Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới

Tài liệu Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới: Xó hội học, số 4(112), 2010 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 36 Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới Bùi Thị Thanh Hà* Sự biến đổi cơ cấu của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) đất nước bao gồm những biến đổi của nhiều giai tầng trong xã hội. Những biến đổi này luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố và tạo nên những xu hướng khác nhau. Một trong các tầng lớp có những thay đổi mạnh mẽ nhất đó là trí thức. Bài viết này đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi của trí thức Việt Nam, cùng những yếu tố tác động nhằm góp phần nhận diện cơ cấu xã hội Việt Nam đang thay đổi. Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan các tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan đến tầng lớp trí thức Việt Nam từ năm 1991 đến nay. 1. Trí thức, đặc trưng, chức năng và vai trò của tầng lớp trí thức Có rất nhiều định nghĩa để hiểu trí thức là ai. Về cơ bản, sự phân tách tầng ...

pdf9 trang | Chia sẻ: honghanh66 | Ngày: 22/03/2018 | Lượt xem: 21 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Xó hội học, số 4(112), 2010 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 36 Xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới Bùi Thị Thanh Hà* Sự biến đổi cơ cấu của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) đất nước bao gồm những biến đổi của nhiều giai tầng trong xã hội. Những biến đổi này luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố và tạo nên những xu hướng khác nhau. Một trong các tầng lớp có những thay đổi mạnh mẽ nhất đó là trí thức. Bài viết này đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi của trí thức Việt Nam, cùng những yếu tố tác động nhằm góp phần nhận diện cơ cấu xã hội Việt Nam đang thay đổi. Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan các tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan đến tầng lớp trí thức Việt Nam từ năm 1991 đến nay. 1. Trí thức, đặc trưng, chức năng và vai trò của tầng lớp trí thức Có rất nhiều định nghĩa để hiểu trí thức là ai. Về cơ bản, sự phân tách tầng lớp trí thức trong so sánh với các tầng lớp xã hội khác dựa trên đặc thù của hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, tầng lớp trí thức có hoạt động nghề đặc biệt, khiến cho họ có mặt ở tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi khu vực lãnh thổ và liên quan tới mọi giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Nghị quyết 27 NQ/TƯ ngày 6/8/2008 của BCH TW Đảng định nghĩa: trí thức là “những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đối với xã hội”. Như vậy, tiêu chí đầu tiên để phân biệt trí thức với các tầng lớp khác trong xã hội là đặc trưng hoạt động lao động của họ - lao động trí óc. Tuy nhiên, đây chỉ là tiêu chí cơ bản đầu tiên, cần nhưng chưa đủ. Về cơ bản, có thể phân ra hai nhóm quan điểm khác nhau để hiểu trí thức là ai. Nhóm quan điểm thứ nhất nhấn mạnh các đặc thù phương thức lao động nghề nghiệp của tầng lớp trí thức, cho rằng trí thức là những người chủ yếu làm việc trí óc, có trình độ về lĩnh vực chuyên môn nhất định (thay đổi theo trình độ phát triển của xã hội). Hoạt động lao động trí óc của họ có tính phức tạp nhất định, tạo ra những giá trị mới cho xã hội. Nhóm quan điểm thứ hai nhấn mạnh đến những phẩm chất nhân cách văn hóa của trí thức và xem chúng như một nội dung không thể thiếu trong định nghĩa về tầng lớp này. Đặc trưng và chức năng của tầng lớp trí thức Mặc dù đưa ra nội hàm và ngoại diên khái niệm có sự khác biệt, song nhìn chung, các định nghĩa về trí thức nổi bật hai đặc trưng cơ bản (1): Một là, có trình độ trí tuệ cao, tiếp thu được cả trong trường học và trường đời; Hai là, làm việc lao động * TS. Viện Xã hội học Bựi Thị Thanh Hà 37 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp, đòi hỏi sự sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau. Điều đó có nghĩa, không phải bất cứ ai làm công việc lao động trí óc thì đều được xem là trí thức. Chức năng của trí thức bao gồm một số yếu tố sau (1): 1. Phổ biến, truyền bá, nhất là sáng tạo văn hóa, tức là sáng tạo và duy trì những giá trị cơ bản của xã hội hướng tới chân, thiện, mỹ, góp phần đề xuất các giải pháp cho những vấn đề có lợi cho quốc kế dân sinh. 2. Phản biện xã hội: Theo C. Mác, trí thức là nhà phê bình xã hội, nhìn rõ sự vật, suy nghĩ đến cùng và phê phán những gì cản trở sự vươn tới một xã hội tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn, nhân đạo hơn. 3. Đào tạo lớp trí thức mới cho đất nước: Về phương diện khoa học, công nghệ hay văn hóa, nghệ thuật, việc đào tạo lớp người kế cận sẽ làm cho các trường phái học thuật trở nên mạnh hơn, đa dạng hơn, và nhờ đó, trí thức của xã hội trở nên phong phú hơn. 4. Tham gia ngày càng đông đảo vào các hoạt động xã hội, hoạt động chính trị và hoạt động quản lý sản xuất, kinh doanh. Những chức năng này sẽ được cụ thể hóa trong những nhiệm vụ mà mỗi giai đoạn phát triển đặt ra đối với trí thức. Mỗi trí thức ở những lĩnh vực chuyên môn khác nhau sẽ thực hiện những chức năng trên theo những cách khác nhau. Vai trò của tầng lớp trí thức Đội ngũ trí thức là lực lượng chủ chốt góp phần phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Có thể nói, ở đâu có nhiều tri thức hơn, ở đó kinh tế phát triển hơn; những công ty, đơn vị nào có nhiều trí thức sẽ phát triển mạnh hơn; những cá nhân nào có tri thức, có trình độ sẽ nhận được việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn Nghị quyết của Đảng đã khẳng định vai trò to lớn của tầng lớp trí thức: “Trong mọi thời đại, tri thức là nền tảng của tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và cách mạng công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”(4). Có thể khẳng định: Trí thức là lực lượng lao động sáng tạo hàng đầu, đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay. 2. Thực trạng và xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức nước ta Trong những năm qua, tầng lớp trí thức nước ta đã có sự phát triển khá nhanh về số lượng và tiến bộ đáng kể về chất lượng. Năm học 2009 - 2010, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,02 lần so với năm học 2000 - 2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,17 lần, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 3,5 lần, số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,96 lần, nâng số sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân lên 195, số học viên cao học và Xu hướng biến đổi của tầng lớp trớ thức trong thời kỳ đổi mới Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 38 nghiên cứu sinh tăng 3,54 lần. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ khác nhau tăng từ 20% năm 2000 lên 40% vào năm 2010, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động (15). Tới năm 2009, trong số những người từ 15 tuổi trở lên đang theo học các trường chuyên nghiệp trên toàn quốc, có tới hơn 53% hiện đang theo học các trường đại học và trên đại học. Nếu gộp cả số người đang học cao đẳng với nhóm đang học ở trình độ đại học và trên đại học thì đội ngũ này sẽ chiếm gần 80%. Sự mất cân đối này là tình trạng chung đối với cả 2 giới nam, nữ và 2 khu vực thành thị, nông thôn. Trong toàn quốc, số người có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm một phần rất nhỏ (4,4%) và phân bố chênh lệch lớn gữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn (nam (5,1%), nữ (3,7%); thành thị (10,8%), nông thôn (1,8%)) (17). Học vị tiến sỹ (Ph.D) là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học. Năm 2005, cả nước có 127 cơ sở đào tạo tiến sĩ. Riêng năm học 2006 - 2007 tổng số học viên cao học đang học là 34.984 người và số nghiên cứu sinh là 3.047 người (6, tr.132). Năm 2006 có tới gần 150 cơ sở đào tạo học vị tiến sỹ, mỗi năm thu nhận khoảng 1.000 thí sinh làm tiến sĩ. Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2008 - 2009 Việt Nam có 369 trường đại học và cao đẳng (146 trường đại học, 223 trường cao đẳng). Có 5.879 tiến sỹ, 17.046 thạc sỹ. Số giảng viên 41.007 người và 1.242.778 sinh viên. Trình độ cao đẳng, đại học là 17.046 người. Nhiều trường đại học với những loại hình khác nhau đang ngày một gia tăng cùng với số sinh viên trong cả nước. Năm 2009, đã lên tới 406 trường đại học và cao đẳng (196 trường đại học và 210 trường cao đẳng) với trên 65 000 giáo viên và trên 1.7 triệu sinh viên. Theo Báo cáo tổng kết 12 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), nước ta có trên 20.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ, 7.000 phó giáo sư và 1.200 giáo sư. Đội ngũ này đã có đóng góp to lớn cho sự phát triển KH&CN, kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia. Từ đợt công nhận đầu tiên năm 1980 đến nay, số GS, PGS được công nhận ở nước ta đang tăng từng năm. Với 578 GS, PGS mới được phong tặng năm nay, hiện cả nước đã có gần 9.000 GS và PGS, trong đó số GS là 1.407 người (16). CNH, HĐH cùng với chủ trương mở cửa và hội nhập quốc tế đã tạo nhiều cơ hội cho tầng lớp trí thức được đào tạo và đào tạo lại một cách chính quy và phi chính quy cả trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, sự tăng lên về số lượng chưa thể đồng nghĩa với sự tăng lên về chất lượng giáo dục và đào tạo. Nhìn chung năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, năng lực tự học, thực hành của sinh viên tốt nghiệp đại học còn hạn chế, chưa thật sự đáp ứng được những yêu cầu của nơi tuyển dụng. Vì thế, rất nhiều lượt sinh viên đã được đào tạo xong, ra trường mà vẫn không thể có một nơi làm việc ổn định và không thể đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với tầng lớp trí thức. Thực tế, chất lượng đào tạo đại học và trên đại học chỉ được đánh giá ở mức trung bình, trong đó kỹ năng nghề là yếu nhất Bựi Thị Thanh Hà 39 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn (14). Phân tích sâu hơn, có thể thấy cơ cấu tầng lớp trí thức của nước ta có những điểm chưa hợp lý. Ví dụ. + Cơ cấu về tỷ lệ cán bộ từ cao đẳng, đại học đến tiến sĩ được phân bố chưa hợp lý với những nước đang tiến hành CNH,HĐH: cao đẳng: 28,6%; đại học: 68,29%; thạc sĩ: 1,49%; tiến sĩ và tiến sĩ khoa học: 0,93% (6, tr.126-129). + Tỷ lệ giữa số người có trình độ đại học, sau đại học/trung học chuyên nghiệp/công nhân kỹ thuật trên thế giới hiện là 1/4/10 hoặc 1/3/5, ở Việt Nam tại tổng điều tra dân số ngày 1/4/1989 là 1/1,16/0,96; đến 1/4/1999 là 1/1,13/0,92 và hiện nay tỷ lệ này vẫn chưa được cải thiện đáng kể (7, tr.282). + Tỷ lệ cán bộ khoa học - kỹ thuật phân bố theo khối ngành: Khoa học kỹ thuật: 34%; khoa học nông - lâm - ngư nghiệp: 24%; khoa học y - dược: 18%; khoa học xã hội và nhân văn: 13%; khoa học tự nhiên: 11%. + Tỷ lệ phân bố ở các vùng: tỷ lệ lớn tập trung tại các thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thậm chí mất cân đối ngay trong một vùng, ngành nghề... Ví dụ, trí thức ở vùng núi phía Bắc mới chỉ chiếm 22,7% tổng số lực lượng trí thức trong cả nước. Cơ cấu và phân bổ trí thức ở vùng này so với tổng số dân còn quá ít, đồng thời thiếu cân đối so với chính nguồn lao động ở tại các địa phương. Vùng núi Bắc Trung Bộ và vùng Đông Bắc có lực lượng trí thức đông hơn vùng Tây Bắc... (2). Số lượng giáo sư, phó giáo sư phân bố khá lệch trên phạm vi cả nước: Hà Nội chiếm 86,2% số lượng giáo sư; 13,2% số lượng phó giáo sư cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 9,5% số lượng giáo sư và 11,3% số lượng phó giáo sư cả nước. ở các địa phương khác có 4,3% số giáo sư và 75,5% số phó giáo sư làm việc. Mặc dù số giáo sư/phó giáo sư tăng đáng kể trong 2 năm 2007 (tăng 32%) và 2008 - 2009 (tăng 58%). Số người được phong chức danh giáo sư/phó giáo sư tăng hơn 2 lần so với năm 2005. Tỷ lệ giáo sư/phó giáo sư chênh lệch giữa các ngành (chủ yếu ở ngành Y - 21% trong năm 2008 - 2009 trong số 706 người được phong tặng) (11). + Phân bố về số lượng các tiến sĩ rất không đồng đều. Vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ khoảng 90% số tiến sĩ trong cả nước. Trong 2 vùng này, thì số lượng các tiến sĩ lại tập trung chủ yếu ở hai thành phố Hà Nội (63,82%) và Hồ Chí Minh (19,33%) (12). Sự mất cân đối trong phân bố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Trên thực tế, nước ta có 369 trường đại học và cao đẳng (con số có thể vẫn còn tăng), nhưng chỉ có 330 giáo sư và phó giáo sư (tức chỉ 4.7% tổng số giáo sư/phó giáo sư trên cả nước) đang làm nhiệm vụ giảng dạy. Có khoa ở một trường đại học tại Hà Nội có hơn chục giáo sư, trong khi đó có trường đại học ở địa phương khác lại không có giáo sư nào. + Tuổi bình quân của các giáo sư, phó giáo sư khá cao: Các giáo sư có độ tuổi trung bình là 57, các phó giáo sư là 50. Vấn đề giáo sư/phó giáo sư như là một phẩm Xu hướng biến đổi của tầng lớp trớ thức trong thời kỳ đổi mới Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 40 hàm, một số lớn những người được phong chức danh giáo sư/phó giáo sư năm nay là những người làm việc trong các cơ quan hành chính, quản lí, không liên quan gì đến giảng dạy đại học hay làm nghiên cứu khoa học. Trong 148 người được phong hàm giáo sư, phó giáo sư thuộc ngành y sinh học, có ít nhất 3 người là cán bộ cao cấp của Bộ Y tế...(11). + Chênh lệch khá lớn giữa hai giới trong cơ cấu cán bộ khoa học có trình độ cao. Trình độ tiến sĩ, nam (85,03%), nữ (14,97%). Tỷ lệ tương ứng ở học vị tiến sĩ khoa học là 95,42% và 4,58%. Tính chung cả nam (85,51%) và nữ (14,49%). Như vậy, xét về số lượng thì đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ sau đại học ở nước ta khá lớn so với nhiều nước trong khu vực. Song về chất lượng thì còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Trong top 200 trường đại học hàng đầu thế giới năm 2007 thì Nhật Bản có 11 trường; Trung Quốc: 6 trường; Hồng Kông: 4 trường; Hàn Quốc: 2 trường; Singapore: 2 trường; Đài Loan: 1 trường. Việt Nam chưa có đại diện nào. Nội dung đào tạo đại học lại mang tính lý thuyết với những kiến thức khá lạc hậu và không gắn với thực tiễn. Vì vậy, sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc, không đáp ứng nhu cầu của các tổ chức sử dụng lao động. Chất lượng đào tạo sau đại học của Việt Nam được đánh giá là đang đi theo các tiêu chuẩn riêng của Việt Nam, mà không theo chuẩn chung của thế giới. Nhìn chung, nhiều luận án tiến sĩ không đảm bảo hai yêu cầu quan trọng nhất là có tính học thuật và tính mới (10). Chất lượng của các giáo sư/phó giáo sư ở Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố và rất khó có thể so sánh và với quốc tế Nhiều giáo sư/phó giáo sư ở Việt Nam thiếu những công trình công bố quốc tế (hay có nhưng quá "mỏng"), lại được phong như một phẩm hàm Đến nay, nước ta đã công nhận 1336 giáo sư và 7062 phó giáo sư. Với tiêu chuẩn phong chức danh giáo sư/phó giáo sư còn bất cập như vậy, câu hỏi đặt ra là trong số này có bao nhiêu người xứng đáng với chức danh đó (?). Giáo sư Hoàng Tụy có phát biểu, chỉ có 20% giáo sư/phó giáo sư ở Việt Nam là xứng đáng với chức danh giáo sư/phó giáo sư theo chuẩn quốc tế (11). Trong thời kỳ đổi mới, trí thức Việt Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển thì tầng lớp trí thức nước ta còn bộc lộ nhược điểm và hạn chế. 3. Ưu điểm và hạn chế trong chính sách đối với trí thức Theo yêu cầu của giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, chính sách đối với trí thức đã bộc lộ nhiều nhược điểm và hạn chế: - Nhiều định hướng, chính sách đối với trí thức vẫn chỉ dừng lại ở quan điểm tư tưởng mà chưa được thể chế hóa thành pháp luật, chính sách của Nhà nước, do đó không đi vào cuộc sống. - Chậm xây dựng chiến lược phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn vinh nhân Bựi Thị Thanh Hà 41 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn tài trong lớp trí thức. - Chính sách phát triển các trường đại học và cao đẳng hiện nay là cách phát triển dàn đều (tỉnh nào cũng cố mở cho được một trường đại học, trong khi cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ trình độ rất mỏng). - Vẫn còn những biểu hiện không tin cậy và sử dụng những trí thức tài năng, trung thực, khi cần dám có những ý kiến khác với lãnh đạo, quản lý. Chủ trương xây dựng quy chế tự do dân chủ trong hoạt động khoa học được đề ra từ hơn chục năm trước, đến nay vẫn chưa được hiện thực hóa. - Đầu tư ngân sách Nhà nước cho các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của trí thức, đặc biệt là đầu tư cho khoa học và sáng tạo công nghệ, tuy đã dần tăng lên, nhưng cơ chế quản lý còn nhiều bất hợp lý, nên hiệu quả thấp. - Việc đánh giá và đãi ngộ lao động của trí thức (thể hiện trong các chính sách, chế độ về tiền lương, phụ cấp chuyên môn, nhuận bút) có nhiều điểm chưa hợp lý1, nhiều chế độ đãi ngộ mang tính cào bằng nên có ít tác dụng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của trí thức. Hiện tượng “chảy chất xám” gần đây ở nhiều ngành là sự phản ứng tiêu cực đối với các chính sách đó. Công tác trí thức của Đảng và Nhà nước còn nhiều hạn chế. Đến nay vẫn chưa có chiến lược tổng thể về tầng lớp trí thức. Chiến lược kinh tế - xã hội chưa thật sự thể hiện quan điểm lấy khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo làm “quốc sách hàng đầu”, chưa gắn với các giải pháp phát huy vai trò của tầng lớp trí thức trên nhiều lĩnh vực. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí thức chậm đi vào cuộc sống, thiếu chế tài đủ mạnh đảm bảo cho việc thực hiện chính sách có hiệu quả, một số chủ trương chính sách không sát với thực tế (4). Có thể thấy rằng giữa chủ trương, quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước đối với trí thức và việc ban hành các chính sách đối với trí thức, giữa việc ban hành các chính sách và việc triển khai, thực hiện hóa những chính sách đó còn có khoảng cách khá lớn. Bên cạnh đó, việc xây dựng và đổi mới chính sách được thực hiện không đồng bộ, thiếu tầm nhìn hệ thống. Điều đó đã không dẫn đến những thay đổi căn bản về chất. 4. Dự báo xu hướng biến đổi trong thời gian tới của tầng lớp trí thức Đến năm 2020, tầng lớp trí thức Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh về số lượng và chất lượng cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức, mở cửa và Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào diễn đàn quốc tế, trí thức Việt Nam đã và sẽ chủ động thích ứng với bối cảnh phát triển mới để có thể thực hiện tốt các chức năng và thể hiện tốt vai trò của mình. 1 Ví dụ, Người trí thức “lao tâm khổ tứ” viết ra được một cuốn sách thì chỉ được hưởng 12% giá trị của sản phẩm; trong khi cơ quan phát hành được hưởng 36% (thậm chí 40%); gần 40% còn lại thuộc về khâu in ấn, xuất bản. Như vậy, giá trị của lao động trí óc sáng tạo phải chăng là rẻ mạt nhất! Xu hướng biến đổi của tầng lớp trớ thức trong thời kỳ đổi mới Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 42 Tầng lớp trí thức sẽ có nhiều thay đổi đa dạng hơn về thành phần xuất thân, nguồn gốc đào tạo, cơ cấu ngành nghề. Chất lượng trí thức sẽ được nâng lên đáng kể để phù hợp với hoàn cảnh mới. Trí thức có những phẩm chất cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp: tư duy sáng tạo, khả năng phản biện, dự báo, tính năng động, nỗ lực học tập, tự tin vào bản thân, tinh thần trách nhiệm, hợp tác ngày càng được nâng cao. Trên thực tế, phần lớn trí thức vẫn được đào tạo chủ yếu trong nước. Đồng thời, sẽ có một tỷ lệ nhất định số học sinh, sinh viên giỏi, cán bộ khoa học trẻ được học nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở nước ngoài bằng các quỹ ngoại tệ trong nước, tài trợ từ nước ngoài... Mục tiêu phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước ta xác định là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Xây dựng tầng lớp trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020 có một tầng lớp trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước trong khu vực và thế giới (Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX). 5. Nhận xét và khuyến nghị Những xu hướng biến đổi của tầng lớp trí thức Việt Nam nêu trên là tất yếu. Tuy nhiên, mức độ biến đổi diễn ra nhanh hay chậm lại tùy thuộc rất nhiều vào các chính sách của Nhà nước đối với trí thức được thực thi như thế nào trong thực tiễn cuộc sống. Vấn đề đổi mới các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trí thức và hiện thực hóa các chính sách đó trong thực tiễn cuộc sống có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển nhân cách của người trí thức trong những năm tới. Nhận thức rõ điều này, trong Nghị quyết 27 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khóa X đã xác định 1 trong 5 giải pháp xây dựng tầng lớp trí thức là thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, trong đó khẳng định sẽ ban hành các chính sách đảm bảo để tầng lớp trí thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với giá trị từ kết quả lao động sáng tạo của họ. Từ những quan điểm vừa nêu, có thể đề xuất một số khuyến nghị về các nhóm chính sách đối với trí thức như sau: 1. Nhóm chính sách giáo dục và đào tạo Mở rộng quy mô và đa dạng hóa các hình thức đào tạo đại học để đuổi kịp trình độ chung của thế giới. Đẩy nhanh việc hiện đại hóa các trường đại học quốc gia, những trung tâm hàng đầu trong việc đào tạo đội ngũ trí thức. Mở rộng đào tạo chuyên gia ở nước ngoài bằng cả nguồn lực của Nhà nước, của nhân dân và sự trợ giúp quốc tế. Tăng cường “trí thức hóa” đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp của Đảng và Nhà nước; “đại học hóa” cán bộ lãnh đạo cấp huyện, cấp xã và sĩ quan quân đội; đẩy mạnh “trí thức hóa” công nông. Cùng với quá trình này chúng ta phải triển khai cân đối giữa các vùng miền, giữa các cấp, các ngành trong cả nước. Bựi Thị Thanh Hà 43 Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn Phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo về lượng phải gắn liền với việc kiểm soát đảm bảo chất lượng giáo dục. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng quy chế để trí thức có điều kiện thường xuyên được đào tạo lại về chuyên môn. Điều đó liên quan đến cả chất lượng đào tạo của hệ giáo dục phổ thông. 2. Nhóm chính sách sử dụng và đãi ngộ trí thức Cần phân loại tầng lớp trí thức trên cơ sở đặc thù hoạt động nghề nghiệp để có chính sách sử dụng và đãi ngộ thích hợp với từng đối tượng, không nên thực hiện chế độ cào bằng hay các chính sách giống như người làm hành chính. Những chính sách phù hợp với định hướng ưu tiên của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và thực trạng nguồn lực trí thức hiện nay. Ngay từ bây giờ Nhà nước cần phải có những chính sách chuyên biệt đối với trí thức ở những ngành mũi nhọn, phù hợp với mục tiêu hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế của thế giới. 3. Nhóm chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp trí thức Tập hợp, đoàn kết rộng rãi tầng lớp trí thức, làm cho tầng lớp này thật sự trở thành hợp phần quan trọng trong liên minh chiến lược công nhân - nông dân - trí thức ở trong nước và khuyến khích trí thức người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia xây dựng đất nước dưới nhiều hình thức. Trí thức là một chỉnh thể trọn vẹn, thống nhất, hoạt động của họ chịu sự chi phối đồng thời của nhiều nhân tố khác nhau. Tùy vào mối quan tâm của mỗi người trong mỗi thời điểm phát triển mà coi trọng nhân tố (động lực) nào đó hơn so với các nhân tố khác (động lực khác). Do vậy, việc kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau trong công tác quản lý sẽ duy trì, phát huy và nâng cao hiệu quả vai trò của trí thức, tận dụng nguồn tài chính và nhân lực mà vẫn không làm giảm hiệu quả của từng giải pháp đã nêu./. Tài liệu tham khảo 1. Báo cáo chuyên đề của đề tài: “Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2008. 2. Trịnh Quang Cảnh, Trí thức miền núi phía Bắc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng dân tộc thiểu số, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 10/2004. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 7 BCHTƯ khóa X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. 5. Đề tài cấp Nhà nước “Nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp nhà nước. Mã số: KX 03.11/06-10. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Lê Thị Thanh Hương. Hà Nội, Xu hướng biến đổi của tầng lớp trớ thức trong thời kỳ đổi mới Bản quyền thuộc viện Xó hội học www.ios.org.vn 44 năm 2009. 6. Nguyễn Đắc Hưng, Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại. Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. 7. Đặng Hữu (chủ biên), Phát triển kinh tế tri thức: Rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. 8. Tổng cục Thống kê: Số liệu điều tra mẫu về lao động và việc làm thời điểm 1-8- 2007. 9. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2006. Nxb Thống kê, Hà Nội 2007. 10. Trần Văn Thọ, Về vấn đề học vị tiến sĩ. Tạp chí Tia Sáng, Số tháng 9/2003. 11. Nguyễn Văn Tuấn, 80% giáo sư Việt chưa xứng tầm quốc tế. 2/12/2009. Tuần Việt Nam. Net. 12. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. 13. Huỳnh Khải Vinh, Những vấn đề văn hóa Việt Nam đương đại, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001. 14. Đề tài cấp Nhà nước “Đổi mới chính sách đối với trí thức KH&CN trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước”. Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước, Mã số ĐTĐL-2003/27, chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng, Hà Nội năm 2007. 15. Số liệu thống kê Giáo dục, Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2010. 16. Báo điện tử: Dantri.com ngày 15.11.2010 17. “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009. Các kết quả chủ yếu”. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfso_4_2010_buithithanhha_8177.pdf
Tài liệu liên quan