Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức lý Luận văn học vào làm bài văn nghị luận cho học sinh Trung học Phổ thông - Phạm Thị Anh

Tài liệu Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức lý Luận văn học vào làm bài văn nghị luận cho học sinh Trung học Phổ thông - Phạm Thị Anh: TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 5 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN DỤNG TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Phạm Thị Anh1 TÓM TẮT Tri thức lý luận trong CT, SGK Ngữ văn THPT không chỉ cung cấp những tri thức để tiếp cận văn bản đọc hiểu mà đối với quá trình làm bài văn nghị luận còn như một “chìa khóa” để HS định hướng để HS giải quyết những vấn đề mà đề bài đặt ra. Tri thức này được sắp xếp, đan xen với tri thức về văn bản đọc hiểu, hoặc, ở mục “Tri thức đọc hiểu”, cuối mỗi tác phẩm. Để hướng dẫn HS vận dụng tri thức này trong bài làm văn nghị luận, cần chú ý tới một số biện pháp: cung cấp đầy đủ, khoa học và hệ thống tri thức lý luận văn học; tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề làm văn và kiến thức lý luận văn học cần vận dụng trong bài làm; lựa chọn cách diễn đạt tri thức lý luận văn học trong bài làm văn... 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ vă...

pdf7 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 23/01/2021 | Lượt xem: 159 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức lý Luận văn học vào làm bài văn nghị luận cho học sinh Trung học Phổ thông - Phạm Thị Anh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 5 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN DỤNG TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Phạm Thị Anh1 TÓM TẮT Tri thức lý luận trong CT, SGK Ngữ văn THPT không chỉ cung cấp những tri thức để tiếp cận văn bản đọc hiểu mà đối với quá trình làm bài văn nghị luận còn như một “chìa khóa” để HS định hướng để HS giải quyết những vấn đề mà đề bài đặt ra. Tri thức này được sắp xếp, đan xen với tri thức về văn bản đọc hiểu, hoặc, ở mục “Tri thức đọc hiểu”, cuối mỗi tác phẩm. Để hướng dẫn HS vận dụng tri thức này trong bài làm văn nghị luận, cần chú ý tới một số biện pháp: cung cấp đầy đủ, khoa học và hệ thống tri thức lý luận văn học; tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề làm văn và kiến thức lý luận văn học cần vận dụng trong bài làm; lựa chọn cách diễn đạt tri thức lý luận văn học trong bài làm văn... 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn trung học phổ thông (THPT), bên cạnh tri thức về các văn bản đọc hiểu (văn bản văn học, văn bản thông tin), còn có tri thức về lý luận văn học. Loại tri thức này có vai trò quan trọng trong sự định hướng cách tiếp cận tác phẩm văn học, đồng thời cũng giúp cho học sinh (HS) có thể làm bài văn nghị luận văn học tốt hơn. Tuy nhiên, nội dung tri thức này bao gồm những vấn đề gì, cách vận dụng những tri thức này như thế nào để HS làm bài văn nghị luận văn học có hiệu quả là vấn đề cần phải được xem xét kỹ lưỡng hơn, ở cả hai phía: cách dạy của GV và cách tiếp cận của HS. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến những nội dung trên. 2. NỘI DUNG 2.1. Tri thức lý luận văn học, vai trò của tri thức lý luận văn học Lý luận văn học (theory of literature) là “một môn học nghiên cứu văn học, có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của sáng tác văn học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học” [7, 173]. Tri thức lý luận văn học ở THPT, ở một góc độ nhất định, bao trùm hệ thống tri thức văn học của HS THPT. Tri thức này không đơn thuần chỉ bó hẹp trong một số tiết 1 TS. Giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức. TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 6 dạy lý luận của CT mà được khái quát trên cơ sở những tri thức về lịch sử văn học và tri thức về tác phẩm văn chương. Lý luận văn học là tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra năng lực cho HS. Một mặt, nó giúp HS những tri thức cần thiết nhằm tiếp cận các sự kiện văn học, bao gồm: tác giả, tác phẩm, trào lưu, khuynh hướng. Mặt khác, nó cũng giúp HS năng lực sản sinh văn bản. Năng lực sản sinh văn bản liên quan trực tiếp đến việc dạy học Làm văn. Ở góc độ Làm văn, việc hiểu biết và sử dụng tri thức lý luận văn học trong bài làm văn nghị luận có một số vai trò sau: - Cung cấp cho HS những tri thức về cơ bản nhất lý luận bản chất của tác phẩm văn chương. Những tri thức cơ bản này sẽ giúp HS hoàn thiện, nâng cao tri thức về văn học. Nếu đọc hiểu văn bản là quá trình “giải mã” văn bản thì tạo lập văn bản, tức là quá trình Làm văn là “bắt chước” sáng tạo để làm ra một văn bản phù hợp với yêu cầu của quá trình giao tiếp. Trong quá trình từ “giải mã” đến tạo lập ấy, kiến thức lý luận văn học chính là công cụ để người viết biến những hiểu biết của mình thành bài văn, đáp ứng yêu cầu của đề bài. - Rèn luyện cho HS kỹ năng lập luận thuyết phục, khoa học, chính xác, tránh được những suy diễn không phù hợp với yêu cầu của đề bài. Có thể xem, đây là những kiến thức trực quan, giúp các em làm bài tốt hơn. Ví dụ: Khi làm bài văn liên quan đến nhân vật, cách phân tích nhân vật, những kiến thức cơ bản về nhân vật, kiểu nhân vật, ngoại hình, tính cách nhân vật chính là cơ sở để HS làm bài văn có tính khoa học hơn, thuyết phục hơn. - Lí luận văn học cũng là tri thức có khả năng rèn luyện tư duy khoa học, tư duy logic, giúp HS nâng cao khả năng cảm thụ văn chương; trên cơ sở ấy làm bài văn nghị luận văn học tốt hơn. 2.2. Cách sắp xếp nội dung tri thức lý luận văn học trong SGK Ngữ văn THPT Một trong những điểm đổi mới của CT, SGK Ngữ văn THPT hiện nay là xây dựng theo nguyên tắc tích hợp. Các phần Văn học, tiếng Việt, Làm văn không còn tách biệt như trước đây nữa mà được tích hợp theo một nội dung chung, gọi là Ngữ văn. Tuy ba phân môn này có những yêu cầu riêng về nội dung, phương pháp dạy học nhưng tất cả đều tích hợp trong các hoạt động nghe, nói, đọc, viết, dựa trên hai trục chính: đọc văn và làm văn. Trong trục đọc hiểu văn bản còn thực hiện tích hợp tri thức đọc hiểu văn bản với tri thức văn hóa, lịch sử văn học, lý luận văn học. Do đó, việc sắp xếp kiến thức lý luận văn học trong CT, SGK chịu sự chi phối của cách sắp xếp các bài đọc văn. TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 7 - Theo cách sắp xếp của CT, các văn bản đọc hiểu vừa được sắp xếp theo các thời kì văn học, vừa được sắp xếp theo cụm thể loại. Song song với tri thức về văn bản đọc hiểu là các tri thức khác, trong đó có tri thức đọc hiểu lý luận văn học. Như vậy, tri thức đọc hiểu thường được sắp xếp sau tri thức về văn bản. Do đó, cách sắp xếp này sẽ tạo điều kiện cho việc hình thành kiến thức lý luận văn học, bởi, việc đọc văn, cảm thụ văn học phải tuân theo quy luật thể loại. Đọc hiểu văn bản tự sự khác với đọc hiểu văn bản trữ tình hay kịch. Ngay trong đọc hiểu văn bản tự sự nhưng cách tiếp cận văn bản tự sự dân gian sẽ khác với cách tiếp cận văn bản tự sự trung đại hoặc hiện đại. Từ lớp 10 đến lớp 12, tri thức đọc hiểu lý luận văn học bao gồm các vấn đề sau: + Lớp 10: chủ yếu gồm các tri thức về thể loại văn học dân gian, văn học trung đại. + Lớp 11: tiếp tục củng cố những tri thức trên nhưng có thêm tri thức về các thể loại văn học hiện đại, tri thức về tác giả, tác phẩm, phong cách + Lớp 12: tiếp tục cung cấp và hoàn thiện những tri thức trên, đồng thời chú ý thêm các vấn đề về trào lưu, khuynh hướng văn học và các hiện tượng văn học hiện đại. Việc sắp xếp các tri thức lý luận văn học như thế, tự nó đã định hướng phương pháp dạy học tích cực. Lý luận văn học và đọc văn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đứng ở góc độ Làm văn, các tri thức lý luận văn học này cũng góp phần quan trọng để HS có khả năng tạo lập một bài văn theo những yêu cầu khác nhau. Nếu như mối quan hệ giữa tri thức lý luận văn học và đọc văn là mối quan hệ giữa lý thuyết khái quát và hiện tượng văn học cụ thể thì mối quan hệ giữa tri thức lý luận văn học với Làm văn nói chung, viết văn nghị luận nói riêng là quan hệ giữa lý thuyết định hướng và việc hiểu, bắt chước, làm theo “mẫu” một cách sáng tạo. - Cũng dựa trên nguyên tắc tích hợp, các bài lý luận văn học trong CT, SGK Ngữ văn THPT không còn tách thành những tiết học riêng và chỉ được học ở cuối năm học như trước đây nữa mà được sắp xếp rải rác, xen kẽ với các bài học khác. Ví dụ: + Lớp 10: Bài Đọc hiểu văn bản văn học được học ở giữa kì 1. + Lớp 11: Bài Đọc truyện, Đọc thơ, Đọc kịch bản văn học, Đọc văn nghị luận cung cấp cho HS những tri thức về đọc hiểu văn bản dựa trên nền kiến thức về thể loại văn học. + Lớp 12: Gồm 4 bài: Các giá trị văn học, Tiếp nhận văn học, Phong cách văn học, Quá trình văn học góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu văn của HS – đọc và khám phá các giá trị của văn học. - Cách sắp xếp tri thức lý luận văn học trong SGK (CT Cơ bản) và SGK (CT Nâng cao) cũng có sự khác biệt. Vẫn dựa trên cách sắp xếp trên nhưng điểm khác biệt cơ bản nhất của CT, SGK Ngữ văn Nâng cao là tri thức lý luận văn học còn lồng ghép, TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 8 tích hợp tri thức này với các bài đọc văn, cụ thể là phần Tiểu dẫn và Tri thức đọc hiểu. Điều này đã khắc phục được một phần hạn chế giữa dung lượng kiến thức lý luận văn học cần hình thành với thời lượng dạy học. Đây là phần kiến thức được sắp xếp từ đầu đến cuối SGK, tuy được viết ngắn gọn nhưng đã bổ sung một lượng kiến thức lớn, phục vụ cho việc đọc hiểu các văn bản văn học trong CT, đồng thời cũng phù hợp với đối tượng HS khi chọn CT, SGK Ngữ văn Nâng cao. Ví dụ: Kiến thức bài Đọc hiểu truyện ngắn và tiểu thuyết sẽ được bổ sung trong Tri thức đọc hiểu với hàng loạt các vấn đề: Tiểu thuyết trung đại Việt Nam, tiểu thuyết hiện đại, truyện ngắn, tình huống truyện, chi tiết nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật, thời gian nghệ thuật 2.3. Các biện pháp, cách thức hƣớng dẫn HS THPT vận dụng tri thức lý luận văn học vào làm bài văn nghị luận Tri thức lý luận văn học không chỉ có vai trò quan trọng trong việc đọc hiểu văn bản, đặc biệt là hướng đọc hiểu theo thể loại mà còn có ý nghĩa lớn, chi phối đến hiệu quả bài làm văn nghị luận của HS. Tuy nhiên, việc vận dụng tri thức này cần phải được dựa trên những biện pháp, cách thức cụ thể, cần có sự định hướng của GV. 2.3.1. Xác định và truyền đạt nội dung tri thức lý luận văn học cần hình thành cho HS Nhìn chung, kiến thức lý luận văn học trong CT, SGK Ngữ văn THPT tập trung trên các nội dung sau: - Tri thức về văn bản văn học, đặc trưng của văn học - Tri thức về thể loại văn học Nội dung tri thức này khá rộng, bao gồm tất cả các thể loại được giảng dạy trong chương trình. Đó là tri thức về thể loại văn học dân gian (cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ca dao, dân ca, chèo, tuồng); thể loại văn học trung đại ( thơ, truyện, kí, chiếu, cáo, hịch, phú ); thể loại văn học hiện đại (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, kí) - Tri thức về phong cách văn học - Tri thức về giá trị văn học, tiếp nhận văn học. Những tri thức này được trình bày khá rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn trong SGK và cũng đã định hướng về cách dạy học ở sách giáo viên (SGV). Các tri thức này cần phải được giảng dạy có hệ thống, theo đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Không có những hiểu biết tối thiểu về những tri thức này, HS khó mà giải quyết được hàng loạt vấn đề liên quan đến hai kiểu bài nghị luận cơ bản trong chương TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 9 trình Làm văn ở phổ thông: nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích); nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. 2.3.2. Tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề làm văn và kiến thức lý luận văn học cần vận dụng trong bài làm Kiến thức lý luận có ý nghĩa quan trọng, là một trong những tiền đề lý thuyết của việc dạy học làm văn. Nhưng, bài văn không phải là bài kiểm tra lý thuyết về lý luận văn học mà là sự vận dụng những tri thức lý luận văn học đã được học để giải quyết những vấn đề cụ thể được đặt ra ở đề bài. Do đó, GV cần định hướng cho HS tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề làm văn và kiến thức lý luận văn học cần vận dụng trong bài làm. Đây chính là một khâu trong phần phân tích đề, từ đó, định hướng nội dung kiến thức cần sử dụng trong bài làm văn của HS. Ví dụ: Câu 3a, đề thi Đại học, Cao đẳng khố C năm 2013, theo chương trình Cơ bản: Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thưở trước, lại có ý kiến cho rằng, hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính kháng chiến chống Pháp. Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh / chị hãy bình luận ý kiến trên. Như vậy, nội dung kiến thức chủ đạo trong bài làm của HS là bài thơ Tây Tiến, trong đó đặc biệt là vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Tuy nhiên, bên cạnh kiến thức chính này, HS còn phải có những hiểu biết tối thiểu về: hình tượng, vẻ đẹp lãng mạn. Đây chính là những tri thức lý luận làm nền tảng để bài làm của các em có độ sâu, có sức thuyết phục. Điều đó phục vụ trực tiếp cho mệnh đề thứ hai trong đề bài: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính kháng chiến chống Pháp. 2.3.3. Lựa chọn cách diễn đạt tri thức lý luận văn học trong bài làm văn Tri thức lý luận có ý nghĩa quan trọng, định hướng cách làm bài của HS. Tuy nhiên, những vấn đề lý luận văn học không thể đưa thẳng, trực tiếp vào bài văn mà cần phải có sự chắt lọc, lựa chọn, thông qua lý thuyết làm văn để đến với HS. Vì thế, tri thức lý luận văn học, không phải gắn với tất cả các đề văn mà chỉ có quan hệ trực tiếp với những đề làm văn liên quan đến văn bản văn học. Vì thế, cần có sự sắp xếp, lựa chọn cách diễn đạt tri thức lý luận phù hợp với yêu cầu của đề bài. Có thể lưu ý một số yêu cầu sau: - Xác định yêu cầu của đề bài, phạm vi kiến thức, lập dàn ý sơ lược. - Xác định các thao tác lập luận được sử dụng trong bài văn: Các bài văn nghị luận thường sử dụng các thao tác lập luận chính: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận. Căn cứ vào đề bài, HS cần chọn lựa thao tác lập luận chính và thao tác lập luận kết hợp để nghị luận về vấn đề được đề bài đặt ra. TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 10 Trong đề Văn thi Đại học, Cao đẳng khối C năm 2013 theo chương trình Cơ bản đã nêu ở trên, thao tác lập luận chính là bình luận, bên cạnh đó, cần có sự kết hợp với thao tác phân tích, so sánh. - Xác định thời điểm vận dụng tri thức lý luận trong bài làm. Đối với đề văn trên, phần tri thức lý luận cần đưa vào bài làm là nội dung đầu tiên của phần Giải quyết vấn đề, sau khi đã khái quát về bài thơ. Vấn đề là HS phải hiểu: Hình tượng văn học vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa khái quát. Vì thế, chân dung của người lính Tây Tiến trong bài thơ là chân dung của cả thế hệ, thế hệ cầm súng vì một lý tưởng lớn lao “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Vì thế, cả hai ý kiến nêu lên trong đề bài đều đúng, bổ sung ý nghĩa cho nhau, giúp người đọc hiểu đầy đủ hơn vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong cái thời một đi không trở lại của lịch sử giữ nước - những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Mặt khác, tri thức lý luận mà HS cần lựa chọn, vận dụng trong phần này còn là vẻ đẹp lãng mạn, bút pháp lãng mạn được nhà thơ sử dụng khi xây dựng hình tượng người lính Tây Tiến. Chính bút pháp lãng mạn này đã chi phối đến sự khác biệt giữa hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” với hình tượng người lính trong một số bài thơ khác như: “Đồng chí” (Chính Hữu); “Nhớ” (Hồng Nguyên); “Cá nước” (Tố Hữu) Hiểu một cách khái quát nhất, bút pháp lãng mạn thường chú trọng đến cái phi thường, cái đặc biệt; vận dụng thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan của người đọc. Đó là lý do, là cơ sở để khẳng định: người lính Tây Tiến mang trong mình cả hai vẻ đẹp, vẻ đẹp của những tráng sĩ, chinh phu thưở trước “áo bào đỏ thắm”, “vung gươm, cưỡi ngựa”, “ra đi không hẹn ngày về, ra đi không vướng thê nhi”. Bên cạnh đó, người lính Tây Tiến trong bài thơ còn là hình mẫu của vẻ đẹp anh lính Cụ Hồ, thiếu thốn, gian khổ nhưng lẫm liệt, oai phong: Chính vẻ đẹp hài hòa giữa xưa và nay, giữa cổ kính và hiện đại là yếu tố khiến hình tượng người lính trong bài thơ trở nên bất tử. 3. KẾT LUẬN Tri thức lý luận trong CT, SGK Ngữ văn THPT không chỉ cung cấp những tri thức để tiếp cận văn bản đọc hiểu mà đối với quá trình làm bài văn nghị luận còn như một “chìa khóa” giúp HS giải quyết những vấn đề mà đề bài đặt ra. Đây cũng là một trong những tiền đề quan trọng để dạy học lý thuyết Làm văn. Vấn đề là GV phải ý thức được vai trò của loại kiến thức này, những dạng thức cụ thể, cách phân bố trong CT, SGK cũng như các biện pháp cách thức hướng dẫn HS tiếp cận, vận dụng tri thức này trong từng bài làm văn cụ thể. TÀI LIỆU THAM KHẢO TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015 11 [1] Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1996), Phương pháp dạy học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H. [2] Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 1 và 2, Nxb Giáo dục, H. [3] Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 1 và 2, Nxb Giáo dục, H. [4] Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 11, tập 1 và 2, Nxb Giáo dục, H. [5] Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 12, tập 1 và 2, Nxb Giáo dục, H. [6] Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, H. [7] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, H. [9] Phan Trọng Luận (chủ biên) (2001), Phương pháp dạy học Văn, tập 2, NXB Giáo dục, H. KNOWLEDGE ABOUT LITERARY ARGUMENT IN CURRICULUM, HIGH SCHOOL LITERATURE BOOKS Pham Thi Anh Knowledge about literary argument in curriculum, high school literature books not only provides knowledge in order to approach reading comprehension texts but also shows students how to solve problems that topic points out when doing a discursive essay. This knowledge is arranged with knowledge about reading comprehension text, or, at the section “Knowledge about reading comprehension”, at the end of each work. For showing students how to make use of this knowledge when doing a discursive essay, you must pay attention to some methods: provides adequate, scientific system of literary argument; learns, analyzes the relationship between the requirement of the topic and knowledge about literary argument which needs using when doing the task; selects a way to express the knowledge about literary argument when doing a Keywords: Literary argument, literature books, high school.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf55_2194_2137364.pdf
Tài liệu liên quan