Luận văn Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La

Tài liệu Luận văn Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La: ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HOA ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Hà Nội - 2009 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HOA ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SƠN LA CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ MINH LOAN Hà Nội - 2009 2 LỜI CAM ĐOAN Luận văn thạc sỹ chuyên ngành “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” với đề tài “Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La” được tác giả nghiên cứu lần đầu tiên tại trường cao đẳng sư phạm Sơn La. Kết quả, số liệu nghiên cứu được trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là ...

pdf112 trang | Chia sẻ: hunglv | Lượt xem: 1108 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Luận văn Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HOA ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Hà Nội - 2009 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HOA ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SƠN LA CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ MINH LOAN Hà Nội - 2009 2 LỜI CAM ĐOAN Luận văn thạc sỹ chuyên ngành “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” với đề tài “Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La” được tác giả nghiên cứu lần đầu tiên tại trường cao đẳng sư phạm Sơn La. Kết quả, số liệu nghiên cứu được trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả này chưa từng công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Hoa 3 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa 1 Lời cam đoan 2 Mục lục 3 Danh mục các chữ viết tắt 5 Danh mục các bảng 6 Danh mục các biểu đồ 7 MỞ ĐẦU 8 1. Lý do chọn đề tài 8 2. Mục đích nghiên cứu 9 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9 4. Giả thuyết nghiên cứu 9 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 10 6. Phương pháp nghiên cứu 11 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12 1.2. Một số khái niệm cơ bản 16 1.3. Thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm. 33 1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên 35 CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 41 2.1 Mẫu nghiên cứu. 41 2.2. Nội dung và tiến trình nghiên cứu 43 2.3. Phương pháp nghiên cứu. 45 2.4. Các biểu hiện và cách đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên 48 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52 3.1. Thích ứng thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp 52 3.2. Thích ứng với nội dung học tập ở trường cao đẳng 55 3.3. Thích ứng với phương pháp học tập ở trường cao đẳng 62 3.4. Thích ứng với việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp 67 3.5. Thích ứng với điều kiện, phương tiện học tập ở trường cao đẳng 75 4 3.6. Thích ứng với các mối quan hệ ở trường cao đẳng 80 3.7. Tổng hợp mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên 84 3.8. Kết quả phỏng vấn sâu một số trường hợp 94 3.9. Một số yếu tố cơ bản tác động đến mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên 97 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106 1. Kết luận 106 2. Kiến nghị 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC 113 5 DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 CĐSP Cao đẳng sư phạm 2 ĐTB Điểm trung bình 3 ĐK, PTHT Điều kiện, phương tiện học tập 4 HSSV Học sinh, sinh viên 5 KNNN Kỹ năng nghề nghiệp 6 KQHT Kết quả học tập 7 MQH Mối quan hệ 8 NDHT Nội dung học tập 9 PPHT Phương pháp học tập 10 SD Độ lệch chuẩn 11 TB Trung bình 12 TTNN Tâm thế nghề nghiệp 13 TĐHT Thái độ học tập 14 TƯ Thích ứng 15 TƯNN Thích ứng nghề nghiệp 6 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Cơ cấu khách thể nghiên cứu Bảng 3.1: Cách tìm hiểu về ngành học của sinh viên Bảng 3.2: Sự kiên định của sinh viên trong lựa chọn ngành học Bảng 3.3: Đánh giá của sinh viên về các khối kiến thức Bảng 3.4: Tâm trạng của sinh viên trong các giờ học Bảng 3.5: Thái độ của sinh viên đối với các môn học Bảng 3.6: Thích ứng của sinh viên với khối lượng kiến thức ngành học Bảng 3.7: Cách lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập của sinh viên Bảng 3.8: Cách ghi bài của sinh viên trên lớp Bảng 3.9: Cách tìm kiếm tài liệu học tập của sinh viên Bảng 3.10: Thích ứng của sinh viên với kỹ năng soạn và giảng bài Bảng 3.11: Thích ứng của sinh viên với kỹ năng đặt câu hỏi Bảng 3.12: Thích ứng của sinh viên với kỹ năng kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh Bảng 3.13: Thích ứng của sinh viên với việc tham gia các hoạt động tập thể Bảng 3.14: Thích ứng của sinh viên với việc sử dụng các phương tiện học tập Bảng 3.15: Thích ứng của sinh viên với các điều kiện học tập, sinh hoạt Bảng 3.16: Thích ứng của sinh viên với các mối quan hệ ở trường CĐSP Bảng 3.17: Thích ứng của sinh viên với MQH bạn bè Bảng 3.18: Thứ hạng các chỉ số thích ứng với ngành học của sinh viên Bảng 3.19: Mối quan hệ giữa mức độ TƯNN và kết quả học tập của sinh viên Bảng 3.20: Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên theo năm học Bảng 3.21: Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên theo vùng miền Bảng 3.22: Mối quan hệ giữa thái độ học tập và mức độ TƯNN 7 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Mức độ TƯNN thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp Biểu đồ 3.2: Mức độ thích ứng của sinh viên với nội dung học tập Biểu đồ 3.3: Mức độ thích ứng của sinh viên với phương pháp học tập Biểu đồ 3.4: Mức độ thích ứng của sinh viên với việc rèn luyện các KNNN Biểu đồ 3.5: Mức độ thích ứng của sinh viên với ĐK, PTHT Biểu đồ 3.6: Mức độ thích ứng của sinh viên với các MQH ở trường CĐSP Biểu đồ 3.7: Mức độ thích ứng với ngành học của sinh viên Biểu đồ 3.8: Mối quan hệ giữa mức độ TƯNN và KQHT của sinh viên Biểu đồ 3.9: Mức độ TƯNN của sinh viên theo năm học Biểu đồ 3.10: Mức độ TƯNN của sinh viên theo vùng, miền 8 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bước vào thế kỷ 21, với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia và là động lực chủ yêú đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi nước. Do đó, nhu cầu cấp thiết của tất cả các quốc gia là phải không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trách nhiệm đó trước hết thuộc về giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học, cao đẳng. Trong những năm gần đây, giáo dục nước ta mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước. Phần lớn học sinh, sinh viên ra trường hạn chế về năng lực thực hành, khả năng tư duy sáng tạo, điều này phần nào nói lên khả năng thích ứng nghề nghiệp (TƯNN) của sinh viên còn hạn chế. Quá trình TƯNN phải được thực hiện liên tục từ trường phổ thông, trong suốt thời gian sinh viên học tập ở trường cao đẳng, đại học và trong quá trình hành nghề sau này. Khả năng TƯNN giúp sinh viên có thể nhanh chóng hoà nhập và thực hiện hoạt động nghề nghiệp có chất lượng và hiệu quả cao sau khi ra trường. Trường CĐSP Sơn La là trung tâm văn hoá - giáo dục của tỉnh. Hơn 40 xây dựng và phát triển, nhà trường đã đào tạo hàng ngàn giáo viên, đáp ứng nhu cầu về đội ngũ giáo viên cho các ngành học như: Mầm non, tiểu học và THCS của tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giáo viên còn có những hạn chế, bất cập. Một trong các nguyên nhân đó là sự kém thích ứng của sinh viên với ngành học trong quá trình học tập tại trường CĐSP, dẫn tới tình trạng lúng túng, thiếu linh hoạt, hiệu quả thấp trong việc thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp. Sinh viên của trường CĐSP Sơn La đến từ 11 huyện, thị của tỉnh với 12 dân tộc khác nhau, trong đó có xã, bản thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Sinh viên các dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số sinh viên của trường. 9 Mặt khác, sự khác biệt giữa môi trường trung học phổ thông và môi trường đại học và cao đẳng làm cho các em gặp phải không ít khó khăn khi vào học trường cao đẳng. Với mong muốn làm rõ thực trạng vấn đề thích ứng của sinh viên với ngành học trong quá trình học tập ở trường CĐSP Sơn La và đề xuất các biện pháp giúp sinh viên có khả năng thích ứng tốt hơn với ngành học đang được đào tạo, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: " Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Sơn La". 2. Mục đích nghiên cứu Làm rõ thực trạng mức độ TƯNN của sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên có khả năng thích ứng cao hơn với ngành học, nghề nghiệp tương lai của mình. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường CĐSP Sơn La. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu mức độ TƯNN của sinh viên các chuyên ngành sư phạm của trường CĐSP Sơn La gồm 231 sinh viên thuộc 3 chuyên ngành với số lượng cụ thể như sau: - Ngành CĐSP Toán-Lý: 85 SV - Ngành CĐSP Văn-Sử: 68 SV - Ngành CĐSP Mầm non: 78 SV. Đó là những SV đang học ở 3 khoá: Năm thứ nhất: 69 sinh viên, năm thứ hai: 83 sinh viên, năm thứ ba: 79 sinh viên. 4. Giả thuyết nghiên cứu Nhìn chung mức độ TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La còn thấp. Mức độ TƯNN của sinh viên tương quan thuận với KQHT của sinh viên và có sự khác biệt về mức độ TƯNN giữa sinh viên các khoá học và sinh viên các vùng miền khác nhau. Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến mức độ TƯNN của sinh viên, nhưng trong đó yếu tố chủ quan ảnh hưởng mạnh nhất đó là động cơ, 10 thái độ học tập của sinh viên. Từ giả thuyết nghiên cứu trên, chúng tôi có các câu hỏi nghiên cứu sau: - Liệu những sinh viên có mức độ TƯNN cao có KQHT tốt hơn các sinh viên có mức độ TƯNN thấp hay không? - Mức độ TƯNN của sinh viên năm thứ ba có cao hơn sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai hay không? - Liệu những sinh viên sống ở khu vực thành thị có mức độ TƯNN cao hơn sinh viên sống ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa hay không? 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu lý luận: Tổng hợp các công trình nghiên cứu về thích ứng nói chung và thích ứng nghề nghiệp nói riêng để từ đó xây dựng khái niệm công cụ của đề tài: Thích ứng, nghề nghiệp, thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm. 5.2. Chỉ ra thực trạng mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên các chuyên ngành sư phạm trong quá trình học tập tại trường CĐSP Sơn La. 5.3. Phân tích một số yếu tố tác động chủ yếu và những nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ TƯNN của sinh viên. 5.4. Đề xuất những kiến nghị nhằm giúp sinh viên các ngành CĐSP nói riêng và sinh viên nói chung thích ứng tốt hơn với nghề nghiệp tương lai của mình. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập và phân tích các tài liệu lý luận cơ bản liên quan đến vấn đề TƯNN của sinh viên. Trên cơ sở đó, xác định rõ những nội dung của vấn đề đã được nghiên cứu, những tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. 6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng mức độ TƯNN của sinh viên chuyên ngành sư phạm trường CĐSP Sơn La. 6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 20 sinh viên và 20 giảng viên học tập và giảng dạy tại các lớp mà đề tài nghiên cứu để thu thập những thông tin cần thiết nhằm làm rõ hơn các nội dung nghiên cứu trong đề tài. 6.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp 11 Chọn một sinh viên có mức độ thích ứng tốt, một sinh viên có mức độ thích ứng trung bình và một sinh viên có mức độ thích ứng kém để nghiên cứu sâu và mô tả quá trình thích ứng của họ trong quá trình học tập ở trường cao đẳng. 6.5. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia đã và đang nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên để xác định các biểu hiện và tiêu chí đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên. 6.6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết quả học tập như là sản phẩm của hoạt động học tập và so sánh kết quả này với mức độ TƯNN của sinh viên. 6.7. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 13.0 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 7.1. Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần vào việc hệ thống hoá các tài liệu, các công trình nghiên cứu về vấn đề thích ứng nghề nghiệp của sinh viên nói chung và mức độ TƯNN của sinh viên sư phạm nói riêng, qua đó làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu này. Mặt khác, đề tài góp phần vào việc xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên. 7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở khảo sát mức độ TƯNN của sinh viên trong quá trình học tập ở trường cao đẳng sư phạm Sơn La, đưa ra các chỉ số đánh giá cụ thể, rõ ràng để làm rõ thực trạng của vấn đề này. Từ đó, tìm ra những nguyên nhân, hạn chế và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao mức độ TƯNN của sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng hoà nhập với hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường, đáp ứng với yêu cầu của cơ sở tuyển dụng và xã hội. 12 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề TƯNN nói chung và thích ứng của sinh viên trong môi trường cao đẳng, đại học nói riêng từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu về lĩnh vực này thường tập trung vào giải quyết vấn đề khái niệm thích ứng và những vấn đề lý luận có liên quan. Các tác giả cũng tập trung nghiên cứu thích ứng với nghề nghiệp và học tập của sinh viên trong quá trình học tập ở trường cao đẳng, đại học và sau khi ra trường. 1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Các nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên đại học, cao đẳng đã được các nhà Tâm lý học nước ngoài quan tâm từ những năm 60 của thế kỷ 20 Năm 1968, một số tác giả người Nga như N.D.Carsev, L.N. Khadecva và K.D. Pavlov đã nêu ra các tiêu chuẩn sinh lý của sự thích ứng nghề nghiệp, trong đó họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường. Những phản ứng sinh lý, những biến đổi của các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được tác giả quan tâm và chỉ ra những biến đổi cụ thể. Năm 1969, E.A. Ermoleava nghiên cứu "Đặc điểm thích ứng xã hội và nghề nghiệp ở sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm". Tác giả đã đưa ra khái niệm "thích ứng là quá trình thích nghi của người lao động trong tập thể nhất định" và đã đưa ra chỉ số cho sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm. Năm 1971, X.A. Kughen và O.N. Nhicandov đã nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động lao động của các kỹ sư trẻ. Các tác giả này đã đưa ra nhiều mức độ thích ứng khác nhau. Năm 1972, D.A. Andreeva đã phân tích khá sâu sắc khái niệm thích ứng. Tác giả đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học, đặc biệt bà đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lý học hiện 13 đại để nghiên cứu vấn đề thích ứng. Theo bà, thích ứng là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện,hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những điều kiện mới một cách không gượng ép. Từ đó tác giả đưa ra định nghĩa về thích ứng: " là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu có mục đích của nhân cách, tức là con người vừa thích nghi với điều kiện mới, vừa phải chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phù hợp và đáp ứng những yêu cầu của điều kiện mới". Ngoài ra, trong cuốn "Con người và xã hội ", D.A. Andreeva đã so sánh khái niệm " thích ứng và xã hội hoá". Bà cho rằng, hai khái niệm này có sự khác biệt về nội dung: thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con người. Thích ứng nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể với môi trường mới. Còn "xã hội hoá", về cơ bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân. A.S. Serbacov và A.B. Mudric đã nghiên cứu "sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo" và đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng của người thầy giáo. Những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hiệu quả của sự thích ứng đó". Năm 1980, trong tập chí "Những vấn đề tâm lý học" số 4, A.A. Krintreva đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lý của sự thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường ở các trường trung cấp kỹ thuật chuyên nghiệp và trường phổ thông trung học. Tác giả cho rằng: thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản xuất. A.A. Krintreva cũng đưa ra một số chỉ số đặc trưng của sự thích ứng nghề nghiệp đó là: - Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực kỹ thuật. - Sự phát triển tay nghề. - Vị trí xã hội trong tập thể. - Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể. Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng được con người sử dụng để thích nghi với môi trường, nghề nghiệp. Ông đã 14 tập trung nghiên cứu hành vi thích nghi.Theo ông, hành vi thích nghi gồm 3 thành phần: 1/ Một động lực dùng như một kích thích cho hành vi (ví dụ: đói, khát); 2/ Một khung cảnh môi trường hay hoàn cảnh mà sinh vật ở trong đó; 3/ Một phản ứng thoả mãn động lực kia (ví dụ: ăn, uống). Năm 1971, V.I. Alaudie và A.L. Meseracov, trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các sinh viên thuộc khoa Tâm lý học - Đại học tổng hợp Maxcơva đã đi đến kết luận: Việc thích ứng của sinh viên đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội. Như vậy, thích ứng ở đây được hiểu là khả năng tự tổ chức học tập của người học. Năm 1986, A.V. Petrovxki và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề thích ứng học tập của sinh viên. Ông cho rằng thích ứng học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: 1/ Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/ Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/ Thích nghi với các mối quan hệ mới. Năm 1990, B.P. Allen (Mỹ) đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh viên thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường đại học. Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của sinh viên là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; 2/ Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập); 3/ Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực; 4/ Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp. Theo cách hiểu này, sự thích ứng (hay không thích ứng) của sinh viên được giải thích chủ yếu do sinh viên có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của nhà trường đại học. 1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu bước đầu về những vấn đề cụ thể của sự thích ứng học đường của sinh viên đại học. 15 Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung trong đề tài luận văn thạc sỹ "Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý giáo dục" đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý - giáo dục. Nguyễn Ngọc Bích (1982), khoa Tâm lý - giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội có đề tài nghiên cứu mang tên: "Thích ứng học đường của sinh viên sư phạm". Nguyễn Thị Trang (1982), trường đại học sư phạm Hà Nội "Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng học tập của sinh viên khoa Tâm lý - giáo dục". Hoàng Trần Doãn (1983), luận văn thạc sỹ "Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Văn và Toán trường đại học sư phạm Hà Nội I". Phạm Thị Ngần (1986), Luận văn tốt nghiệp cử nhân "Tìm hiểu sự thích ứng học tập ở nữ sinh năm thứ nhất trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn". Trịnh Ngọc Tân (1986) với đề tài "Bước đầu tìm hiểu kết quả của một số biện pháp nâng cao tốc độ thích ứng học tập của sinh viên năm thứ nhất". Lê Thị Hương (1998) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học "Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập ở sinh viên năm thứ nhất trường CĐSP Thanh Hoá". Đỗ Mạnh Tôn với luận án PTS: "Sự thích ứng của sinh viên đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội". Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu sự TƯ của sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường đại học" do PGS.TS. Trần Thị Minh Đức là chủ nhiệm đề tài. Vũ Mộng Đoá (2006) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học " Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Công tác xã hội và phát triển cộng đồng trường đại học Đà Lạt" Dương Thị Nga (2007), với luận văn thạc sỹ "Hình thành khả năng thích ứng nghề cho sinh viên CĐSP qua giảng dạy học phần: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm" Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài tập trung vào 16 nghiên cứu thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập, với môi trường đại học và sự TƯNN của sinh viên đã tốt nghiệp đại học. Vấn đề TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La chưa được làm rõ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mong muốn làm rõ thực trạng TƯNN của sinh viên trong trường, qua đó tìm ra các biện pháp giúp họ thích ứng tốt hơn với chuyên ngành được đào tạo. 1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1 Khái niệm thích ứng 1.2.1.1 Một số lý thuyết về sự thích ứng tâm lý *) Thuyết Tâm Lý học hành vi về vấn đề thích ứng Tâm lý học hành vi do J.Watson khởi sướng với luận điểm cơ bản: Tâm lý học đích thực phải lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu chứ không phải là ý thức. Theo quan điểm những người thuộc dòng phái này, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở người giống động vật, chỉ khác là môi trường sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ và các quy tắc xã hội. Sự thích ứng ở người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không có sự khác biệt về chất so với động vật. Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hoá các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể … Sự thích ứng của con người chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lượng [7]. Thừa kế quan điểm của các nhà Tâm lý học động vật, J. Watson cho rằng để tồn tại, cá nhân có một hệ thống hành vi, ứng xử có được là do học tập. Trong đó từng hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và động lực là sự thích ứng. Đó là quá trình cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống. Sự kém thích ứng là không học được hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi trường. Việc học tập được J. Watson xem xét dưới góc độ hành thành kinh nghiệm và hành vi cá thể (tập nhiễm) … Với lý luận hành vi, ông coi con người là một cơ thể sống với một hệ thống kỹ xảo đã được học đáp ứng với 17 những đòi hỏi của môi trường xung quanh [7]. Sau này lý thuyết Hành vi còn có một xu hướng phát triển khác là tâm lý học hành vi nhận thức mà tiêu biểu là W. Mischel. Trường phái này chú trọng vai trò nhận thức của con người trong quá trình thích ứng. Ông đã nhìn nhận hành vi thích ứng một cách đầy đủ toàn diện hơn. Cùng với việc chú ý đến vai trò của yếu tố bên trong, W. Mischel đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể thích ứng. Mặc dù chưa vạch ra được bản chất đích thực của sự thích ứng tâm lý ở người, nhưng chủ nghĩa hành vi đã có những đóng góp nhất định vào việc giải quyết vấn đề này. *) Tâm lý học nhân văn về vấn đề thích ứng Đại diện tâm lý học Nhân văn là A. Maslow. Ngược lại với chủ nghĩa Hành vi, trường phái này lấy nhân cách là đối tượng nghiên cứu, xem nhân cách là một hiện tượng chỉ có ở người, là một hệ thống mở nhưng trọn vẹn và tự thể hiện. Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và tương lai. Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hướng thiện, vị tha, vì xã hội. Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tư cách là chủ thể với thế giới xung quanh và với chính mình. A. Maslow coi thích ứng là sự thể hiện được những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định. Sự không thích ứng chính là sự không được tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách. Tiền đề tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách, được sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu bẩm sinh nhưng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp được thoả mãn [35]. Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng (của Phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa Hành vi), nhưng A. Maslow có quan niệm khác về yếu tố quy định sự thích ứng. Theo ông, nhu cầu "tự thể hiện" mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng của con người. 18 Tâm lý học Nhân văn đã coi trọng tính tích cực lựa chọn và phẩm chất tự đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân - xã hội. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý nói chung và sự thích ứng với nghề nghiệp nói riêng. Đó là tư tưởng tiến bộ của dòng phái này. *) Tâm lý học Nhận thức về vấn đề thích ứng Đại diện trường phái này là J. Piaget. Trong cuộc sống con người, theo J.Piaget có hai loại hoạt động gắn liền với nhau: Hoạt động tâm lý và hoạt động sinh học. Trong đó, hoạt động tâm lý có nguồn gốc sinh học. Cá thể chỉ tồn tại và phát triển trong mối tương tác giữa cơ thể và môi trường từ đó tạo ra sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường, và cuối cùng cơ thể thích ứng với môi trường [19, 24]. Theo tác giả, thích ứng có 3 cấp độ: - Thích ứng sinh học (thích ứng vật chất) làm cho cơ thể bằng xương bằng thịt tồn tại và phát triển có thể nhận thức trực tiếp qua các giác quan. - Thích ứng tâm lý (thích ứng chức năng) có nguồn gốc sinh học. - Thích ứng trí tuệ: Theo J. Piaget, trí tuệ không phải là cái có ngay từ đầu khi đứa trẻ mới sinh. Nó là kết quả của sự tương tác giữa cơ thể và môi trường. Trong quá trình tương tác giữa cơ thể và môi trường, con người tạo ra trí tuệ của mình. Mỗi người tương tác như thế nào thì trí tuệ được hình thành và phát triển theo hướng đó. Tuy nhiên, J. Piaget luôn khẳng định, trí tuệ có nguồn gốc sinh học, cái sinh học nó tương tác với môi trường tạo nên sự cân bằng, thích ứng. Trí tuệ là sản phẩm của quá trình thích nghi của cơ thể với môi trường. J. Piaget đã có những đóng góp quan trọng vào lý luận về sự thích ứng tâm lý ở con người và cơ chế phát triển của thích ứng nhận thức, về những yếu tố ảnh hưởng đến nó. Tuy nhiên, J. Piaget đã nhìn nhận sự phát triển tâm lý dưới góc độ thích nghi sinh học, ông chủ yếu chú ý tới mặt hình thức của sự thích ứng mà chưa quan tâm đúng mức đến bản chất, nội dung xã hội - lịch sử của sự thích ứng tâm lý người. Ông đã đánh giá quá cao yếu tố thành thục trong sự thích ứng và sự thích ứng diễn ra như thế nào chứ chưa coi trọng vấn 19 đề làm thế nào để phát triển sự thích ứng ở trẻ em cũng như các giai đoạn lứa tuổi khác. *) Phân tâm học về vấn đề thích ứng Phân tâm học là do S. Freud (người Áo) khởi xướng. Xuất phát từ cách nhìn sinh vật học đối với nhân cách, cho rằng nhân cách là một cấu trúc tổng thể trọn vẹn với 3 thành tố "cái nó" (Id), "cái tôi" (ego) và "cái siêu tôi" (superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống con người. Theo S.Freud, hành vi sống của con người có hình thức căn bản và được thúc đẩy bởi bản năng, mà quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm … Tuy nhiên, cái bản năng này luôn bị cấm đoán bởi cái xã hội (cái siêu tôi). Để tồn tại, con người phải đạt được sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối lập "cái nó" và "cái siêu tôi" - đó chính là sự thích ứng. Sự thích ứng là sự thoả mãn hợp lý các bản năng tình dục trong những điều kiện xã hội nhất định. Sự phát triển "cái tôi" nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống cá thể. Lý thuyết Phân tâm cổ điển của S. Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện được bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con người. Sau này, những người kế tục S. Freud đã xây dựng nên trường phái Phân tâm hiện đại như: C. Jung, E. Fromm và E. Erikson. Các ông cho rằng S. Freud quá đề cao "cái nó", cái bản năng trong hành vi con người. Theo họ, "cái tôi" có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân,là chủ thể của hành vi chứ không chỉ là phương thức thoả mãn "cái nó". Khác với S. Freud, các nhà Phân tâm học hiện đại đã coi trọng vai trò cua quan hệ xã hội đối với các hành vi thích ứng của cá nhân. E. Fromm cho rằng: "Cần phải xem xét hành vi thích ứng của cá nhân từ tính chất xã hội của môi trường". E. Erikson thì nhấn mạnh thêm "sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các quan hệ xã hội của cá nhân với những người xung quanh"[34]. Ứng dụng lý thuyết Phân tâm cũ và mới, các nhà tâm thần học theo S.Freud chú ý tới giải thích bản chất và cơ chế của sự thích ứng tâm lý.Con người không phải là một ngoại lệ sinh học. Ngay từ khi mới lọt lòng, đứa bé 20 nhận ra là nó đối lập với các đòi hỏi do xã hội đặt ra, đồng thời cũng là sản phẩm của những đòi hỏi đó. Sự lớn lên của đứa trẻ vừa là quá trình thích nghi về mặt sinh học, vừa là thích ứng về mặt tâm lý. Ví dụ điển hình là một đứa trẻ đói thoả mãn cơn đói bằng phương thức bú sữa mẹ. Sau đó, người lớn (mẹ) bắt nó phải ăn các thức ăn với phương thức mà nó chưa có. Đầu tiên nó chống lại vì không phù hợp. Sau đó, sự trưởng thành về cơ thể cho phép nó ăn được thức ăn đặc. Mặt khác, mẹ nó đòi hỏi nó phải ăn những thức ăn mới này. Với đứa bé, mẹ là hình thái đặc trưng của xã hội đối với nó, ứng xử mới của trẻ (ăn) là kết quả của sự thích nghi và thích ứng để sống còn và phát triển an toàn. Theo đó, quá trình hình thành và phát triển của trẻ em là một quá trình xảy ra các thích ứng và thích nghi để hình thành những ứng xử mới, giúp nó xử lý thích hợp mâu thuẫn giữa cái đã có với những yêu cầu, đòi hỏi của môi trường và thoả mãn nhu cầu bản thân. Nhân cách là tổng thể tất cả các ứng xử của cá nhân. Thích ứng của con người là khả năng duy trì quan hệ giữa cá nhân với môi trường sống của mình, được xác định bằng mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản và có thể chấp nhận được về mặt xã hội của hệ thống ứng xử của người đó. Vì vậy, thực chất quá trình hình thành nhân cách là quá trình cá nhân thích ứng với xã hội. Động lực của sự thích ứng là "lo hãi" bản năng của cá nhân trước các tình huống mới lạ, cái mà con người thường xuyên gặp phải và "lo hãi" là cái không thể loại trừ. Vấn đề là con người thường xuyên phải đối phó với "lo hãi" bằng sự thích nghi và thích ứng để có hành vi phù hợp vơí tình huống. Để có chúng, bên cạnh sự thích nghi, ở cá nhân phải có sự thích ứng mà thực chất là sự đối phó với tình huống bằng các phương thức tâm lý khác nhau gồm có: Phóng chiếu, chuyển dịch, huyễn tưởng, thoái lui, né tránh, thăng hoa… Nhờ các phương thức này, con người giảm nhẹ lo hãi, tạo thế cân bằng động với môi trường và tạo ra sự hài hoà trong quan hệ giữa bản thân với người khác. Mỗi hành vi ứng xử đặc thù của cá nhân trước một tình huống mới là kết quả tổng hoà của cuộc sống và thoả mãn các nhu cầu của chính mình. Sự không thích ứng sẽ tạo ra những stress và là căn nguyên của đa số 21 các trường hợp bệnh lý tâm căn. Mặc dù chưa giải thích được bản chất sự thích ứng của con người, Phân tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần được chú ý về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề. Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này. *) Tâm lý học Mác xít về vấn đề thích ứng Cùng với việc phê phán cách tiếp cận sai lầm trên, tâm lý học Mác-xít giải quyết vấn đề theo một hướng hoàn toàn khác. Một mặt, thừa nhận con người phải thích nghi với môi trường sống như là một sinh vật "vì con người là một tồn tại tự nhiên, nên đương nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động của môi trường". Mặt khác, khẳng định con người là một thực thể xã hội nên "phải đặt vấn đề" một cách khác: khi nói về con người, tức là vấn đề quan hệ "người xã hội" trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề "cơ thể - môi trường". L.X. Vưgôtxki đã chỉ rõ "Quá trình một đứa trẻ bình thường ăn nhập nền văn minh thường thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi. Hai bình diện phát triển - tự nhiên và văn hoá - nhập vào nhau tạo nên một sự hình thành thống nhất xã hội - sinh vật của nhân cách trẻ" [8, tr.131]. Từ quan niệm về sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hoá trong sự phát triển của trẻ em, L.X.Vưgôtxki đã đưa ra một tư tưởng mới về bản chất sự thích nghi của con người. Ông khẳng định: "Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới". L.X. Vưgôtxki gọi dạng thức hành vi chuyên biệt người này là "hành vi cấp cao" [8, tr.130]. Hệ thống hành vi cấp cao này khác biệt về chất lượng so với hành vi sinh vật. Trước hết là ở các kích thích tạo ra chúng. Khác với các động vật khác, con người tự tạo ra các kích thích tác động vào bản thân mình. Hơn thế nữa, con người còn dùng các kích thích tự tạo này để làm chủ hành vi của chính mình: "Con người tự kiểm 22 soát hành vi của chính mình bằng các kích thích - phương tiện tự tạo"[8, tr.134]. Các kích thích - phương tiện được L.X. Vưgôtxki coi là chìa khoá để giải quyết bản chất vấn đề thích ứng tâm lý ở người; là vấn đề có tính nguyên tắc phân biệt phương thức thích ứng ở động vật và người. Theo ông, thích ứng theo nguyên tắc tín hiệu (phản xạ có điều kiện) là loại thích ứng chung cho cả người và động vật. Nhưng ở người, đây không phải là phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo. Phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo ở người có nguyên tắc khác hẳn, không có ở động vật, đó là nguyên tắc dấu hiệu. Quá trình tín hiệu hoá phản ánh các mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp ứng kích thích của môi trường. việc dấu hiệu hoá cho phép con người có khả năng tạo ra một loại cân bằng mới với môi trường - biến đổi chính môi trường và biến đổi hành vi của chính mình với tư cách là một chủ thể tích cực. Dấu hiêu là công cụ tâm lý để chủ thể điều chỉnh hành vi. Dấu hiệu cũng như công cụ vật chất được hình thành trong lịch sử loài người. Cùng với dấu hiệu, "cuộc sống xã hội tạo ra tất yếu buộc hành vi cá thể phải tuân thủ các yêu cầu xã hội"[8, tr.138]. Đó là loại hành vi đặc thù được quy định bởi xã hội. Để có chúng, cá nhân cần phải lĩnh hội từ xã hội. Mặt khác, để điều khiển những hành vi này cần có những nguyên tắc chuyên biệt người, đó là nguyên tắc tự kích thích và làm chủ bản thân. Nguyên tắc này có được ở cá nhân cũng nhờ sự chuyển hoá từ tác động xã hội bên ngoài thành tác động xã hội bên trong con người. L.X. Vưgôtxki viết: "Mọi chức năng trong phát triển văn hoá của trẻ xuất hiện trên vũ đài hai lần, trong hai bình diện - lúc đầu trong bình diện xã hội rồi sau đó trong bình diện tâm lý, lúc đầu giữa con người với con người, rồi sau ở bản thân trẻ, tức là có sự chuyển hoá từ ngoài vào trong, dần dần thay đổi cấu trúc và chức năng" [8, tr.156]. Với việc phát hiện ra dạng thức cấp cao của hành vi người, cơ chế của sự hình thành và điều khiển nó ở cá nhân. L.X. Vưgôtxki đã thấy sự khác biệt cơ bản của sự thích ứng tâm lý - xã hội ở người và sự thích nghi sinh học ở động vật. Theo đó, sự thích ứng của trẻ em trong môi trường xã hội là một quá trình kép. Một mặt trẻ hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng 23 tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi đó. Cả hai mặt của quá trình này đều được thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hoá - xã hội. Những tư tưởng đúng đắn, biện chứng của L.X.Vưgôtxki đã được các nhà tâm lý học Xô viết kế thừa, phát triển và cụ thể hoá. Quan điểm của ông cũng là kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn này. Xuất phát từ nhữg luận điểm cơ bản của tâm lý học Mác- xít được khởi xướng bởi L.X. Vưgôtxki, A.N. Leonchiep đã phân tích sự khác biệt cơ bản giữa sự phát triển con người với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung và cơ chế. Ông viết "Phải nhấn mạnh riêng về sự khác biệt giữa quá trình ấy (tiếp thu, lĩnh hội) với quá trình cá thể thích nghi với môi trường tự nhiên, vì gần như mọi người chấp nhận rằng, có thể đem khái niệm thích nghi, cân bằng với môi trường dùng nguyên vẹn vào cho sự phát triển cá thể người. Nhưng dùng khái niệm ấy vào cho người mà không có sự phân tích cần thiết, thì chỉ làm lu mờ sự phát triển thực sự của người" [9, tr.94]. A.N. Leonchiep chỉ rõ "Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá trình lĩnh hội, tiếp thu là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực, hành vi của cơ thể. Quá trình lĩnh hội hay tiếp thu thì khác. Đó là quá trình mang lại kết quả: cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử" [9, tr.95]. "Những năng lực và chức năng hình thành ở con người trong quá trình ấy là các cấu tạo tâm lý mới. Đối với những cấu tạo này, các cơ chế và quá trình bẩm sinh, di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (tiền đề) giúp cho các cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện" [9, tr.96]. Ông thừa nhận: "Sự phát triển của con người cũng mang tính chất môi trường (tức là phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài), nhưng khác với tiến hoá động vật, sự phát triển của con người không phải là quá trình thích nghi hiểu theo nghĩa của từ này" [9, tr.99]. Như vậy, bản chất và nội dung sự thích ứng của người và sự thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất. A.N.Leonchiep cũng vạch ra sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành hành vi động vật và người. Ở động vật, hành vi được hình thành bới kinh nghiệm loài và cá thể, trong đó sự 24 hình thành kinh nghiệm cá thể là đem hành vi loài thích nghi với những yếu tố biến động của môi trường bên ngoài. Còn ở người, hành vi được hình thành bằng cơ chế lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử. Tất nhiên, cơ chế lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử quan hệ chặt chẽ với cơ chế kinh nghiệm cá thể. Với việc vạch ra sự khác biệt về chất giữa thích nghi sinh vật với thích ứng xã hội - tâm lý của con người, A.N. Leonchiep đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu vấn đề này về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Quá trình thích ứng tâm lý của con người gắn liền với quá trình hình thành nhân cách. Sự hình thành nhân cách chính là quá trình hình thành hai mặt chủ thể của thích ứng tâm lý. Nhờ nhân cách, sự thích ứng tâm lý trở thành một quá trình tích cực. Trong đó, con người không chỉ đáp ứng tác động của môi trường mà còn cải tiến nó một cách tích cực. Tuy nhiên, sự thích ứng không đồng nhất với sự hình thành nhân cách. Đó là quá trình tương tác biện chứng giữa nhân cách và môi trường xã hội mà cả hai phía đều có sự thay đổi để trở nên phù hợp với nhau, đặc biệt là phía nhân cách. Vì vậy sự hình thành nhân cách và mức độ của nó không tất yếu quyết định mức độ thích ứng của cá nhân. Nhưng sẽ không có sự thích ứng nếu không có sự hình thành nhân cách ở trình độ nhất định. Vì vậy, có những người có nhân cách cao nhưng không thích ứng được trong những môi trường xã hội nhất định hay người người có nhân cách mang bản chất xã hội này nhưng có thể thích ứng với môi trường xã hội có bản chất khác. Sau này một số nhà tâm lý học Mác xít tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, tiêu biểu như: E.A.Ermolaeva, A.I.Serbacov, A.V.Mudric, D.A.Antreeva, E.A.Golomstooc … E.A.Ermolaeva đã định nghĩa và đưa ra những chỉ số đặc trưng cho sự thích ứng nghề nghiệp gồm: 1/ Những chỉ số khách quan: chất lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, mức độ kỷ luật, địa vị xã hội; 2/ Những chỉ số chủ quan: Mức độ hài lòng về công việc, điều kiện trong công việc. Bà còn chỉ ra được thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: "Khi làm quen với điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định". Mặc dù chỉ 25 nghiên cứu lĩnh vực thích ứng lao động, nhưng ý kiến của E.A. Ermolaeva góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về sự thích ứng, nhất là vấn đề chỉ số của sự thích ứng nghề nghiệp [15,tr.47] D.A. Andreeva phân biệt rõ các khái niệm thích ứng và thích nghi sinh học. Bà nhấn mạnh hai khái niệm này gần nghĩa nhưng cần chú ý phân biệt chúng. Nếu đem khái niệm thích ứng với ý nghĩa thích nghi sinh học vào giải thích các hiện tượng xã hội thì dĩ nhiên sẽ sai lầm vì thích nghi sinh học chỉ sự đồng hoá của cơ thể đối với những tác động từ bên ngoài và là sự xây dựng lại trạng thái của cơ thể do những tác động đó để tồn tại trong điều kiện môi trường thay đổi, còn thích ứng tâm lý ở người có ý nghĩa khác về chất. Cần hiểu "thích ứng" là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện sống mới, là sự thâm nhập của nó vào điều kiện đó một cách không gượng ép. Bà chỉ rõ: "Sự thích ứng của con người phải làm sao góp phần cho con người thoát khỏi sự phụ thuộc có tính chất nô lệ, trực tiếp vào trạng thái cơ thể mình và khỏi vòng tù hãm trực tiếp của cơ thể [16, tr.47]. D.A. Andreeva cho rằng: "Có thể xem thích ứng là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách"[15, tr.47]. Như vậy ta thấy, bà đã phân biệt rõ thích ứng tâm lý người và thích nghi sinh học, đưa khái niệm thích ứng thoát khỏi lập trường thích nghi sinh học, xem xét nó dưới góc độ hoạt động và đặt nó hoàn toàn vào địa hạt của tâm lý học người. Tóm lại, bằng cách tiếp cận khoa học về vấn đề thích ứng, các nhà tâm lý học Mác xít đã chỉ ra được bản chất hoạt động, nội dung xã hội - lịch sử, tính tích cực và các chỉ số của hiện tượng thích ứng ở con người. Theo nghĩa đó, lý luận tâm lý học Mác xít về bản chất hoạt động của sự thích ứng tâm lý là cơ sở lý luận và phương pháp luận cơ bản của chúng tôi khi tiếp cận, nghiên cứu vấn đề thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. 1.2.1.2 Định nghĩa khái niệm thích ứng Trước hết, cần phân biệt khái niệm thích ứng với khái niệm thích nghi. Trong các khoa học nói chung hai khái niệm này nhiều khi hay được sử dụng đồng nhất với nhau. 26 Trong từ điển Tiếng Việt của trung tâm từ điển ngôn ngữ (1997), thích nghi được hiểu là: có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Thích ứng có 2 nghĩa: 1/ Như thích nghi; 2/ là có những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện mới [24]. Trong từ điển Tiếng Việt [29], khái niệm "thích nghi" được giải thích là "có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh mới, môi trường mới", còn "thích ứng" là "những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới. Hoặc trong từ điển Tiếng Việt thông dụng thì khái niệm "thích nghi là quen dần, phù hợp với điều kiện mới nhờ sự biến đổi, điều chỉnh nhất định", còn "thích ứng là phù hợp với điều kiện mới nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định" [32]. Trong từ điển Tâm lý học của Viện Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, thích nghi xã hội là: 1/ quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những điều kiện của môi trường xã hội mới; 2/ kết quả của quá trình trên [4]. Trong từ điển Tâm lý, thích ứng và thích nghi được dùng trong một mục, đó là: : bước đầu là điều chỉnh những phản ứng sinh lý (thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm), sau là thay đổi cách ứng xử, đây là thích nghi tâm lý" [29]. "Thích nghi xã hội là khả năng một cá nhân tiếp nhận các giá trị của một xã hội, hoà nhập được vào xã hội ấy. Không thích nghi biểu hiện qua những hành vi "gàn dở", trái với tập tục, sống ngoài "rìa", có thể dẫn đến hành động phạm pháp" [29]. Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Đức, "Thích ứng là một quá trình hoà nhập tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý" [6]. Hoà nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn cảnh trong sự hài hoà nhất định. Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù hợp với bản thân. Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong 27 kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng. Sự trưởng thành về mặt tâm lý-xã hội: Là sự thoải mái bên trong của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hoà và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội. Trong đề tài này, thuật ngữ "thích ứng" được sử dụng như một thuật ngữ của Tâm lý học, hiểu theo nghĩa thích nghi tâm lý - xã hội (thích ứng) mang đặc trưng người. Thích nghi tâm lý là sự "thích nghi bên trong", thích nghi xã hội là sự "thích nghi bên ngoài". [6, tr.29] Sự thích ứng tâm lý của con người hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp, dưới sự tác động của các yếu tố bên trong: trình độ phát triển, lịch sử cá thể, vốn kinh nghiệm, nhu cầu, động cơ… và những yếu tố bên ngoài: loại hoạt động và giao tiếp, những điều kiện sống mà cá nhân tham gia. Thích ứng là quá trình diễn ra sự điều chỉnh nội dung và phương thức hoạt động và giao tiếp của cá nhân để phù hợp với điều kiện môi trường xã hội và hoạt động mới nhằm tồn tại và phát triển. Sự thích ứng là quá trình biến đổi trong đời sống tâm lý và hệ thống hành vi cá nhân. Thích ứng là một cấu trúc có quan hệ biện chứng gồm 2 thành tố cơ bản: 1/ hình thành được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới, như là phương tiện của sự thích ứng. 2/ hình thành những cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi, ứng xử thích ứng. Nhờ nó, con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh các hành vi, ứng xử đã lĩnh hội đáp ứng, thậm chí tác động cải biến chính môi trường sống. Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ để tạo nên sự thích ứng của con người, nhờ chúng mà con người điều chỉnh được hệ thống hành vi hiện có hoặc hình thành được hệ thống hành vi mới phù hợp. Vì vậy, mức độ phù hợp của hành vi ứng xử cá nhân với điều kiện sống và hoạt động mới là tiêu chí khách quan để đánh giá mức độ thích ứng tâm lý. Chỉ có thể nghiên cứu một cách khách quan mặt tâm lý của sự thích ứng thông qua hệ thống hành vi thích ứng của cá nhân trong các tình huống nhất định của cuộc sống và hoạt động. 28 Sự thích ứng xuất hiện do tác động của những điều kiện sống và hoạt động mới. Với hệ thống ứng xử hiện có không đáp ứng được những yêu cầu của điều kiện mới là động lực của quá trình này. Tuy nhiên, con người không thụ động mà tạo ra sự thích ứng của mình với tư cách là chủ thể tích cực. Sự thích ứng bắt đầu ở thời điểm con người làm quen với điều kiện sống và hoạt động mới và kết thúc ở sự hình thành được hệ thống ứng xử phù hợp đảm bảo cho cá nhân hoạt động và giao tiếp có hiệu quả. Vì vậy, các ứng xử đặc trưng phù hợp với yêu cầu, điều kiện sống mới và kết quả hành động cá nhân là chỉ số khách quan, cơ bản để đánh giá trình độ thích ứng cá nhân. Các ứng xử, hành vi cá nhân trong các tình huống của hoạt động và môi trường sống mới là phương tiện để con người đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của chúng. Nhờ đó, cá nhân cân bằng được quan hệ với những điều kiện sống mới. Trình độ đáp ứng của cá nhân với tình huống thể hiện trình độ lĩnh hội phương tiện sống và hoạt động cũng như trình độ làm chủ chúng của cá nhân đó. [15] Cơ chế thích ứng là sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử theo nguyên tắc chuyển từ ngoài vào trong để hình thành những cấu tạo tâm lý mới cho phép cá nhân có những hành vi, ứng xử đáp ứng được đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới. [15] Sự thích ứng tâm lý có vai trò rất to lớn đối với con người. Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự cân bằng của con người với môi trường xã hội, cho sự thành công trong điều kiện sống và hoạt động mới. Mặt khác, những ứng xử thích hợp là cơ sở và biểu hiện của những phẩm chất nhân cách mới. Để thích ứng, cá nhân phải hình thành được những cấu tạo tâm lý mới. Vì vậy, thích ứng như là điều kiện của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đảm bảo cho nhân cách đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống và hoạt động thay đổi. Việc cá nhân không thích ứng với những đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới sẽ làm cho anh ta hoạt động kém hiệu quả, không phát triển tâm lý và không hoà nhập được cuộc sống xã hội. Thích ứng là là điều kiện của việc tiếp thu hoạt động mới, phát triển tâm lý cá nhân trong điều kiện cuộc sống thay đổi. 29 Tóm lại, Thích ứng, dưới góc độ tâm lý học, là một quá trình con người luôn tích cực, chủ động hoà nhập, lĩnh hội các điều kiện, các yêu cầu, phương thức mới của hoạt động nhằm đạt được mục đích của hoạt động đã đề ra. Thông qua đó, chủ thể của hoạt động liên tục phát triển và hoàn thiện về mặt nhân cách, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội. 1.2.2 Khái niệm nghề nghiệp Nghề nghiệp là công việc chuyên môn theo sở trường hoặc theo sự phân công của xã hội [32] Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đựoc những nhu cầu xã hội. Ở Việt nam trong những năm gần đây, do sự chuyển hoá của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì ổn định, cứng nhắc. Các nghề trong xã hội luôn ở trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Để có sự thành đạt trong nghề, con người phải chọn cho mình một nghề phù hợp – đó là một công việc khá khó khăn khi số lượng nghề ngày càng tăng. Đề cập tới việc chọn được nghề phù hợp, trước hết ta phải làm rõ được khái niệm phù hợp nghề. Sự phù hợp nghề được xem là sự hoà hợp, sự ăn khớp, sự tương xứng trong cặp "Con người - Nghề nghiệp", cụ thể hơn, là sự tương ứng giữa những phẩm chất, đặc điểm tâm - sinh lý của con người với những yêu cầu cụ thể của công việc trong nghề đối với người lao động. Nói như vậy ta sẽ thấy ngay rằng, sự phù hợp nghề có nhiều mức độ. Thông thường người ta chia thành 4 mức độ sau đây: 1/ Không phù hợp: Sự không phù hợp có nhiều nguyên nhân như trạng thái sức khoẻ, thiếu năng lực chuyên môn hoặc bị dị tật. 2/ Phù hợp một phần: ở mức độ này, nhiều phẩm chất, nhiều đặc điểm tâm - sinh lý của người lao động không đáp ứng được hết những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu chỉ phù hợp một phần thì con người rất khó trở thành 30 một chuyên gia giỏi trong nghề. 3/ Phù hợp phần lớn: Trong trường hợp này, những phẩm chất cá nhân đáp ứng được hầu hết các yêu cầu cơ bản của nghề hoặc nhóm nghề. Mức độ phù hợp phần lớn thường thể hiện rất rõ ở hứng thú đối với công việc của nghề, ham thích và có năng lực giải quyết nhiều hoạt động kỹ thuật trong nghề. Có được sự phù hợp phần lớn này, con người sẽ thuận lợi trong phấn đấu trở thành người lao động có tay nghề cao hoặc dễ có được những thăng tiến nghề nghiệp so với những người ít phù hợp với nghề hơn. 4/ Phù hợp hoàn toàn: Đạt tới mức độ này, ta thấy con người đáp ứng được tất cả những yêu cầu cơ bản do nghề đặt ra. Trong hoạt động nghề nghiệp, người lao động có năng suất cao, thể hiện rõ xu hướng hoạt động và lý tưởng nghề nghiệp. Để có thể lựa chọn được nghề nghiệp với các mức độ "phù hợp phần lớn" và "phù hợp hoàn toàn" là một công việc rất khó khăn. Sự lựa chọn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Sự nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp và lựa chọn nghề nghiệp; sự hiểu biết về "thế giới nghề nghiệp" trong xã hội hiện nay; đặc biệt là công tác hướng nghiệp. 1.2.3 Thích ứng nghề nghiệp TƯNN là quá trình thích ứng của người lao động với các điều kiện bên ngoài và bên trong của quá trình lao động. Trong Xã hội học và Tâm lý học người ta chia thành thích ứng xã hội và TƯNN. Trong đó, TƯNN là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà tuyển dụng. Chính TƯNN là công cụ để giải quyết vấn đề năng suất và chất lượng công việc ở người lao động. TƯNN là quá trình thích ứng hai mặt. Một mặt là sự thích ứng của người lao động với vị thế nghề nghiệp mới của mình, với các điều kiện, đòi hỏi của môi trường kỹ thuật, với bản thân hoạt động nghề nghiệp; mặt khác, là sự thích ứng của họ với những đặc trưng nhân cách của nghề nghiệp. Việc đạt được trạng thái thích ứng, thông qua đó không chỉ hoạt động nghề nghiệp có hiệu quả, mà còn tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp và nhân cách của người 31 lao động, được coi là kết quả của quá trình thích nghi hợp lý. Bên cạnh đó, quá trình TƯNN không chỉ được coi như là sự thích ứng của con người với nghề nghiệp mà còn là quá trình tự phát triển cá nhân. Quá trình TƯNN bắt đầu diễn ra trong trường học, sau đó tiếp tục trong quá trình đào tạo nghề và cuối cùng là quá trình hoạt động nghề nghiệp của con người. Có thể chia ra 3 giai đoạn quan hệ và tương hỗ lẫn nhau về sự thích ứng nghề: 1) Giai đoạn trước khi vào đại học, cao đẳng: Liên quan tới định hướng nghề nghiệp trong quá trình học tập ở các trường phổ thông. (Đây là giai đoạn làm quen với thế giới nghề nghiệp, xác định lĩnh vực nghề nghiệp tương lai, xuất hiện động cơ, xu hướng, phẩm chất nhân cách, những tiền đề đối với nghề lựa chọn). 2) Giai đoạn học đại học, cao đẳng: Đây là giai đoạn đào tạo nghề nghiệp, hình thành và điều chỉnh định hướng nghề nghiệp, phát triển kỹ năng, kỹ xảo nghề, những phẩm chất nhân cách cần thiết đối với nghề, hình thành và phát triển tự ý thức nghề nghiệp… 3) Giai đoạn sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng: Là giai đoạn thực hiện hoạt động nghề nghiệp. Trong giai đoạn này, các cán bộ trẻ thích ứng với điều kiện lao động, tập thể, vị thế xã hội mới, tức là diễn ra "sự thâm nhập" nghề nghiệp và nhân cách vào hoạt động lao động, hiện thực hoá các tiềm năng nhân cách và nghề nghiệp của người cán bộ. Như vậy, theo chúng tôi TƯNN là quá trình cá nhân tìm hiểu về nghề và các yêu cầu của nghề, hình thành những năng lực và phẩm chất nhân cách cần thiết đối với nghề, "thâm nhập" nghề nghiệp và nhân cách vào hoạt động lao động nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với nghề được đào tạo. 1.2.4 Sinh viên sư phạm và nghề dạy học 1.2.4.1 Sinh viên sư phạm Sinh viên: là người đang học ở bậc đại học, cao đẳng [32]. Sư phạm: là khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường [29]. 32 Sinh viên sư phạm: là người đang học trong các khoa sư phạm, trường cao đẳng sư phạm hoặc đại học sư phạm để trở thành giáo viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. 1.2.4.2 Nghề dạy học Dạy học: là dạy văn hoá theo chương trình và quy định của ngành giáo dục [32]. Nghề dạy học (lao động sư phạm): là lĩnh vực hoạt động lao động trong đó người giáo viên thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục. Nghề dạy học là "Nghề cao quý vào bậc nhất trong các nghề cao quý, là nghề sáng tạo vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo …vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo" (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Với vị trí, vai trò như vậy, nghề dạy học là một nghề sáng tạo nhưng rất khó khăn và phức tạp thể hiện ở các đặc điểm nghề nghiệp sau: - Mục đích của lao động sư phạm: Theo điều 2 Luật Giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" [17]. Vì vậy, mục đích của lao động sư phạm phục vụ cho mục tiêu đó. - Đối tượng của lao động sư phạm: Đối tượng tác động của các nhà giáo rất đặc biệt - đó là nhân cách của học sinh, đó là con người (người học) không thụ động mà trái lại có ý thức, tích cực, chủ động, sáng tạo. Theo K.Đ.Usinxki: "Muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì trước hết phải hiểu con người về mọi phương diện". Như vậy, muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác giảng dạy, giáo viên phải nghiên cứu nắm chắc các đặc điểm của người học, lựa chọn những tác động sư phạm mềm dẻo, uyển chuyển, thích hợp với từng đối tượng, phát huy vai trò chủ thể giáo dục của học sinh, vai trò chủ đạo của mình. 33 - Công cụ của lao động sư phạm: Ngoài các công cụ lao động thông thường như: giáo án, sách giáo khoa, bảng đen, phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học, giáo viên còn có công cụ lao động rất đặc biệt là nhân cách của chính mình. Nhân cách của giáo viên sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ khi giáo viên có uy tín cao, tức là phẩm chất và năng lực, đức và tài của giáo viên có sức thuyết phục lớn đối với người học. A.I.Ghecxen đã từng nói: "Không những tri thức của giáo viên mà cả chính nhân cách của họ cũng ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ trẻ". Do đó, giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ, các phẩm chất đạo đức để có nhân cách mẫu mực. - Sản phẩm của lao động sư phạm: Lao động sư phạm của giáo viên tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là nhân cách học sinh. Do đó, nhân cách học sinh thể hiện chất lượng của lao động sư phạm. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi giáo viên phải không ngừng bồi dưỡng, cập nhật tri thức, nâng cao trình độ để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục [12]. Những đặc điểm trên của lao động sư phạm một mặt làm cho lao động sư phạm có ý nghĩa cao quý, mặt khác đòi hỏi ở người giáo viên những phẩm chất đạo đức và những yêu cầu về năng lực sư phạm. Có được những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu của nghề thể hiện sự thích ứng đối với nghề nghiệp đó. 1.3 Thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm 1.3.1 Khái niệm thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm TƯNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của sinh viên sư phạm cũng như quá trình hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên sau này. Xã hội luôn vận động và phát triển, yêu cầu của xã hội, của nghề nghiệp đối với người giáo viên ngày càng cao.Vì vậy, quá trình TƯNN phải được thực hiện liên tục từ trường phổ thông, trong suốt quá trình sinh viên học tập ở các trường sư phạm và trong quá trình hành nghề sau khi tốt nghiệp. Trước hết, sự hiểu biết về nghề có vai trò rất lớn trong quá trình 34 TƯNN của sinh viên. Sinh viên đã chọn nghề sư phạm thì sinh viên phải hiểu rõ các yêu cầu của nghề, yêu cầu của xã hội đối với nghề để có hướng học tập, rèn luyện theo các yêu cầu đó. Sự TƯNN của sinh viên sư phạm phụ thuộc nhiều vào tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân trong việc lĩnh hội nội dung học tập, thích ứng với phương pháp dạy - học, với điều kiện, phương tiện học tập, với việc rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp và hoà nhập với các mối quan hệ trong môi trường sống, học tập ở trường cao đẳng. Như vậy, thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm là quá trình sinh viên tích cực tìm hiểu về nghề dạy học, chủ động hoà nhập với các điều kiện học tập, nội dung và phương pháp học tập; tự giác rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp; bồi dưỡng lòng yêu nghề, yêu trẻ nhằm hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết của người giáo viên, đáp ứng với yêu cầu của ngành giáo dục, của xã hội hiện nay. 1.3.2 Biểu hiện thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm TƯNN được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đề tài này, dựa trên phân tích cơ sở lý luận về vấn đề thích ứng và đưa ra cách hiểu về “Thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm”. Chúng tôi đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên theo các chỉ số sau đây: - Thích ứng thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp: Sinh viên tích cực tìm hiểu về nghề, yêu cầu của nghề, tình yêu, thái độ và hứng thú đối với nghề nghiệp. - Thích ứng với nội dung học tập ở trường CĐSP: sinh viên tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung kiến thức các môn học - Thích ứng với phương pháp hoc tập ở trường CĐSP: sinh viên hình thành phương pháp học tập (PPHT) phù hợp với bản thân, với việc học tập ở trường cao đẳng - Thích ứng với việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp: sinh viên tự giác, tích cực rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp (KNNN). - Thích ứng với điều kiện, phương tiện học tập: sinh viên khắc phục khó khăn, sử dụng hiệu quả các điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng thiết bị dạy 35 học trong quá trình học tập - Thích ứng với các mối quan hệ ở trường CĐSP: sinh viên xây dựng mối quan hệ (MQH) thuận lợi với thầy cô, cán bộ các phòng ban và bạn bè trong lớp và trong trường. Cách xác định mức độ TƯNN của sinh viên sẽ được làm rõ ở mục 3.4 chương 3 của bản báo cáo này. 1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ TƯNN của sinh viên Trong quá trình học tập ở trường CĐSP, mức độ TƯNN của sinh viên có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Với đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ một số yếu tố cơ bản như: động cơ, TĐHT của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên và các điều kiện sư phạm khác. 1.4.1 Động cơ, thái độ học tập của sinh viên Theo quan điểm Tâm lý học, mỗi hoạt động con người thực hiện là do được thúc đẩy bởi động cơ nào đó. Một hoạt động có thể được thúc đẩy bởi nhiều động cơ. Trong đó, động cơ nào mạnh, chiếm ưu thế sẽ thúc đẩy người học thực hiện hoạt động theo hướng đó. Hoạt động học tập là một trong những hoạt động cơ bản của con người và nó cũng mang những đặc điểm và cấu trúc chung như các dạng hoạt động khác. Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ học tập. Hoạt động học tập của sinh viên trường CĐSP Sơn La cũng được thúc đẩy bởi các động cơ khác nhau như: có em học tập vì mong muốn trở thành người giáo viên giỏi, có em học tập đạt kết quả cao để dễ tìm việc làm sau khi ra trường, hoặc theo mong muốn của cha mẹ để có được một công việc ổn định…Nếu được thúc đẩy bởi động cơ học tập đúng đắn thì các em học tập tích cực để đạt được kết quả cao với khả năng của mình. Ngược lại, nếu được thúc đẩy bởi động cơ học tập không đúng đắn thì việc học tập của các em thường mang tính chất đối phó, “trung bình chủ nghĩa” để không phải thi lại, có được tấm bằng để kiếm việc làm… Động cơ học tập đúng đắn là động cơ thúc đẩy sinh viên học tập nhằm đạt được mục đích của bản thân, phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường và mục tiêu giáo dục xã hội – đó là sinh viên phải vươn lên nắm vững tri thức 36 nghề nghiệp tương lai, tích cực rèn luyện các phẩm chất và kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và xã hội. Trong quá trình hình thành động cơ học tập, mỗi SV thường nhận thức được khá rõ mình cần vươn lên để nắm lấy tri thức nghề nghiệp tương lai, phải ứng xử ra sao trong mối quan hệ với thầy, với bạn và những người xung quanh để việc học của mình mang lại kết quả cao nhất,... Song, trong cuộc sống thực, nhiều SV lại không làm được những điều mà mình đã nhận thức vì không vượt qua được những ham muốn và thói quen đã hình thành từ trước. Những điều sinh viên nhận thức được phải được thực hiện trong hoạt động học tập hàng ngày, thì khi đó nó mới trở thành động lực thúc đẩy sinh viên hành động kiên quyết vượt qua những ham muốn, những nhu cầu và thói quen đang cản trở họ đạt tới kết quả cao trong học tập. Khi động cơ phát triển ở mức cao sinh viên sẽ vượt qua được mọi khó khăn, trở ngại, mọi lực cản xuất hiện trong học tập, vươn lên đạt tới những mục tiêu đã xác định. Ngược lại, khi động cơ phát triển ở mức độ thấp sinh viên thường xuyên tỏ ra bị động, thiếu nghị lực trong những hành động học tập, do đó thường bỏ dở, không thực hiện đến cùng những nhiệm vụ học tập có mức độ khó khăn cao. Động cơ học tập được thể hiện trong thái độ học tập của sinh viên. Nói cách khác, TĐHT của sinh viên được quy định bởi động cơ học tập. Khi sinh viên có động cơ học tập đúng đắn, nó sẽ thúc đẩy sinh viên tích cực thực hiện hoạt động học tập của mình như: tự đề ra mục đích học tập, tự lựa chọn công cụ, phương tiện cần thiết để đạt mục đích đó, tự xây dựng kế hoạch thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện hiện có và hoàn cảnh cụ thể của mình; tự điều khiển mình thực hiện kế hoạch đã xây dựng nhằm đạt tới mục đích; đồng thời tự kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả hành động, làm cho học tập của mình ngày càng mang lại hiệu quả cao. Tóm lại, động cơ học tập đúng đắn giúp cho sinh viên có thái độ tích cực trong học tập. Trong xu thế phát triển của thời đại ngày nay, sinh viên phải thực sự làm chủ quá trình học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Do đó, sinh viên cần điều chỉnh và hình thành động cơ, thái độ học 37 tập tích cực để chuẩn bị tốt hành trang cho mình trong quá trình học tập ở trường cao đẳng giúp sinh viên nhanh chóng thích ứng với những yêu cầu của nghề dạy học sau khi ra trường. 1.4.2 Phương pháp giảng dạy của giảng viên Dạy và học là hai mặt của quá trình dạy học. Phương pháp học của sinh viên luôn gắn bó chặt chẽ với phương pháp dạy của giảng viên. Trong những thập kỷ gần đây, để đáp ứng nhu cầu về nhân lực, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành một cuộc cách mạng về phương pháp đào tạo trong giáo dục, đặc biệt là trong giáo dục đại học, cao đẳng mà trong đó, đổi mới phương pháp dạy và học có vị trí quan trọng hàng đầu. Ở nước ta, cũng đã có nhiều hội thảo, các bài viết khoa học về chủ đề đổi mới phương pháp dạy học ở các bậc học nói chung và các trường cao đẳng nói riêng. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này khi nói tới vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đại học, cao đẳng đều cho rằng nó có những đặc điểm sau đây: - Chuyển từ cách dạy tri thức là chủ yếu sang dạy cách học, cách giành lấy tri thức là chủ yếu; - Phát huy cao độ ý thức trách nhiệm của sinh viên đối với việc học của mình trước bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội; - Động viên sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên vào quá trình dạy học; - Tôn trọng ý kiến của sinh viên, đảm bảo cơ hội cho họ tham gia trao đổi, tranh luận với thầy và bạn; - Hình thành ở sinh viên năng lực tự học từ mức thấp đến mức cao; tạo cơ hội để họ có thể tự học suốt đời, tự cập nhật kiến thức suốt đời để tự phát triển một cách bền vững; - Hình thành và phát triển ở sinh viên kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội và kỹ năng sống nói chung trong một xã hội phát triển về mọi mặt, nhưng cũng ẩn chứa những biến cố khó lường. Để làm được như vậy đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, nhịp nhàng giữa giảng viên và sinh viên. Trong đó, giảng viên với tư cách là người hướng dẫn, 38 chỉ cho người học những việc phải làm, con đường sinh viên phải đi trong suốt quá trình vươn tới mục đích học tập mà họ đã đề ra. Còn sinh viên, đạt được kết quả học tập cao hay không phụ thuộc vào sự cố gắng, bền bỉ, huy động sức mạnh của chính bản thân họ trong quá trình học tập, chứ giảng viên không thể làm thay họ được Tóm lại, phương pháp dạy của giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp học của sinh viên. Trong quá trình dạy học, giảng viên hướng dẫn sinh viên chiếm lĩnh tri thức mới như thế nào, thì cách học của họ sẽ được hình thành theo hướng đó. Nếu giảng viên truyền đạt kiến thức một chiều. thì ở sinh viên sẽ hình thành cách học thụ động, dựa dẫm, thiếu sáng tạo. Ngược lại, nếu giảng viên thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học hướng dẫn và kích thích sinh viên cách chiếm lĩnh tri thức, tạo điều kiện cho sinh viên suy nghĩ, thực hiện tự tìm ra kết quả, tìm ra cách giải quyết các nhiệm vụ học tập, thì dần dần sẽ hình thành được ở sinh viên cách học chủ động, năng động, tích cực và sáng tạo. Trên cơ sở đó sẽ hình thành được ở sinh viên cách học phù hợp với bản thân, với những yêu cầu, NDHT ở trường cao đẳng. 1.4.3. Các điều kiện sư phạm khác Với yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng nguồn nhân lực thì yếu tố quyết định sự sống còn của các trường đại học, cao đẳng là chất lượng đạo tạo sinh viên. Để hoạt động dạy và hoạt động học có thể diễn ra và đạt được chất lượng theo mục tiêu đào tạo thì không thể thiếu các điều kiện sư phạm như: đội ngũ giảng viên, học liệu, học cụ, giảng đường, phòng thí nghiệm, ký túc xá, cơ sở thực hành…. Trong hoạt động thực tiễn của trường cao đẳng, những điều kiện sư phạm tác động thống nhất và đồng bộ đến chất lượng đào tạo sinh viên. Có thể nói rằng, các điều kiện sư phạm có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập, với ngành học trong quá trình học tập ở trường cao đẳng. Phần 2.3.2 đã nhấn mạnh ảnh hưởng trực tiếp phương pháp dạy của giảng viên đến phương pháp học của sinh viên. Đối với sinh viên ngành sư phạm, tấm gương mẫu mực về mọi mặt, sự tận tụy trong công việc vì sự tiến 39 bộ của sinh viên, sự hiểu biết sâu rộng các tri thức trong lĩnh vực chuyên môn và nghiệp vụ của giảng viên có tác động mạnh mẽ thúc đẩy sinh viên vượt qua khó khăn trong học tập, không ngừng vươn lên tự hoàn thiện mình. Đồng thời, nhân cách mẫu mực của giảng viên cũng là phương tiện tuyên truyền, bồi dưỡng lòng yêu nghề hữu hiệu cho sinh viên trong quá trình học tập ở trường sư phạm. Vì vậy, chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên về mọi mặt, nhằm tạo ra một trong những điều kiện sư phạm quan trọng nhất, phải được coi là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của trường cao đẳng. Sách, tài liệu tham khảo, đồ dùng, phương tiện học tập và các điều kiện cơ sở vật chất khác cũng là những điều kiện sư phạm quan trọng của hoạt động dạy và học. Chương trình học tập ở trường cao đẳng đòi hỏi sinh viên, ngoài các giờ học trên lớp, phải tự học, tự nghiên cứu qua tài liệu, sách báo, được thực hành để hiểu sâu và mở rộng kiến thức môn học. Đối với sinh viên sư phạm, việc giảng viên sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học không chỉ làm tăng hứng thú cho sinh viên trong giờ học, nâng cao hiệu quả dạy học mà còn hình thành ở sinh viên ý thức, kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học để sinh viên có thể sử dụng và hướng dẫn cho học sinh phổ thông sau này. Ngoài ra, điều kiện sinh hoạt của sinh viên cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc học tập của sinh viên. Khi sinh viên có nơi ăn, ở ổn định, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình giúp cho sinh viên yên tâm, tập trung vào học tập và tham gia vào các hoạt động tập thể. Với điều kiện hiện nay, ký túc xá các trường cao đẳng chưa thể đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho sinh viên. Tuy nhiên, việc tổ chức và quản lý trong ký túc xá các nhà trường còn có những bất cập là một trong nhnữg nguyên nhân làm cho không ít sinh viên không muốn ở trong ký túc xá. Với những điều kiện hiện có, trường cao đẳng cần tổ chức và quản lý tốt cơ sở vật chất phục vụ tốt hơn cho việc sinh hoạt, cho hoạt động văn hoá - thể thao, vui chơi giải trí …của sinh viên. Chương trình đào tạo của trường CĐSP không thể tách rời các nội dung, hoạt động nghề nghiệp ở trường phổ thông. Do đó, việc đưa sinh viên đi thực hành, thực tập ở trường phổ thông là cách tốt nhất để sinh viên vận 40 dụng những tri thức đã tiếp thu ở trường cao đẳng và là điều kiện thuận lợi để sinh viên rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Thực hành, thực tập ở trường phổ thông là cơ hội để sinh viên tiếp cận, thâm nhập với công việc của người giáo viên, giúp sinh viên nhanh chóng hoà nhập và thích ứng với hoạt động dạy học, giáo dục ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp. Quá trình thực tập tại các trường phổ thông sẽ làm xuất hiện ở họ những động cơ học tập mới, bồi dưỡng cho họ lòng yêu nghề, yêu trẻ, thôi thúc họ nỗ lực ý chí vượt qua mọi khó khăn trong học tập nhằm tự vũ trang cho mình những kiến thức, kỹ năng đủ sức đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường. Vì vậy, các trường phổ thông với những điều kiện đáp ứng yêu cầu, nội dung thực hành, thực tập là những điều kiện sư phạm cực kỳ quan trọng góp phần quyết định chất lượng đào tạo của trường CĐSP. Tóm lại, các điều kiện sư phạm là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo của trường CĐSP nói chung và kết quả học tập của sinh viên nói riêng. Đây cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến mức độ TƯNN của sinh viên trong quá trình học tập ở trường CĐSP. Tuy nhiên, để có được các điều kiện sư phạm đồng bộ, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường, yêu cầu của xã hội là một công việc hết sức khó khăn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đây cũng là một thách thức rất lớn đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu không chỉ của các trường cao đẳng, của ngành giáo dục mà phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của tất cả các lực lượng xã hội. Như vậy, việc phân tích và làm rõ các khái niệm, các lý thuyết liên quan làm cơ sở lý luận để định hướng tổ chức nghiên cứu, phân tích và đánh giá kết quả thu được ở các phần tiếp theo của đề tài 41 CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mẫu nghiên cứu 2.1.1. Vài nét về trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La tiền thân là trường Sư phạm Dân tộc Sơn La, được thành lập ngày 15/10/1963, đến tháng 12/2000 được nâng cấp thành trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La theo Quyết định số 5521/QĐ- GD&ĐT-TCCB ngày 13/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường được nâng cấp từ trường Trung học Sư phạm Sơn La và sáp nhập trường Trung cấp Mầm non và trường Bồi dưỡng Cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh. Hơn 40 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, trường CĐSP Sơn La đã đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng hàng chục ngàn cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, tiểu học, trung học sơ sở cho tỉnh Sơn La, một số tỉnh lân cận và các tỉnh phía Bắc nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Các thế hệ HSSV tốt nghiệp từ trường CĐSP Sơn la đã và đang có mặt trên khắp bản làng của tỉnh. Nhiều gương mặt thuộc các thế hệ HSSV của trường đã trưởng thành và có những đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đặc biệt, nhà trường đã đào tạo nhiều cán bộ, giáo viên là người dân tộc thiểu số và góp phần tích cực vào sự nghiệp nâng cao dân trí cho cư dân trên địa bàn. Về công tác đào tạo: Chức năng, nhiệm vụ của trường CĐSP Sơn La là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở…Những năm gần đây, do sự phát triển của kinh tế - xã hội của tỉnh nhu cầu nguồn nhân lực các ngành, nghề ngoài sư phạm tăng đáng kể. Do đó, trường đã tích cực phấn đấu để mở các ngành học mới, mở rộng cơ hội cho người học trong việc lựa chọn ngành nghề và tăng cường chất lượng nguồn nhân lực cung ứng cho tỉnh Sơn La và các tỉnh phía Bắc nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Về Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: Công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường phát triển tương đối toàn diện, chú trọng đến 42 chất lượng và ứng dụng vào thực tiễn. Trường đã tạo điều kiện khuyến khích giảng viên, HSSV tham gia các đề tài cấp trường, cấp tỉnh, cấp Bộ và các dự án. Nhiều đề tài, sáng kiến được áp dụng có hiệu quả vào công tác đào tạo, quản lý nhà trường, vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ: Trường CĐSP Sơn La hiện có 224 cán bộ viên chức, trong đó 168 là giảng viên; có 04 phòng chức năng, 05 khoa đào tạo, 02 tổ bộ môn trực thuộc, 01 trung tâm thư viện, 01 ban quản lý khu nội trú, 01 ban quản lý và khai thác khu giáo dục thể chất. Trường đang đang thực hiện nhiệm vụ đào tạo với 23 chuyên ngành sư phạm và ngoài sư phạm. Tổng số sinh viên chính quy là 2313, ngoài ra trường còn có học sinh hệ trung cấp và đào tạo nguồn. Sinh viên thuộc các chuyên ngành sư phạm là 1175 sinh viên. 2.1.2. Mẫu nghiên cứu Bảng 2.1: Cơ cấu khách thể nghiên cứu Giới tính Năm học Vùng, miền Ngành học Tổng số Dân tộc Nam Nữ Năm I Năm II Năm III Vùng sâu Nông thôn Thành thị Ngành Toán-Lý 85 57 59 26 25 30 30 39 38 8 Ngành Văn-Sử 68 53 41 27 20 25 23 36 21 11 Ngành Mầm non 78 63 0 78 24 28 26 31 33 14 Tổng số 231 173 100 131 69 83 79 106 92 33 Chúng tôi tiến hành điều tra trên nhóm khách thể là sinh viên thuộc 3 chuyên ngành: CĐSP Toán-Lý, CĐSP Văn-Sử và CĐSP Mầm non. Đây là những chuyên ngành mà trường đã có quá trình đào tạo liên tục ngay từ khi còn là trường trung học sư phạm cho tới nay. Số lượng sinh viên đã và đang được đào tạo thuộc các chuyên ngành này cũng chiếm tỉ lệ khá lớn so với các chuyên ngành đào tạo khác. Số liệu về khách thể nghiên cứu được trình bày ở bảng 2.1 43 2.2. Nội dung và tiến trình nghiên cứu 2.2.1. Nội dung nghiên cứu Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu cũng như mục đích, giới hạn của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề TƯNN của sinh viên. - Khảo sát thực trạng về vấn đề TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La, một số yếu tố cơ bản tác động đến sự thích ứng đó. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao mức độ TƯNN cho sinh viên trong quá trình học tập ở trường CĐSP Sơn La. 2.2.2. Tiến trình nghiên cứu Căn cứ vào nội dung, tính chất công việc và thời gian tiến hành, chúng tôi chia tiến trình nghiên cứu đề tài thành 3 giai đoạn chủ yếu sau: 2.2.2.1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận * Thời gian tiến hành: Từ tháng 01/ 2008 đến tháng 10/2008 * Các bước tiến hành Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu. Bước 2: Sau khi đề cương nghiên cứu đã được thông qua, chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện các công việc như sau: Nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, phân tích, hệ thống hoá… các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. * Mục đích - Tìm hiểu các nghiên cứu của những tác giả trong và ngoài nước về vấn đề thích ứng nghề nghiệp. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp và đánh giá tổng quát về những công trình nghiên cứu đó, đưa ra các nhận xét về các vấn đề còn tồn tại của nó và xác định hướng nghiên cứu cụ thể cho đề tài. - Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, xác định các khái niệm công cụ và các thuật ngữ có liên quan. 2.2.2.2. Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn * Thời gian tiến hành: Từ tháng 11/2008 44 Giai đoạn này bao gồm nhiều những công đoạn khác nhau như: Thiết kế phiếu điều tra, khảo sát thử, điều tra chính thức, tìm các trường hợp điển hình, phỏng vấn, trò chuyện, quan sát, phân tích và sử lý số liệu … mỗi công đoạn có mục đích, phương pháp và nội dung nghiên cứu khác nhau. • Thiết kế phiếu điều tra - Thời gian tiến hành: Tháng 11 năm 2008 - Mục đích: Hình thành sơ bộ các tiêu chí để tìm hiểu mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. - Xây dựng nội dung phiếu điều tra: Đây là một trong những công việc khó khăn nhất và quan trọng nhất của luận văn. Do tính chất như vậy nên chúng tôi tiến hành khai thác từ các nguồn sau: + Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn luận văn và của các giáo viên có uy tín, có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, đặc biệt là những người đã nghiên cứu về vấn đề "thích ứng nghề nghiệp" + Tìm những nội dung từ các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến luận văn + Khảo sát thăm dò tại trường CĐSP Sơn La Tổng hợp các vấn đề trên chúng tôi đã xây dựng mẫu phiếu điều tra. • Điều tra thử - Thời gian tiến hành: tháng12/2008 - Mục đích: Kiểm tra độ khó, độ tin cậy và độ giá trị của bảng hỏi, trên cơ sở đó tiến hành chỉnh sửa các câu hỏi chưa đạt yêu cầu. - Khách thể điều tra thử: 231 sinh viên học ở các năm thứ I, II, III các chuyên ngành sư phạm trường CĐSP Sơn La - Phương pháp: Điều tra bằng bảng hỏi • Điều tra chính thức - Thời gian tiến hành: Tháng 1,2 năm 2009 - Mục đích + Tìm hiểu thực trạng mức độ TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La. + Tìm hiểu các nguyên nhân của thực trạng và các yếu tố tác động đến 45 mức độ TƯNN của sinh viên. • Nghiên cứu trường hợp - Thời gian: Tháng 5/2007 Sau khi xử lý sơ bộ các kết quả thu thập được từ việc điều tra chính thức chúng tôi tiến hành chọn lựa, tìm hiểu nghiên cứu về các trường hợp điển hình. - Lý do sử dụng phương pháp: Do không có điều kiện và thời gian để tiến hành những thử nghiệm hay thực nghiệm khoa học nên chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu này. - Mục đích nghiên cứu: Tìm ra những cứ liệu đáng tin cậy để góp phần chứng minh tính đúng đắn, khách quan của vấn đề nghiên cứu. 2.2.2.3. Giai đoạn xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn Thời gian thực hiện: từ tháng 6/2009 đến tháng 11/2009 Giai đoạn gồm các công việc như: xử lý các số liệu thu được, viết nháp, đánh máy, in ấn, chỉnh sửa luận văn, viết bản tóm tắt, làm Powerpoint… 2.3. Phương pháp nghiên cứu 2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu Tìm đọc, phân tích và khái quát các tài liệu, các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Qua đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. 2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài này. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin từ sinh viên về nội dung nghiên cứu (phụ lục 1). - Bảng hỏi gồm 30 câu hỏi. Trong đó có các loại câu hỏi: + Câu hỏi đóng: đưa ra các phương án trả lời sẵn đề người được hỏi lựa chọn + Câu hỏi mở: để cho người được hỏi tự đưa ra quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu + Câu hỏi kết hợp: Bao gồm các phương án trả lời sẵn và phần cho người được hỏi đưa ra ý kiến của mình nhằm thu thập thêm thông tin. - Trong bảng hỏi, có những câu hỏi dùng để đánh giá mức độ thích ứng theo các chỉ số và có những câu hỏi dùng để giải thích là rõ thêm nội dung 46 điều tra. Cụ thể chúng tôi chia nhóm câu hỏi theo các chỉ số như sau: + Nhóm câu hỏi điều tra TƯNN của sinh viên thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp gồm các câu hỏi: 2, 4, 5. + Nhóm câu hỏi điều tra thích ứng của sinh viên với chương trình, nội dung học tập ở trường cao đẳng gồm các câu hỏi: 7, 8, 9, 10. + Nhóm câu hỏi điều tra thích ứng của sinh viên với phương pháp học tập ở trường cao đẳng gồm các câu hỏi: 11, 13, 14. + Nhóm câu hỏi điều tra thích ứng của sinh viên với việc rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp gồm các câu hỏi: 20, 21, 22, 23. + Nhóm câu hỏi điều tra thích ứng của sinh viên với điều kiện, phương tiện học tập ở trường cao đẳng gồm các câu hỏi: 24, 25. + Nhóm câu hỏi điều tra thích ứng của sinh viên với các mối quan hệ ở trường cao đẳng gồm các câu hỏi: 26, 27. Các câu hỏi còn lại dùng để giải thích cho các nội dung điều tra. 2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu Chúng tôi thực hiện phương pháp này bằng cách trao đổi trực tiếp với 20 sinh viên và 20 giảng viên học tập, giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm các lớp mà chúng tôi tiến hành điều tra để làm rõ hơn mức độ thích ứng, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thích ứng của sinh viên với ngành học trong quá trình học tập ở trường CDSP Sơn La (phụ lục 2,3) 2.3.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp Chọn một sinh viên có mức độ thích ứng cao, một sinh viên có mức độ thích ứng trung bình và một sinh viên có mức độ thích ứng thấp để làm nghiên cứu sâu và mô tả quá trình thích ứng của họ từ khi vào học trường cao đẳng. Qua đó thấy được những thuận lợi, khó khăn của sinh viên trong việc thích ứng với ngành học. 2.3.5 Phương pháp chuyên gia: Qua việc trao đổi, gặp gỡ lấy ý kiến của một số chuyên gia đã và đang nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên nhằm xác định các biểu hiện và các chỉ số đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên. 2.3.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động Thu thập KQHT của sinh viên ở học kỳ I năm học 2008 – 2009 và sử dụng kết quả này để so sánh với mức độ TƯNN của sinh viên. 2.3.8 Phương pháp thống kê toán học Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để xử lý kết quả nghiên cứu. Một số công thức được sử dụng để xử lý, phân tích các kết quả nghiên cứu. Công thức tính Trung bình cộng: n Xi X n i ∑ == 1 Trung bình cộng cho ta biết giá trị trung bình, sự tập trung của các giá trị dữ liệu Công thức tính Độ lệch chuẩn: SD = ( ) n xx n i i∑ = − 1 2 Độ lệch chuẩn là số đo xác định sự phân tán của các giá trị dữ liệu Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các công thức trên để xác định sự tập trung hay phân tán của các điểm số thu được qua việc trả lời câu hỏi của những sinh viên được nghiên cứu. Công thức tính Hệ số tương quan Pearson (r): r = ⎥⎥⎦ ⎤ ⎢⎢⎣ ⎡ ⎟⎠ ⎞⎜⎝ ⎛− ⎥⎥⎦ ⎤ ⎢⎢⎣ ⎡ ⎟⎠ ⎞⎜⎝ ⎛− − ∑ ∑∑ ∑ ∑ ∑∑ = == = = == n i n i ii n i n i ii n i n i ii n i ii yynxxn yxyxn 1 2 1 2 1 2 1 2 1 11 .. Hệ số tương quan Pearson nhằm chỉ rõ mức độ có liên hệ hay không có liên hệ của 2 nhóm đại lượng nào đó theo kiểu tuyến tính. Trong đề tài này, hệ số tương quan được sử dụng để làm rõ sự liên hệ giữa các đại lượng như: - Mức độ TƯNN và các chỉ số thích ứng. - Mức độ TƯNN và động cơ, thái độ học tập 47 48 - Mức độ TƯNN và kết quả học tập của sinh viên … 2.4. Các biểu hiện và cách đánh giá mức độ TƯNN 2.4.1 Cách tính điểm Trong bảng hỏi, có câu hỏi về tần suất (thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ); có câu hỏi về mức độ hài lòng (hài lòng, ít hài lòng, không hài lòng); hoặc có câu về mức độ đúng (đúng, đúng một phần, không đúng)…Do đó, câu trả lời của sinh viên trong tất cả các câu hỏi đều ở 3 mức độ tương ứng với 3 mức điểm 2, 1 và 0. Ngoài ra, trong từng câu hỏi có những item thể hiện mức độ thích ứng “tích cực” và có item thể hiện mức độ thích ứng “tiêu cực”. Với những item thể hiện mức độ thích ứng “tích cực”, mỗi mức độ được tính điểm như sau: - Mức độ thường xuyên: 2 điểm - Mức độ thỉnh thoảng: 1 điểm - Mức độ không bao giờ: 0 điểm Ngược lại, với những item thể hiện mức độ thích ứng “tiêu cực” mỗi mức độ được tính điểm như sau: - Mức độ thường xuyên: 0 điểm - Mức độ thỉnh thoảng: 1 điểm - Mức độ không bao giờ: 2 điểm 2.4.2 Cách xếp loại Như phần cơ sở lý luận đã trình bày, TƯNN của sinh viên có thể đánh giá qua nhiều chỉ số. Trong đề tài, chúng tôi đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La qua 6 chỉ số. Điểm trung bình mức độ TƯNN là điểm trung bình của 6 chỉ số này. Sau khi tính được ĐTB và độ lệch chuẩn của từng chỉ số và ĐTB TƯNN chúng tôi đánh giá TƯNN và thích ứng theo từng chỉ số của sinh viên theo 3 mức độ: Cao, trung bình và thấp như sau: * Các mức độ thích ứng nghề nghiệp: - Thích ứng nghề nghiệp ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00 - Thích ứng nghề nghiệp ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. 49 - Thích ứng nghề nghiệp ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. * Mức độ thích ứng thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp - Mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên tích cực tìm hiểu về ngành học và lựa chọn ngành học phù hợp, yêu thích ngành học, kiên định với sự lựa chọn của mình để tập trung vào việc học tập ở trường cao đẳng. - Mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên có sự tìm hiểu về ngành học, yêu thích ngành học nhưng chưa thực sự tự tin với sự lựa chọn của mình. - Mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. Sinh viên không tích cực tìm hiểu về ngành học, lựa chọn ngành học theo cảm tính hoặc theo ý muốn của người khác, không yêu thích ngành học, muốn chuyển sang ngành học khác * Các mức độ thích ứng với nội dung học tập - Thích ứng với NDHT ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên nhận thức được vai trò quan trọng của các môn học trong chương trình học tập; có khả năng và tự tin trong việc chiếm lĩnh kiến thức trong từng bài học, môn học; có hứng thú và tích cực trong các giờ học. - Thích ứng với NDHT ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của các môn học trong chương trình học tập; đôi khi cảm thấy khối lượng kiến thức quá nhiều và khó khăn trong việc chiếm lĩnh chúng; chưa tích cực và chủ động trong các giờ học - Thích ứng với NDHT ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. Sinh viên còn cho rằng có môn học không quan trọng, không cần thiết; luôn cảm thấy khối lượng kiến thức “quá nhiều”, “quá tải” so với khả năng của mình; thường có tâm trạng không hài lòng và thiếu tự tin trong các giờ học * Các mức độ thích ứng với phương pháp học tập - Thích ứng với PPHT ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên biết cách lập kế hoạch và tổ chức công việc học tập của bản thân một cách hợp lý; thường xuyên thực hiện đúng các nội dung công việc đã xây dựng trong kế hoạch; biết cách ghi chép bài giảng của thầy cô một cách khoa học, 50 biết cách tự học, tự nghiên cứu thông qua việc tìm kiếm và đọc tài liệu tham khảo để mở rộng, cập nhật các thông tin phục vụ cho việc học tập. - Thích ứng với PPHT ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên có lập kế hoạch học tập nhưng chưa thường xuyên thực hiện đúng các nội dung trong kế hoạch; ghi chép bài đầy đủ nhưng chưa khoa học; chưa tích cực, chưa thường xuyên tìm kiếm và đọc sách, tài liệu tham khảo liên quan đến môn học - Thích ứng với PPHT ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. Sinh viên không lập kế hoạch học tập hoặc chưa biết cách lập kế hoạch học tập sát với thức tế nên thường xuyên không thực hiện được; không ghi bài hoặc không biết cách ghi bài; Thường xuyên không tìm kiếm và tự nghiên cứu tài liệu liên quan đến môn học. * Các mức độ thích ứng với việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp - Thích ứng với việc rèn luyện các KNNN ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên tích cực nghiên cứu chương trình, tài liệu và tham khảo ý kiến của thầy cô để soạn bài theo đúng yêu cầu; tự tin, chủ động thực hiện bài giảng trong các giờ tập giảng, trong các đợt thực tập, kiến tập; biết soạn và đặt câu hỏi phù hợp trong bài giảng; nắm vững đánh giá kết quả học tập của học sinh; tích cực tham gia và chủ động trong việc tỏ chức các hoạt động tập thể trong lớp, trong trường. - Thích ứng với việc rèn luyện các KNNN ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên chưa tự tin trong việc soạn bài và thực hiện bài giảng trong các giờ tập giảng, kiến tập, thực tập; soạn và đặt câu hỏi trong bài học đôi khi chưa đảm bảo yêu cầu; chưa chủ động tham gia và tổ chức các hoạt động tập thể ở lớp, ở trường. - Thích ứng với việc rèn luyện các KNNN ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. Sinh viên chưa biết các soạn bài; thường xuyên cảm thấy căng thẳng và lúng túng khi thực hiện bài giảng; chưa biết soạn và đặt câu hỏi cho học sinh trong các giờ học theo đúng yêu cầu; không tham gia hoặc không tích cực tham gia các hoạt động tập thể. 51 * Các mức độ thích ứng với điều kiện, phương tiện học tập - Thích ứng với ĐK, PTHT ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên biết sử dụng thành thạo các đồ dùng, phương tiện phục vụ việc học tập và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp; tích cực khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt tập trung vào việc học tập và rèn luyện ở trường CĐSP Sơn La. - Thích ứng với ĐK, PTHT ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên còn có khó khăn trong việc sử dụng các đồ dùng, phương tiện học tập; chưa hài lòng và chưa tích cực khắc phục khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập - Thích ứng với ĐK, PTHT ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. Sinh viên thường xuyên lúng túng hoặc không biết sử dụng các đồ dùng, phương tiện học tập. không hài lòng và không có ý thức khắc phục khó khăn về điều kiện, phương tiện trong học tập và sinh hoạt . * Các mức độ thích ứng với những mối quan hệ ở trường CĐSP - Thích ứng với các MQH ở mức độ cao: 1.34 < ĐTB ≤ 2.00. Sinh viên chủ động thiết lập các MQH tích cực với bạn bè, thầy cô giáo, cán bộ các phòng ban của nhà trường để học hỏi, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết những khó khăn trong học tập và cuộc sống - Thích ứng với các MQH ở mức độ trung bình: 0.67 < ĐTB ≤ 1.34. Sinh viên chưa chủ động tham gia và tạo dựng các mối quan hệ tích cực trong quá trình học tập ở trường CĐSP; không thường xuyên trao đổi, chia xẻ với thầy cô, bạn bè về các vấn đề học tập và cuộc sống - Thích ứng với các MQH ở mức độ thấp: 0 < ĐTB ≤ 0.67. MQH giữa các sinh viên này với bạn bè, giảng viên và cán bộ các phòng ban có những khoảng cách, rào cản và những mâu thuẫn; không có hoặc ít có sự chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và cuộc sống. Dựa vào cách xếp loại này và các số liệu thu thập được qua điều tra, chúng tôi tiến hành phân tích và đánh giá mức độ TƯNN của sinh viên trường CĐSP Sơn La trong chương tiếp theo. 52 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Thích ứng nghề nghiệp thể hiện ở tâm thế nghề nghiệp Chuyển từ môi trường trung học vào cao đẳng, nghĩa là sinh viên đã bước vào một môi trường với nhiều điều mới lạ và không ít khó khăn: từ cuộc sống ở gia đình với sự hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ của cha mẹ sang cuộc sống tự lập ở trường cao đẳng; từ cuộc sống nông thôn, bản làng vùng sâu, vùng xa các em bắt đầu làm quen với cuộc sống nơi thành thị. Hơn nữa, với NDHT, phương pháp giảng dạy ở trường cao đẳng đòi hỏi sinh viên phải tích cực, chủ động và sáng tạo tìm ra cho mình PPHT phù hợp; các em phải biết cách giao tiếp với thầy cô giáo, hợp tác với bạn bè để học hỏi, chia xẻ kinh nghiệm học tập và các vấn đề trong cuộc sống. Có như vậy, các em mới có thể nhanh chóng hoà nhập với việc học tập và cuộc sống ở trường cao đẳng. Với những khó khăn ban đầu trong bước chuyển từ trường phổ thông vào trường cao đẳng như vậy thì việc tìm hiểu và lựa chọn cho mình ngành học phù hợp tạo điều kiện cho các em yên tâm, khắc phục khó khăn để tập trung vào việc học tập và rèn luyện. Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành điều tra cách tìm hiểu và lựa chọn ngành sư phạm của sinh viên trường CĐSP Sơn La. Bảng 3.1: Cách tìm hiểu về ngành học của sinh viên Các mức độ (%) TT Nội dung Đúng Đúng 1 phần Không đúng ĐTB SD 1 Tìm hiểu kỹ thông tin về ngành học qua bạn bè, thầy cô 44.2 44.6 11.3 1.33 0.67 2 Tìm hiểu thông tin trên các phương tiện thông tin: Tivi, sách báo… 35.1 48.5 16.5 1.19 0.70 3 Tìm hiểu thông qua trung tâm hướng nghiệp 10.9 28.1 61.0 0.50 0.68 4 Nhờ sự tư vấn của bố mẹ 29.4 48.9 21.6 1.08 0.72 5 Gặp những người trong ngành sư phạm để tìm hiểu về nghề 26.0 51.1 22.9 1.03 0.70 Kết quả trong bảng 3.1 cho thấy, các em đã tìm hiểu về ngành học bằng nhiều cách khác nhau. Số lượng sinh viên “tìm hiểu về ngành học qua bạn bè 53 và thầy, cô giáo ở trường phổ thông” chiếm nhiều nhất (ĐTB = 1.33 và 88.8% sinh viên cho là “đúng” và “đúng một phân”). Điều đó chứng tỏ rằng, bạn bè, thầy cô ở trường phổ thông có ảnh hưởng lớn nhất đến việc tìm hiểu và lựa chọn ngành học của các em. “Tìm hiểu qua trung tâm hướng nghiệp” được ít sinh viên lựa chọn nhất (ĐTB = 0.50 và chiếm 61%). Theo chúng tôi, có thể mạng lưới trung tâm hướng nghiệp của tỉnh còn chưa phát triển, trung tâm hướng nghiệp mới chỉ có và hoạt động ở thành phố Sơn La và một vài huyện, còn hầu hết các huyện, thị của tỉnh chưa có trung tâm hướng nghiệp. Do đó, tác dụng của các trung tâm hướng nghiệp đối với học sinh còn hạn chế. Tìm hiểu về ngành học qua “các phương tiện thông tin” (ĐTB = 1.19) và nhờ sự “tư vấn của cha mẹ” (ĐTB = 1.08) chưa được nhiều sinh viên lựa chọn. Phần lớn sinh viên của trường thuộc dân tộc thiểu số và gia đình ở nông thôn nên các phương tiện thông tin còn thiếu thốn, cơ hội cập nhật thông tin không nhiều; cha mẹ các em đa số là nông dân, trình độ văn hoá thấp nên khả năng tư vấn của cha mẹ đối với việc chọn ngành học cho các em rất khó khăn; bản thân các cũng chưa thực sự tích cực trong việc tìm hiểu về ngành học của mình. Việc “tìm gặp những người trong ngành sư phạm” để tìm hiểu về ngành học chỉ nằm ở mức độ trung bình (ĐTB = 1.03). Với những điều kiện như vậy, các trường phổ thông cần phát huy ưu thế của mình trong việc định hướng cho các em lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp. Bảng 3.2: Sự kiên định của sinh viên trong lựa chọn ngành học Các mức độ (%) TT Nội dung Vẫn chọn ngành sư phạm Phân vân Không chọn ngành sư phạm ĐTB SD 1 Nếu bây giờ có cơ hội chọn lại nghề bạn sẽ quyết định như thế nào? 62.3 23.8 13.9 1.48 0.73 Mặc dù chịu sự ảnh hưởng từ nhiều phía khi sự lựa chọn ngành học cho mình như: Gia đình, bạn bè , thầy cô giáo và nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương, của xã hội, nhưng mỗi em đều có cách tìm hiểu và có sự lựa chọn riêng. Có em tự tin với sự lựa chọn của mình, nhưng cũng còn những em vẫn 54 chưa tự tin, chưa yên tâm với sự lựa chọn ngành học mà mình theo học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số sinh viên “vẫn chọn ngành sư phạm” (ĐTB = 1.48). Lý do “vẫn chọn ngành sư phạm” các em nêu ra khá nhiều, tập trung vào các lý do sau: “ngành này phù hợp với bản thân và hoàn cảnh gia đình”, “yêu thích ngành sư phạm”, “bố mẹ không biết chữ nên em sẽ cố gắng học để trở thành cô giáo đem cái chữ về cho mọi người”, “muốn đem sức mình phục vụ quê hương”, “được giáo dục con em vùng cao”, “qua đợt thực tập em thấy yêu nghề hơn, thấy ngành học phù hợp với mình hơn” (Phiếu số 31, 32, 41, 48, 50, 51), hoặc “chọn nghề sư phạm vì nó phù hợp với vùng quê”, “là nghề mà em tâm huyết và phù hợp với mình nhất”, “yêu thích ngành sư phạm và muốn truyền đạt những hiểu biết cho mọi người xung quanh” (phiếu Phiếu số 4, 11, 25). Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều sinh viên “phân vân”, hoặc “không chọn ngành sư phạm” nếu có cơ hội được chọn lại và muốn “được chuyển sang ngành học khác”. Lý do mà các em đưa ra đó là “Không thích ngành sư phạm, thích học quản trị kinh doanh”, “phân vân vì sợ học ngành khác khó tìm được việc làm hơn”, “muốn chuyển sang ngành học khác, vì ngành sư phạm không phải là ước mơ, nguyện vọng của em”, “muốn chuyển vì trong thời gian học tập ở trường cao đẳng em thấy mình chưa thực sự tự tin trong việc giảng dạy sau này” (Phiếu số 33, 52). Các giảng viên cũng cho biết một số sinh viên đã vào học trường CĐSP Sơn La nhưng vẫn có “ý định thi vào ngành khác, trường khác” Nhìn chung, các em đã có sự tìm hiểu về nghề và lý do các em “vẫn chọn ngành sư phạm” mà “không muốn chuyển sang ngành học khác” là phù hợp với bản thân các em và điều kiện thực tiễn của địa phương. Việc lựa chọn đúng đắn này giúp các em yên tâm học tập, có mục đích phấn đấu rõ ràng để đạt được kết quả cao trong học tập. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều em chưa tích cực tìm hiểu các thông tin liên quan đến nhà trường, đến ngành sẽ theo học nên việc chọn ngành học của các em chưa thực sự phù hợp. Chính vì vậy mà các em vẫn chưa yên tâm, “muốn chuyển sang ngành học khác” và chưa tập trung vào việc học tập của mình, kém thích ứng với môi trường học tập ở trường cao đẳng. Dựa vào điểm trung bình, độ lệch chuẩn và cách tính các chỉ số TƯNN, chúng tôi thu được kết quả về các mức độ TƯNN thể hiện ở TTNN của sinh viên như sau: Số liệu biểu đồ 3.1 cho thấy: Sinh viên có mức độ trung bình về TƯNN thể hiện ở TTNN chiếm tỉ lệ nhiều nhất (60.2%), còn tỉ lệ sinh viên đạt mức độ thích ứng cao là 29.8% và thấp là 10.0%. Thấp 10% Trung bình 60.2% Cao 29.8% Biểu đồ 3.1: Mức độ TƯNN thể hiện ở TTNN Tóm lại, về phía sinh viên, tâm thế sẵn sàng nghề nghiệp tốt sẽ góp phần giúp sinh viên có định hướng và động cơ rõ ràng, có thái độ tích cực trong học tập và rèn luyện. Về phía nhà trường, các thầy cô cần hiểu được suy nghĩ, cảm nhận, thái độ tình cảm của sinh viên đối với ngành học và những gì họ đang hướng tới để giúp các em hiểu và thích ứng tốt hơn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuan van Nguyen Thi Hoa DLDG2006.pdf
Tài liệu liên quan