhất theo E. Kết quả tính toán như sau: Hình 7. Quan hệ Mô đun đàn hồi E và độ lún bề mặt S ứng với giá trị  =2,7m. Nhận xét: Với kết quả tính toán và đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa E-S cho ta thấy. - Tại điểm A: Khi E = [120÷180]MPa độ lún bề mặt giảm từ 11,99mm xuống 9,91mm và giảm chậm khi E = [180÷200]MPa từ 9,91mm xuống 9,71mm tất cả thỏa mãn nhỏ hơn 10mm. - Tại điểm B: Khi giá trị E = [120÷200]MPa độ lún giảm dần nhỏ hơn 10mm. => Để Smax < 10mm khi sử dụng vữa có E = [180 ÷ 200] MPa. Với E = 180MPa độ lún cho phép 9,91mm < 10mm, giá trị E này tối ưu nhất thiết kế (BQLĐSĐT -2016), khi E > 200MPa độ lún giảm nhưng gây khó khăn cho việc tạo ra vữa có cường độ cao gây tốn kém thời gian và kinh phí thực hiện. b) Quan hệ E-S- cho độ lún bề mặt Để xác định quan hệ E-S-, giá trị E = [120 ÷ 180] MPa và  = [0,5 ÷ 3,5] m. Khảo sát độ lún bề mặt tại 2 điểm A và B. Hình 8. Quan hệ E-S- tại điểm A. Hình 92. Quan hệ E-S- tại điểm B. Hình 30. Biểu đồ ứng suất xx - zz tại điểm B. Kiểm tra độ ổn định của nền đất tại góc móng NHTP tại B cách mặt đất 0,6m: - Sinmax (chưa gia cố) = 0 o7’18” <25o (ổn định). - Sinmax (gia cố) = 0 o7’23” < 25o (ổn định). Kiểm tra sức chịu tải của đất nền tại góc móng NHTP tại B cách mặt đất 0,6m: - Ptc = 73,2(kN/m2) < Pgh = 319,88(kN/m 2)  ổn định của đất nền. Hình 41. Đồ thị so sánh độ lún SEi - Sqt. 30 Journal of Transportation Science and Technology, Vol 21, Nov 2016 - Tại điểm A, với E = [180÷200] MPa và  =2,7 m có S lần lượt là 9,91 mm và 9,71 mm lớn hơn độ lún quan trắc 7,6mm (Báo cáo quan trắc – BQL ĐSĐT – 6/2016). - Tại điểm B, với E = [180÷200] MPa và  =2,7 m có S lần lượt là 5,58 mm và 5,81 mm xấp xỉ độ lún quan trắc 5,6mm (Báo cáo quan trắc – BQL ĐSĐT – 6/2016). Nhận xét: Từ kết quả tính và đồ thị thể hiện tại 2 điểm A, B theo các trường hợp tăng mô đun đàn hồi E và bề dày tường  cho thấy mức độ lún giảm dần và đạt độ lún cho phép <10 mm. - Ứng suất tại vị trí góc móng NHTP cách mặt đất 0,6m có tăng khi thi công hai hầm và có giá trị giảm khi gia cố nền trước khi thi công hai hầm. - Giá trị độ lún cho nền tại hai điểm A,B so với quan trắc thực tế có giá trị chênh lệch trong quá trình tính toán và mô phỏng bằng phần mềm. Nhưng giá trị chênh lệch này không quá lớn so với thực tế quan trắc vẫn đảm bảo an toàn trong phạm vi cho phép. - Tại điểm A, với E = [120÷140] MPa và  = 3,5 m có độ lún S lần lượt là 9,98mm và 9,49mm nhỏ hơn độ lún cho phép 10mm. - Tại điểm A, với E = 160MPa và  = 3,0 m có độ lún S là 9,99 mm < 10mm. - Tại điểm A, với E = [180÷200]MPa và  =2,7 m có S lần lượt là 9,91 mm và 9,71 mm nhỏ hơn độ lún cho phép 10 mm. - Tại điểm B, với mọi giá trị E và  độ lún S trong khoảng [8,47÷5,09] mm < 10mm. 5. Kết luận và khuyến nghị 5.1. Kết luận Từ các kết quả nghiên cứu trên, tác giả rút ra các kết luận sau: - Độ lún bề mặt phụ thuộc vào công nghệ và việc kiểm soát quá trình vận hành máy đào trong lúc thi công. - Giá trị VL = 1% là giá trị an toàn để kiểm soát quá trình tính toán lún bề mặt. - Phương pháp gia cố nền Jet - Grouting phù hợp với địa chất tại dự án, giảm độ lún bề mặt, ta nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa mô đun đàn hồi và bề dày tường xi măng – đất. - Với E = [180 ÷ 200] MPa độ lún nằm trong giới hạn cho phép và chiều dày tường  = 2,7 m đảm bảo chịu lực, tiết kiệm chi phí. - Khi E > 180MPa và chiều dày tường tăng từ 2,7÷3,5m chiếm nhiều diện tích trong điều kiện chật hẹp và kinh phí thi công cao. 5.2. Khuyến nghị Từ các đánh giá trên công nghệ Jet- Grouting để giảm độ lún bề mặt nền nhỏ hơn 10mm tại khu vực NHTP là phù hợp. - Chiều dày tường được khuyến nghị [2,7 ÷ 3,0] m là tối ưu đảm bảo yêu cầu về độ lún bề mặt cho phép và bảo vệ công trình Nhà hát Thành phố trong quá trình thi công. - Mô đun đàn hồi vữa phun nằm trong khoảng [180 ÷ 200] MPa được xem phù hợp với các loại thông số vữa hiện nay; trên thế giới, mô đun đàn hồi của vữa phổ biến nhỏ hơn 500MPa [6] Tài liệu tham khảo [1]. Attewell, P. B, Yeates, J. & Selby, A. R. (1986), Soil movements induced by tunnelling and their efects on pipelines and structures, Blackie and Son Ltd, UK; [2]. Maidi, B. (1996), Mechanised Shield Tun-nelling, Wiley-VCH, 1st edition, 446 papers; [3]. Ban Quản lý Đường sắt Đô thị - Tài liệu thiết kế (2010 – 2016); [4]. O’Reilly, M. P. and B. M. New (1982), Settle- ment aboved tunnels in the United Kingdom- Their magnitude and prediction, Brighton, Engl, Inst of Mining & Metallurgy, Volume 20, Issue 1, paper173-181; [5]. Peck, R. B. (1969), Deep excavations and tun- nelling in soft ground, The 7th International Conference Soil Mesh, Mexico City, State of the art 3, paper 225-290; [6]. Nguyễn Tăng Thanh và Trần Nguyễn Hoàng Hùng (2011), Đặc trưng của đất-xi dùng công nghệ phụt vữa cao áp (Jet-Grouting) để giảm lún bề mặt khi thi công tuyến Metro số 1 bằng máy khiên đào TBM ở TP.Hồ Chí Minh, Tạp chí GTVT (12/2011), trang 23-26. Ngày nhận bài: 6/10/2016 Ngày chuyển phản biện: 10/10/2016 Ngày hoàn thành sửa bài: 31/10/2016 Ngày chấp nhận đăng: 7/11/2016

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf111_1_317_1_10_20170817_1186_2202542.pdf
Tài liệu liên quan