Khảo sát sự chuyển pha của dụng cụ quay nickeltitanium sau sử dụng có hấp vô trùng trong mô phỏng lâm sàng

Tài liệu Khảo sát sự chuyển pha của dụng cụ quay nickeltitanium sau sử dụng có hấp vô trùng trong mô phỏng lâm sàng: Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 96 KHẢO SÁT SỰ CHUYỂN PHA CỦA DỤNG CỤ QUAY NICKEL- TITANIUM SAU SỬ DỤNG CÓ HẤP VÔ TRÙNG TRONG MÔ PHỎNG LÂM SÀNG Nguyễn Quốc Thắng*, Phạm Văn Khoa** TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) dọc theo trục dụng cụ của ba hệ thống dụng cụ quay nội nha Nickel-Titanium (NiTi) gồm Reciproc, HyFlex CM Pro và Neoniti sau sử dụng trong mô phỏng lâm sàng có hấp vô trùng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu in vitro trên 90 dụng cụ quay NiTi của ba hệ thống Reciproc, HyFlex Pro, Neoniti được chia thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm các trâm còn mới chưa sử dụng, nhóm 2 gồm các trâm sử dụng và hấp vô trùng 1 lần, nhóm 3 gồm các trâm sử dụng và hấp vô trùng lần lượt 1, 2 và 3 lần. Sau đó, các trâm được cắt thành các đoạn nhỏ khoảng 4-5 mm dọc theo trục dụng cụ từ phần đầu dụng cụ. Sử dụng phương pháp phân tích nhiệt lượng quét vi sai (DSC) để xác đ...

pdf8 trang | Chia sẻ: Đình Chiến | Ngày: 12/07/2023 | Lượt xem: 35 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát sự chuyển pha của dụng cụ quay nickeltitanium sau sử dụng có hấp vô trùng trong mô phỏng lâm sàng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 96 KHẢO SÁT SỰ CHUYỂN PHA CỦA DỤNG CỤ QUAY NICKEL- TITANIUM SAU SỬ DỤNG CÓ HẤP VÔ TRÙNG TRONG MÔ PHỎNG LÂM SÀNG Nguyễn Quốc Thắng*, Phạm Văn Khoa** TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) dọc theo trục dụng cụ của ba hệ thống dụng cụ quay nội nha Nickel-Titanium (NiTi) gồm Reciproc, HyFlex CM Pro và Neoniti sau sử dụng trong mô phỏng lâm sàng có hấp vô trùng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu in vitro trên 90 dụng cụ quay NiTi của ba hệ thống Reciproc, HyFlex Pro, Neoniti được chia thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm các trâm còn mới chưa sử dụng, nhóm 2 gồm các trâm sử dụng và hấp vô trùng 1 lần, nhóm 3 gồm các trâm sử dụng và hấp vô trùng lần lượt 1, 2 và 3 lần. Sau đó, các trâm được cắt thành các đoạn nhỏ khoảng 4-5 mm dọc theo trục dụng cụ từ phần đầu dụng cụ. Sử dụng phương pháp phân tích nhiệt lượng quét vi sai (DSC) để xác định nhiệt độ chuyển pha và quá trình chuyển pha của các đoạn mẫu. Kết quả: Giá trị Af của mỗi đoạn giữa các nhóm sau khi sử dụng có hấp vô trùng trong cùng một hệ thống trâm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >0,05). Kết luận: Sau sử dụng và hấp vô trùng lần lượt 3 lần không làm thay đổi nhiệt độ Af của dụng cụ quay nội nha NiTi. Từ khoá: NiTi, dụng cụ quay, phân tích nhiệt lượng quét vi sai (DSC), sự chuyển pha ABSTRACT INVESTIGATION OF PHASE TRANSFORMATION IN NICKEL-TITANIUM ROTARY INSTRUMENTS AFTER SIMULATED CLINICAL USE AND STERILIZED Nguyen Quoc Thang, Pham Van Khoa * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement Vol. 22 - No 2- 2018: 96 - 103 Objective: The aim of this study was to investigate the values of Af along the axial length of NiTi rotary instruments (Reciproc, HyFlex CM Pro, Neoniti) after simulated clinical use and sterilized. Materials and method: In this in vitro study, 90 files (Reciproc, HyFlex CM Pro, Neoniti) were divided into three groups: Group 1 was in the as-received condition, Group 2 and Group 3 were after subjection to 1 and 3 sterilization cycles with simulated clinical use, respectively. They were cut into segments at 4-5 mm increment from the working tip. The transformation temperatures and phase transformations of regional specimens was examined using differential scanning calorimetric. Result: No statistically significant difference was found in the Af values of each specimens in three groups in each NiTi systems after simlated clinical use and sterilized (p > 0,05). Conclusion: After three times simulated clinical using and sterilizing had no evident effect upon the phase transformation for each rotary instruments systems. Key words: NiTi, rotary instrument, diffential scanning calorimetric (DSC) analysis, phase transformation. *Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM **Bộ môn Chữa răng-Nội nha, Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM Tác giả liên lạc: ThS. Nguyễn Quốc Thắng ĐT: 0916059590 Email: thangnguyen.dds@gmail.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 97 MỞ ĐẦU Điều trị nội nha chủ yếu nhằm hướng đến các mục tiêu chữa trị và phòng ngừa các bệnh lý tủy răng và vùng quanh chóp. Trong suốt hai thập kỷ vừa qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển liên tục về khoa học, công nghệ mới ứng dụng trong lĩnh vực nội nha, cùng với sự ra đời hàng loạt các loại dụng cụ quay thế hệ mới đã làm cho công việc điều trị nội nha trở nên dễ dàng hơn, cải thiện tốc độ của quy trình sửa soạn hệ thống ống tủy, an toàn, có độ tin cậy cao. Sự ra đời của dụng cụ quay Nikel-Titanium (NiTi) đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng, hợp lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị. Các đặc tính và tỉ lệ tương đối giữa các pha tinh thể quyết định tính chất cơ học của kim loại. Hai đặc tính đặc trưng cơ bản là tính nhớ hình dạng và tính siêu đàn hồi được ứng dụng nhiều trong lâm sàng nha khoa là kết quả của sự chuyển pha qua lại giữa pha austenite và pha martensite trong hợp kim NiTi. Bước đầu tiên trong việc mô tả một vật liệu có tính nhớ hình dạng là khảo sát sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình chuyển pha. Theo Brantley, phương pháp phân tích nhiệt lượng quét vi sai (DSC) là một công cụ mạnh mẽ để nghiên cứu các tính chất vật liệu của các loại dụng cụ quay NiTi dùng trong nội nha. Phương pháp này cho phép khảo sát được sự chuyển dạng giữa hai pha austenite và martensite dựa vào sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình nung nóng và làm nguội, đồng thời cung cấp thông tin về năng lượng trong quá trình chuyển pha của vật liệu(5). Vào đầu những năm 2000, hàng loạt những nghiên cứu nhận thấy rằng có sự thay đổi trong sự chuyển dạng giữa các pha khi xử lý nhiệt, làm ảnh hưởng đến độ mềm dẻo, dễ uốn của dụng cụ quay NiTi. Kể từ đó, người ta đã ứng dụng việc thay đổi nhiệt độ trong quá trình chế tạo dụng cụ với mong muốn làm thay đổi các tính chất của hợp kim NiTi. Ở dạng pha martensite, hợp kim NiTi có độ kháng mỏi đáng kể, các dụng cụ khi đó dễ dàng bị biến dạng và sau đó chúng có thể phục hồi lại hình dạng ban đầu khi làm nóng trên mức nhiệt độ chuyển pha. Điều này có thể lý giải là do quá trình nung nóng sẽ làm hợp kim tạm thời chuyển thành pha austenite, khi đó nó có tính chất siêu đàn hồi có thể khôi phục lại hình dạng ban đầu trước khi bị làm nguội lại. Quy trình xử lý cơ nhiệt độc quyền là một quy trình phức tạp mà tích hợp giữa quy trình hóa cứng và quy trình xử lý nhiệt vào chung trong cùng một quy trình. Gần đây, một loạt các quy trình xử lý nhiệt cơ học đã và đang được phát triển với mục tiêu sản xuất ra các phôi dây NiTi siêu đàn hồi tồn tại ở pha martensite trong thực hành lâm sàng. Những cải tiến trong lĩnh vực vật liệu đã dẫn đến sự phát triển của các dụng cụ nội nha thế hệ tiếp theo. Dây M (Reciproc), dây CM (HyFlex CM Pro) và dây được sản xuất bằng phương pháp gia công cắt dây tia lửa điện (Neoniti) là những đại diện cho các thế hệ tiếp theo của hợp kim NiTi với sự cải thiện độ mềm dẻo và độ kháng mỏi của dụng cụ. Ngày nay, các công nghệ luyện kim mới ra đời tạo nên cuộc cách mạng trong việc điều trị nội nha nhưng đồng thời cũng làm tăng lên đáng kể chi phí đầu tư dụng cụ của các bác sĩ răng hàm mặt. Hiện nay ở Việt Nam, do điều kiện kinh tế chưa cao, chi phí điều trị nội nha còn khá thấp, do đó các bác sĩ có khuynh hướng thường sử dụng lại dụng cụ nội nha sau khi hấp vô trùng để tiết kiệm chi phí, mặc dù khuyến cáo của nhà sản xuất chỉ nên sử dụng một lần cho một bệnh nhân nhằm tránh những tai nạn không mong muốn xảy ra như gãy dụng cụ trong ống tủy. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu in vitro sử dụng phương pháp phân tích nhiệt lượng quét vi sai (DSC) để khảo sát sự thay đổi của nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) sau khi sử dụng và hấp vô trùng của ba hệ thống dụng cụ quay NiTi gồm Reciproc, HyFlex CM Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 98 Pro và Neoniti đại diện cho ba loại vật liệu và công nghệ chế tạo trâm thế hệ mới. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu thử nghiệm in vitro. Đối tượng nghiên cứu 30 trâm Reciproc R25 (.25/.08) chiều dài 25 mm (VDW). 30 trâm quay HyFlex CM Pro 25/0,06 (Coltène), chiều dài 25 mm. 30 trâm quay Neoniti A1 25/0,08 (NEOLIX), chiều dài 25 mm. Phương tiện nghiên cứu 150 ống tủy nhựa hẹp, cong hình chữ L dài 19 mm. Trâm dũa K số 10 chiều dài 25 mm. Máy nội nha VDW.SILVER®RECIPROC® và tay khoan nội nha giảm tốc (6:1) kèm theo máy. Dung dịch bơm rửa NaOCl 3%, côn giấy. Máy cắt tốc độ chậm IsoMet (Buehler, Lake Bluff, IL). Máy đo phân tích nhiệt lượng quét vi sai DSC 8000 (Perkin Elmer, USA) kèm phần mềm phân tích Pyris phiên bản 11.0.0.0449. Tiến trình thực hiện Phân nhóm nghiên cứu 90 trâm quay NiTi của 3 nhóm trâm khác nhau được chia thành 3 nhóm lớn gồm: - Nhóm I: 30 trâm quay Reciproc R25. - Nhóm II: 30 trâm quay HyFlexTM CM Pro 25/0,06. - Nhóm III: 30 trâm quay Neoniti A1 25/0,08. Các trâm ở từng mỗi nhóm I, II, III lại được chia thành 3 nhóm nhỏ như sau: - Nhóm I.1: 10 trâm Reciproc R25 còn mới chưa sử dụng. - Nhóm I.2: 10 trâm Reciproc R25 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn trên 1 ống tủy nhựa, sau đó đem đi hấp vô trùng 1 lần. - Nhóm I.3: 10 trâm Reciproc R25 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn ống tủy và hấp vô trùng lần lượt 1, 2 và 3 lần. - Nhóm II.1: 10 trâm HyFlexTM CM Pro 25/0,06 còn mới chưa sử dụng. - Nhóm II.2: 10 trâm HyFlexTM CM Pro 25/0,06 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn trên 1 ống tủy nhựa, sau đó đem đi hấp vô trùng 1 lần. - Nhóm II.3: 10 trâm HyFlexTM CM Pro 25/0,06 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn ống tủy và hấp vô trùng lần lượt 1, 2 và 3 lần. - Nhóm III.1: 10 trâm Neoniti A1 25/0,08 còn mới chưa sử dụng. - Nhóm III.2: 10 trâm Neoniti A1 25/0,08 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn trên 1 ống tủy nhựa, sau đó đem đi hấp vô trùng 1 lần. - Nhóm III.3: 10 trâm Neoniti A1 25/0,08 thực hiện mô phỏng việc điều trị sửa soạn ống tủy và hấp vô trùng lần lượt 1, 2 và 3 lần. Sau khi phân nhóm, các cây trâm của các nhóm I.2, I.3, II.2, II.3, III.2, III.3 sẽ được đem tiến hành quá trình mô phỏng lâm sàng cho việc sửa soạn, tạo dạng ống tủy và hấp vô trùng. Quy trình sửa soạn và tạo dạng trên ống tủy nhựa của từng hệ thống trâm quay NiTi nội nha Quy trình sửa soạn và tạo dạng trên ống tủy nhựa hẹp, cong hình chữ L với ba hệ thống trâm quay NiTi được thực hiện bởi người nghiên cứu trên các nhóm I.2, I.3, II.2, II.3, III.2, III.3 theo như quy trình sửa soạn và tạo dạng tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khử khuẩn dụng cụ sau khi sửa soạn ống tủy Sau khi sử dụng mô phỏng lâm sàng, tất cả các trâm quay NiTi sẽ được ngâm khử khuẩn bằng dung dịch Hexanios G+R pha loãng ở nồng độ 0,5% trong 15 phút. Sau đó rửa sạch, lau khô, đóng gói và đem đi hấp vô trùng bằng hơi nước nóng (autoclave) trong 30 phút ở 134oC, áp suất 1,4 atmosphere. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 99 Sau khi hấp vô trùng 1 lần sẽ chọn ngẫu nhiên ở mỗi hệ thống 10 cây trâm, ta được các nhóm I.2, II.2 và III.2 (mỗi nhóm gồm 10 trâm). Các cây trâm còn lại sẽ được đem thực hiện lặp lại việc mô phỏng lâm sàng điều trị sửa soạn, tạo dạng trên ống tủy nhựa lần thứ 2, sau đó ngâm khử khuẩn dụng cụ, hấp vô trùng và đem sửa soạn trên ống tủy nhựa lần thứ 3, tiếp theo đó ngâm khử khuẩn và hấp vô trùng dụng cụ, khi đó sẽ thu được nhóm I.3, II.3 và III.3 (mỗi nhóm gồm 10 trâm). Cắt từng cây trâm thành từng đoạn mẫu nhỏ Sau khi chuẩn bị xong ba nhóm của từng hệ thống trâm quay NiTi, các trâm sẽ được cắt thành từng đoạn nhỏ bằng máy cắt tốc độ chậm IsoMet (Buehler) có lưỡi cắt bằng kim cương và làm mát bằng nước, cắt cẩn thận và từ từ từng cây trâm ở tất cả các nhóm thành 4 đoạn mẫu nhỏ, đánh dấu ký hiệu từng đoạn mẫu lần lượt là A, B, C, D dọc theo trục dụng cụ tính từ đầu dụng cụ với mỗi đoạn dài khoảng 4 – 5 mm. Đo nhiệt lượng quét vi sai (DSC) và phân tích bằng phần mềm phân tích nhiệt Từng đoạn trâm của mỗi nhóm sau khi cắt sẽ được xác định cân nặng bằng cân phân tích điện tử CPA 225D Sartorius (sai số 0,1mg). Sau khi cân, từng đoạn mẫu sẽ được đặt vào trong một đĩa nhôm nhỏ và không đậy nắp lại để tránh tạo ra ứng suất không mong muốn đè nén lên mẫu thử trong quá trình đo. Ngoài ra, có một đĩa nhôm trống khác chọn làm đĩa chứng trơ cần phải có khi thực hiện phép đo DSC. Sau đó, đem hai đĩa nhôm trên đặt vào bên trong hai buồng đo của máy DSC 8000 (Perkin Elmer, Hoa Kỳ). Đậy nắp buồng đo và thiết lập chu trình nhiệt của phép đo DSC bằng máy vi tính với nhiệt độ của phép đo DSC trong phạm vi từ 15oC đến 100oC. Trước tiên, mẫu đo sẽ được làm lạnh từ nhiệt độ phòng xuống nhiệt độ 15oC, sau đó được làm nóng lên 100oC sẽ thu được đường cong lạnh, rồi làm lạnh từ 100oC xuống 10oC sẽ thu được đường cong nóng, tốc độ gia nhiệt trong suốt quá trình đo nhiệt là 10oC/phút và dòng chảy khí nitro vào khoảng 20 ml/phút. Nhiệt độ hiệu chuẩn của thiết bị đo được thực hiện bởi n-pentane, nước khử ion và indium. Đồ thị và kết quả của phép đo DSC được ghi nhận và phân tích bằng phần mềm máy tính Pyris phiên bản 11.0.0.0449 bao gồm nhiệt độ bắt đầu và kết thúc chuyển pha tinh thể tại các đỉnh thu nhiệt và tỏa nhiệt trên các đường cong tín hiệu trong quá trình chuyển pha cùng với giá trị enthalpy thay đổi liên quan đến quá trình chuyển pha. KẾT QUẢ Không có các sai sót thường gặp khi sửa soạn trên ống tủy nhựa bằng dụng cụ quay Reciproc, HyFlex CM Pro, Neoniti. Các trâm không bị biến dạng hoặc gãy trong suốt quá trình sửa soạn, tuy nhiên hiệu quả cắt ở các trâm sau khi sử dụng và hấp vô trùng giảm dần khi sửa soạn trên các ống tủy nhựa. Kết quả DSC về các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) được ghi nhận trong đồ thị DSC trong quá trình nung nóng giữa các đoạn mẫu A, B, C, D của cả ba hệ thống trâm quay NiTi trong nghiên cứu được liệt kê trong các bảng 1, 2 và 3. Do các số liệu tuân theo phân phối chuẩn (kiểm định Shapiro-Wilk với mẫu nhỏ), nên chúng tôi dùng kiểm định ANOVA (phương sai giữa các nhóm so sánh bằng nhau) để so sánh các giá trị trung bình giữa ba nhóm 1, 2, 3 của từng hệ thống trâm quay NiTi sử dụng trong nghiên cứu này. Nhiệt độ Af của hệ thống trâm quay Reciproc trong quá trình nung nóng Bảng 1 mô tả nhiệt độ Af trung bình của ba nhóm nghiên cứu của hệ thống trâm Reciproc. Nhiệt độ Af của đoạn mẫu A thấp nhất (khoảng 47,5oC) và cao nhất là ở đoạn mẫu D (khoảng 51oC) và có sự tăng dần giá trị này từ đoạn mẫu A đến đoạn mẫu D. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa (p>0,05) sau 3 lần sử dụng có hấp vô trùng so với trâm còn mới chưa sử dụng. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 100 Bảng 1. Nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) của ba nhóm nghiên cứu của hệ thống trâm quay Reciproc trong quá trình nung nóng. Af ( o C) A B C D Nhóm I.1 47,65 0,48 49,36 0,73 50,62 1,03 51,31 1,79 Nhóm I.2 47,43 0,45 49,45 0,35 50,45 1,08 51,11 1,50 Nhóm I.3 47,62 0,70 49,36 0,46 50,34 1,10 51,12 1,10 p (ANOVA) 0,634 0,904 0,845 0,943 * Nhiệt độ Af của hệ thống trâm quay HyFlex CM Pro trong quá trình nung nóng Nhiệt độ Af trung bình và độ lệch chuẩn ở ba nhóm của hệ thống trâm HyFlex CM Pro trong quá trình nung nóng được liệt kê trong bảng 2. Khi so sánh trung bình giữa các nhóm bằng kiểm định ANOVA, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05) giữa các nhóm II.1, II.2, II.3 của các đoạn mẫu. Bảng 2. Nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) của ba nhóm nghiên cứu của hệ thống trâm quay HyFlex CM Pro trong quá trình nung nóng. Af ( o C) A B C D Nhóm II.1 41,45 0,33 42,90 0,75 44,99 0,60 49,57 0,85 Nhóm II.2 41,42 0,40 42,63 0,62 45,10 0,81 50,01 0,83 Nhóm II.3 41,47 0,41 43,48 0,90 45,39 0,66 50,29 0,77 p (ANOVA) 0,958 0,055 0,438 0,158 * Nhiệt độ Af của hệ thống trâm quay Neoniti trong quá trình nung nóng Giá trị nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite trung bình và độ lệch chuẩn của hệ thống trâm quay Neoniti được mô tả trong bảng 3. Chúng tôi nhận thấy nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite của hệ thống trâm Neoniti A1 nằm trong khoảng từ 52,3oC đến gần 54oC. Sau ba lần sử dụng và hấp vô trùng thì giá trị Af ở các đoạn trâm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với tình trạng lúc trâm còn mới chưa sử dụng Bảng 3. Nhiệt độ kết thúc chuyển pha austenite (Af) của ba nhóm nghiên cứu của hệ thống trâm quay Neoniti trong quá trình nung nóng. Af ( o C) A B C D Nhóm III.1 53,89 0,83 53,00 1,22 52,37 1,17 53,08 1,11 Nhóm III.2 54,07 1,20 53,39 0,99 52,38 1,34 53,40 1,09 Nhóm III.3 53,79 0,94 53,28 1,11 52,36 1,07 53,18 1,31 p (ANOVA) 0,823 0,718 0,999 0,826 BÀN LUẬN Trong nghiên cứu của chúng tôi có sử dụng các ống tủy nhựa trong suốt để mô phỏng việc sửa soạn và tạo dạng hệ thống ống tủy. Việc sử dụng ống tủy nhựa trong nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện bởi Weine và cs. năm 1975, cho đến ngày nay chúng vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa các loại trâm quay nội nha với nhau(2,10). Do ống tủy nhựa được sản xuất với cùng một chiều dài, cùng độ cong, cùng độ thuôn ban đầu, cũng như giống nhau độ cứng, do đó việc sử dụng ống tủy nhựa trong nghiên cứu này giúp chuẩn hóa về kích thước, độ cứng, độ cong, độ thuôn và hình dạng giải phẫu của ống tủy, trong khi nếu sử dụng răng đã nhổ thì khó có thể thu thập được các răng có chiều dài, độ cong, độ cứng và kích thước ban đầu tương tự nhau. Tuy nhiên, khi sử dụng ống tủy nhựa cũng có một số hạn Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 101 chế, đó là độ cứng của vật liệu nhựa dùng để chế tạo ống tủy mô phỏng (22 kg/mm2) thấp hơn so với độ cứng của ngà răng thông thường (40 kg/mm2). Hơn nữa, trong khi sửa soạn ống tủy, lực ma sát sinh ra sẽ làm vật liệu bị nóng chảy, do đó cản trở vận động quay của dụng cụ nội nha trong ống tủy, làm trâm dễ bị kẹt và đôi khi phải chịu lực vặn xoắn quá mức có thể dẫn đến gãy dụng cụ trong khi sửa soạn. Trong nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận thấy trường hợp nào dụng cụ bị gãy trong khi sửa soạn ống tủy với ba hệ thống trâm quay Reciproc, HyFlex CM Pro và Neoniti. Việc thực hiện mô phỏng sửa soạn và tạo dạng ống tủy trên các ống tủy nhựa với mục đích chuẩn hóa điều kiện thử nghiệm về độ cứng, độ cong, độ thuôn của ống tủy. Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng thì mỗi răng có độ cứng, độ cong và độ thuôn khác nhau tùy thuộc vào giới tính, lứa tuổi, tình trạng bệnh lý cũng như nhiều yếu tố khác nên nghiên cứu không thể mô phỏng chính xác hoàn toàn. Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về số lần sử dụng của dụng cụ quay NiTi. Các nhà sản xuất dụng cụ đều khuyến cáo chỉ nên sử dụng một lần trong lâm sàng, và cũng có những khuyến nghị tương tự với mong muốn làm giảm biến chứng gãy trâm thường xảy ra trong khi điều trị(3), nhưng cũng có những nghiên cứu khác cho thấy rằng dụng cụ quay NiTi có thể sử dụng lên đến 10 lần ở trong các mô hình ống tủy hoặc có thể sửa soạn ở bốn răng cối lớn mà không bị gãy trâm(13,16). Tuy nhiên, đa số các tác giả đều chấp thuận rằng việc sử dụng trên lâm sàng các dụng cụ quay NiTi kéo dài sẽ làm giảm đáng kể đặc tính kháng mỏi do chu kỳ(4,17). Bởi vì giải phẫu của từng ống tủy không giống nhau, cũng như chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, cho nên thật khó để có thể đưa ra lời khuyên chung về số lần sử dụng dụng cụ quay NiTi. Brantley và cs. đã thực hiện nhiều nghiên cứu DSC cho hợp kim NiTi trong chuyên ngành chỉnh nha và nội nha. Năm 2002, nhóm tác giả xuất bản hai bài báo liên quan đến phương pháp phân tích DSC của các loại trâm quay NiTi còn mới chưa qua sử dụng(5) và so sánh với các trâm quay đã qua sử dụng 1 lần, 3 lần và 6 lần(6). Nhóm tác giả cho rằng phương pháp phân tích DSC là một công cụ mạnh mẽ để nghiên cứu các tính chất vật liệu của các loại trâm quay nội nha, cung cấp thông tin trực tiếp không sẵn có từ các kỹ thuật phân tích các pha tinh thể của hợp kim NiTi. Ngoài ra, theo tác giả thì tính nhớ hình dạng thực sự không cần thiết trên lâm sàng trong lĩnh vực nội nha. Sau đó, nhóm tác giả tiếp tục khảo sát nhiệt độ chuyển pha giữa các đoạn trâm quay qua các lần sử dụng lần lượt 1 lần, 3 lần và 6 lần trong mô phỏng và so sánh với kết quả của nhóm còn mới chưa sử dụng. Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy không có sự ảnh hưởng rõ rệt đến trạng thái các pha của các trâm quay NiTi. Một nghiên cứu khác của Alapati và cs(1) cũng không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các trâm còn mới chưa sử dụng với các trâm đã sử dụng trên lâm sàng. Tương tự như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả rằng không có sự thay đổi về các giá trị nhiệt độ chuyển pha Af của cả ba hệ thống trâm Reciproc, HyFlex CM Pro và Neoniti sau ba lần sử dụng mô phỏng lâm sàng có hấp vô trùng. Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào những ảnh hưởng của việc tiệt trùng bằng nhiệt lên độ kháng mỏi của dụng cụ quay NiTi, nhưng cho đến nay, các kết quả vẫn mâu thuẫn nhau và chưa có sự đồng thuận(7,11,12,15). Bởi vì quá trình xử lý nhiệt ảnh hưởng đến các tính chất vật lý của hợp kim NiTi nên quá trình hấp vô trùng cũng có thể làm thay đổi các tính chất vật lý này. Theo một nghiên cứu của Canalda-Sahli(7), nhìn chung có sự giảm nhẹ độ mềm dẻo của trâm NiTi sau 10 chu kỳ tiệt trùng bằng nhiệt, nhưng toàn bộ các trâm thử nghiệm trong nghiên cứu đều thỏa mãn yêu cầu ISO tối thiểu về độ lệch góc sau khi hấp vô trùng. Tuy nhiên, Serene và cs. (1995) báo cáo rằng việc tiệt trùng sẽ làm tăng lên tính kháng mỏi chu kỳ của dụng cụ thông qua việc làm tăng độ cứng và khả năng kháng lại lực vặn xoắn của của hợp kim NiTi, đồng thời sự biến dạng của các dụng cụ NiTi trong quá trình sử Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 102 dụng trên lâm sàng có thể được phục hồi bằng cách nung nóng chúng ở nhiệt độ lớn hơn 125oC(14). Một kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Chaves Craveiro de Melo và cs. (2002) rằng sau 5 chu kỳ tiệt trùng bằng nhiệt, khả năng kháng mỏi của trâm ProFile trong ống tủy mô phỏng và độ vi cứng của chúng tăng lên một cách đáng kể(9). Mặt khác, nghiên cứu của Casper và cs. cho thấy khi đem hấp vô trùng 7 lần thì không có sự ảnh hưởng đáng kể đến độ mềm dẻo và độ kháng gãy của dây M, dây CM hoặc dây xử lý pha R(8). Silvaggio và Hicks (1997) cũng đã chứng minh rằng quá trình hấp vô trùng bằng Autoclave hay hấp khô không làm giảm sức đề kháng của dụng cụ(15). Mize và cs. (1988) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa lên tính kháng mỏi của dụng cụ NiTi sau một số lần tiệt trùng(12). Khi so sánh giữa dụng cụ bằng thép không gỉ và dụng cụ NiTi khử trùng bằng autoclave hay hấp khô, Hilt và cs. (2000) cũng kết luận không có sự khác biệt sau khi tiệt trùng dụng cụ mà có ảnh hưởng lên các tính chất của dụng cụ như độ xoắn của trâm và cấu trúc vi thể11. Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhiệt độ chuyển pha sau 3 lần sử dụng có hấp vô trùng của cả ba loại hệ thống trâm quay Reciproc, HyFlex CM Pro và Neoniti. Do vậy chúng tôi có thể kết luận rằng việc hấp vô trùng và việc sử dụng lại trâm quay NiTi nội nha không làm ảnh hưởng đến sự chuyển pha tinh thể trong hợp kim NiTi ở các loại dây M, dây CM và dây NiTi được chế tạo bằng phương pháp gia công cắt dây tia lửa điện. KẾT LUẬN Kết quả của nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự thay đổi các pha tinh thể sau khi sử dụng có hấp vô trùng. Điều này không có nghĩa là các bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng lại dụng cụ quay NiTi sau khi sử dụng và hấp vô trùng bao nhiêu lần cũng được. Biến chứng gãy trâm chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như độ kháng mỏi chu kỳ, độ kháng xoắn, các vi nứt trên dụng cụ sau khi sử dụng Do đó, trong thực hành lâm sàng, tốt nhất các bác sĩ chỉ nên sử dụng trâm quay NiTi một lần cho một bệnh nhân, cho dù là bất kể ở hệ thống trâm quay loại nào để phòng ngừa các biến chứng không mong muốn xảy ra. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Alapati SB, Brantley WA, Iijima M, Schricker SR, Nusstein JM, Li UM, Svec TA (2009). “Micro-XRD and temperature- modulated DSC investigation of nickel-titanium rotary endodontic instruments”, Dental Materials, 25 (10), pp.1221- 1229. 2. Altunbas D, Kutuk B, Kustarci A (2015). “Shaping ability of reciprocating single-file and full-sequence rotary instrumentation systems in simulated curved canals”, European Journal of Dentistry, 9 (3), pp.346-351. 3. Arens FC, Hoen MM, Steiman HR, Dietz GC Jr (2003). “Evaluation of single-use rotary nickel-titanium instruments”, Journal of Endodontics, 29 (10), pp.664-666. 4. Bahia M, Buono V (2005). “Decrease in the fatigue resistance of nickel-titanium rotary instruments after clinical use in curved root canals”, Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology, Oral Radiology, and Endodontology, 100 (2), pp.249- 255. 5. Brantley WA, Svec TA, Iijima M, Powers JM, Grentzer TH (2002). “Differential scanning calorimetric studies of nickel titanium rotary endodontic instruments”, Journal of Endodontics, 28 (8), pp.567-572. 6. Brantley WA, Svec TA, Iijima M, Powers JM, Grentzer TM (2002). “Differential scanning calorimetric studies of nickel- titanium rotary endodontic instruments after simulated clinical use”, Journal of Endodontics, 28 (11), pp.774-778. 7. Canalda-Sahli C, Brau-Aguade E, Sentis-Vilalta J (1998). “The effect of sterilization on bending and torsional properties of K- files manufactured with different metallic alloys”, International Endodontics Journal, 31 (1), pp.48-52. 8. Casper RB, Roberts HW, Roberts MD, Himel VT, Bergeron BE (2011). “Comparison of autoclaving effects on torsional deformation and fracture resistance of three innovative endodontic file systems”, Journal of Endodontics, 37 (3), pp.1572-1575. 9. Chaves Craveiro de Melo M, Guiomar de Azevedo Bahia M, Lopes Buono VT (2002). “Fatigue resistance of engine-driven rotary nickel-titanium endodontic instruments”, Journal of Endodontics, 28 (11), pp.765-769. 10. Forghani M, Hezarjaribi M, Teimouri H (2017). “Comparison of the shaping characteristics of Neolix and Protaper Universal systems in preparation of severely-curved simulated canals”, Journal of Clinical and Experimental Dentistry, 9 (4), pp.556-569. 11. Hilt BR, Cunningham CJ, Shen C, Richards N (2000). “Torsional properties of stainless-steel and nickel titanium files after multiple autoclave sterilizations”, Journal of Endodontics, 26 (2), pp.76-80. 12. Mize SB, Clement DJ, Pruett JP, Carnes DL (1998). “Effect of sterilization on cyclic fatigue of rotary nickel-titanium Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 2 * 2018 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 103 endodontic instruments”, Journal of Endodontics, 24 (12), pp.843-847. 13. Peters OA, Barbakow F (2002). “Dynamic torque and apical forces of ProFile .04 rotary instruments during preparation of curved canals”, International Endodontics Journal, 35 (4), pp.379- 389. 14. Serene TP, Adams JD, Saxena A (1995). Nickel-titanium instruments: applications in endodontics, Ishiyaku EuroAmerica, St. Louis, p.112. 15. Silvaggio J, Hicks ML (1997). “Effect of heat sterilization on the torsional properties of rotary nickel-titanium endodontic files”, Journal of Endodontics, 23 (12), pp.731-734. 16. Yared G, Bou Dagher FE, Machtou P (1999). “Cyclic fatigue of ProFile rotary instruments after simulated clinical use”, International Endodontics Journal, 32 (2), pp.115-119. 17. Yared G (2004). “In vitro study of the torsional properties of new and used ProFile nickel titanium rotary files”, Journal of Endodontics, 30 (6), pp. 410-412. Ngày nhận bài báo: 28/01/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhao_sat_su_chuyen_pha_cua_dung_cu_quay_nickeltitanium_sau_s.pdf
Tài liệu liên quan