Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang

Tài liệu Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang: Bản tin Trường Đại học An Giang 16 Số 60 - 03/2014 THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG TS. Hoàng Quốc Khoa Sư phạm 1. Khái niệm thái độ ngôn ngữ Theo cách hiểu thông thường, thái độ ngôn ngữ được định nghĩa như là tình cảm (feelings) của người bản ngữ đối với tiếng mẹ đẻ của họ và đối với các ngôn ngữ khác [1; 74]. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu thái độ của người Khmer đối với đối với tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) và đối với tiếng Việt – ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc. Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường nhắc đến ba loại thái độ cơ bản, đó là thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kì thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ. Thái độ trung thành ngôn ngữ là thái độ luôn hướng tới, bảo vệ ngôn ngữ của dân tộc mình, quê hương mình. Thái độ này bắt nguồn từ tình cảm yêu quý và thuỷ chung với dân tộc mình. Vì thế, yêu dân tộc mình tức là yêu ngôn ngữ của mình dù nó chỉ là một ngôn ngữ “nhỏ”, một phương ngữ không chuẩn mự...

pdf4 trang | Chia sẻ: honghanh66 | Ngày: 21/03/2018 | Lượt xem: 77 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bản tin Trường Đại học An Giang 16 Số 60 - 03/2014 THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG TS. Hoàng Quốc Khoa Sư phạm 1. Khái niệm thái độ ngôn ngữ Theo cách hiểu thông thường, thái độ ngôn ngữ được định nghĩa như là tình cảm (feelings) của người bản ngữ đối với tiếng mẹ đẻ của họ và đối với các ngôn ngữ khác [1; 74]. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu thái độ của người Khmer đối với đối với tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) và đối với tiếng Việt – ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc. Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường nhắc đến ba loại thái độ cơ bản, đó là thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kì thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ. Thái độ trung thành ngôn ngữ là thái độ luôn hướng tới, bảo vệ ngôn ngữ của dân tộc mình, quê hương mình. Thái độ này bắt nguồn từ tình cảm yêu quý và thuỷ chung với dân tộc mình. Vì thế, yêu dân tộc mình tức là yêu ngôn ngữ của mình dù nó chỉ là một ngôn ngữ “nhỏ”, một phương ngữ không chuẩn mực, xa lạ với ngôn ngữ chuẩn mực mà theo cách nói của người Hán là “ái ốc cập ô” (vì yêu ngôi nhà nên yêu luôn cả con quạ đậu trên nóc nhà đó; yêu ai thì yêu cả sự vật liên quan đến người ấy; khi yêu, yêu cả đường đi lối về). Vì thế, “đây là cái lẽ vì sao khi người ta giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình thì lại cảm thấy thân thiết” [1; 81]. Thái độ tự ti ngôn ngữ là thái độ mặc cảm - tự cảm thấy ngôn ngữ hay tiếng nói của mình (phương ngữ, thậm chí là giọng nói cá nhân) “không bằng” các ngôn ngữ hay phương ngữ khác. Thái độ tự ti về ngôn ngữ thường dẫn đến hai cách hành xử về ngôn ngữ: 1/ Từ bỏ ngôn ngữ hay phương ngữ của mình để chuyển sang ngôn ngữ hay phương ngữ có uy tín cao hơn; 2/ Học tập để nắm vững và biết cách sử dụng ngôn ngữ có uy tín hơn để sử dụng trong môi trường giao tiếp phù hợp (tức là vẫn duy trì “ngôn ngữ của mình” đồng thời tạo cho bản thân một khả năng song ngữ hoặc song phương ngữ). Thái độ kì thị ngôn ngữ được biểu hiện bằng sự coi nhẹ, xem thường ngôn ngữ hoặc phương ngữ của cộng đồng khác, quá đề cao ngôn ngữ hay phương ngữ của cộng đồng mình. Sự hình thành của thái độ ngôn ngữ phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngoài ngôn ngữ như giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác và các nguyên nhân chính trị - xã hội khác nữa. Thái độ ngôn ngữ cũng không phải nhất thành bất biến mà nó thay đổi trong cộng đồng cũng như trong mỗi cá nhân dưới tác động của các nhân tố nêu trên. Theo đó, một vấn đề tất yếu kéo theo trong sử dụng đó là: hoặc theo hướng duy trì ngôn ngữ hoặc theo hướng chuyển đổi ngôn ngữ. Từ nội dung cơ bản của khái niệm thái độ ngôn ngữ, dưới đây, chúng tôi khảo sát sự lựa chọn ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của 88 người Khmer (theo mẫu điều tra ngẫu nhiên với 50 nam và 38 nữ, độ tuổi từ 20 đến 70 tuổi) trong các bối cảnh giao tiếp (quy thức và bất quy thức) và ý nguyện sử dụng ngôn ngữ của họ ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang. 2. Thái độ của người Khmer đối với tiếng Việt và đối với tiếng mẹ đẻ 1.2. Về thái độ của người Khmer đối với tiếng Việt Ở lớp người Khmer độ tuổi từ 20 - 45 có học, tiếng Việt là ngôn ngữ được lựa chọn ưu tiên, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức của họ trong việc quyết định chọn ngôn ngữ để sử dụng cho từng phạm vi giao tiếp. Về mặt chức năng, rõ ràng tiếng Việt được đánh giá là ngôn ngữ có uy tín, được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp chính thức, trang trọng, mang phong cách lịch sự. Tiếng Khmer chỉ được dùng trong phạm vi sinh hoạt không chính thức như khi chuyện trò với bố mẹ, anh chị em trong gia đình và bạn bè, Hiện tượng song ngữ ở cộng đồng người Khmer An Giang diễn ra hoàn toàn tự nhiên, có chiều hướng hòa nhập với tiếng Việt nhiều hơn. Đối với lớp người đã lớn tuổi (55 – 70 tuổi), do nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ học vấn khác nhau, nên năng lực sử dụng tiếng Việt cũng khác nhau, nhưng nói chung chủ yếu là chỉ có khả năng nghe - nói. Đặc biệt đối với những người lớn tuổi, ít giao lưu, tiếp xúc với “bên ngoài”, nhất là với người Kinh, thì năng lực sử dụng tiếng Việt rất hạn chế, do đó khi giao tiếp thường xuyên phải pha trộn với tiếng Khmer. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi thì, ngôn ngữ giao tiếp chính trong gia đình thuần dân tộc là tiếng mẹ đẻ. Hiện tượng này là phổ biến cho tất cả các ấp, xã trên hai địa bàn huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Việc có sử dụng một phần tiếng Việt trong giao tiếp gia đình là hãn hữu, chỉ thấy ở những hộ Bản tin Trường Đại học An Giang 17 Số 60 - 03/2014 gia đình hôn nhân hỗn chủng và những gia đình cán bộ, công nhân viên nhà nýớc. 2.2. Nhận thức của người Khmer ở An Giang về vị trí và lợi ích của tiếng Việt Trong tất cả các lĩnh vực từ giáo dục đến các cấp truyền thông (bao gồm cả báo chữ, báo tiếng và báo hình), giao tiếp chính thức (trong các cuộc họp), giao tiếp hành chính (thông qua văn bản), tiếng Việt được đồng bào nhận thức như một phương tiện gần như duy nhất, độc tôn (trừ một vài tiểu lĩnh vực như giáo dục tiểu học và THCS, báo chữ và báo tiếng địa phương, đôi khi là báo tiếng khu vực và cả báo tiếng Trung ương). Lợi ích của tiếng Việt được đồng bào nhìn nhận một cách thân thiết, thực tế và gắn chặt với thói quen, tập quán cộng đồng: tiếng Việt với lợi ích tham gia công tác địa phương được đa số đồng bào đặt lên hàng đầu (có lẽ đây là cái lợi được nhìn thấy rõ, cụ thể nhất), sau đó là để tiếp xúc các phương tiện truyền thông cũng đã trở nên phổ biến, quảng đại, có tính cộng đồng cao và cung cấp nhiều hiểu biết thiết thực, gần gũi và dễ hiểu với đời sống cư dân. Lợi ích tiếng Việt để làm ăn buôn bán có số người nhìn nhận ít hơn vì môi trường sống còn thuần hậu của đồng bào (làm ruộng, làm rẫy, làm thuê). Môi trường sống thuần hậu cũng đẻ ra lối tư duy chất phác, thuần hậu mà mặt trái của nó là trì trệ, thiếu năng động. Chính vì thế, cái lợi của tiếng Việt để làm ăn buôn bán còn được ít người Khmer nhìn nhận. Dường như người Khmer ở An Giang chỉ mới dừng ở nhận thức tiếng Việt như một nguồn lợi tinh thần, cầu nối công tác xã hội (có thể kèm lợi ích vật chất – nhưng chỉ là vật chất phái sinh). Phần đông họ vẫn chưa thấy lợi ích vật chất đích thực mà tiếng Việt mang lại cho họ trong cuộc mưu sinh thời kinh tế thị trường này: đó là những kiến thức khoa học, kiến thức xã hội về làm ăn, buôn bán. Đặc biệt là kiến thức về làm ăn. Vì đồng bào Khmer ở An Giang sống chủ yếu bằng đất, dựa vào đất, thu lợi từ đất (đối với những hộ gia đình có đất sản xuất), và sống dựa vào công sức làm thuê theo ngày (đối với những người không có đất sản xuất). Phải có kiến thức thâm canh, giống, cây trồng, phân bón v.v mà các chủ đầu tư dự án sẵn sàng cung cấp cho họ - nhưng lại bằng tiếng Việt. Cuộc sống quanh quẩn trong phum, sóc cũng hạn chế việc nhìn nhận tiếng Việt trong tương tác với thoát ly làm ăn xa. Nhìn một cách tổng thể, việc nắm vững tiếng Việt và khả năng sử dụng tiếng Việt (tiếng nói và chữ viết) đã đem lại những lợi ích nhất định trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn ở vùng dân tộc Khmer. Hiện nay, ở khu vực miền núi và dân tộc nước ta, thông qua các dự án, chính phủ Việt Nam và nhiều tổ chức quốc tế đã và đang chú trọng đầu tư tiền của cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn miền núi. Thực tế này đòi hỏi lực lượng lao động các dân tộc có sự hiểu biết mới, cách nhìn nhận mới và phong cách làm việc mới. Việc mạnh dạn đứng ra vay vốn, việc đổi mới kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, áp dụng giống mới, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, đưa các quy trình công nghệ mới vào sản xuất, việc điều khiển các máy cơ khí, nửa cơ khí cho trồng trọt, chăn nuôi hay nghề khác, v.v ngoài việc đòi hỏi về sức khỏe, còn cần đến trình độ hiểu biết thông qua các lớp học tập bồi dưỡng nghiệp vụ và chuyên môn, qua việc mở rộng quan hệ giao tiếp với người Việt và các dân tộc khác, và qua sách báo. Tất cả những công việc đó đều đòi hỏi đồng bào dân tộc phải có một trình độ học vấn và trình độ tiếng Việt nhất định. Gần đây, nhiều dự án phát triển được đưa về vùng dân tộc thiểu số, thu hút không chỉ nam giới mà cả phụ nữ tham gia. Trong điều kiện thực tế của huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, số hộ Khmer mạnh dạn đứng ra vay vốn (vốn do Hội Phụ nữ và Ngân hàng nông nghiệp huyện phối hợp tổ chức) thường là những hộ mà người chủ hộ có trình độ học vấn hết cấp trung học cơ sở trở lên, và sử dụng thành thạo tiếng Việt (tiếng nói và chữ viết). Hiện nay ở vùng dân tộc Khmer, tiếng Việt vẫn là ngôn ngữ chính thức được dùng để giảng dạy trong các lớp tập huấn. Do đó, số phụ nữ có trình độ tiếng Việt kém không đủ tự tin để đứng ra vay vốn, và không được tham gia vào các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chăn nuôi, trồng trọt. Trong đời sống gia đình cũng vậy, người phụ nữ có trình độ học vấn tương đương cấp trung học phổ thông thường quan tâm nhiều tới việc đôn đốc, hướng dẫn con học bài hơn là việc rèn luyện kỹ năng lao động cho chúng. 2.3. Thái độ của người Khmer đối với tiếng mẹ đẻ của họ Về thái độ đối với tiếng mẹ đẻ thì, 100% người Khmer được phỏng vấn đều khẳng định rằng tiếng Khmer là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Và cũng 100% số những người này khẳng định sự quan trọng của cả 2 ngôn ngữ Việt và Khmer trong đời sống hàng ngày. Đối với người Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng, một nhân tố thuận lợi nữa để cho tiếng nói và chữ viết Khmer được gìn giữ Bản tin Trường Đại học An Giang 18 Số 60 - 03/2014 là những ngôi chùa. Các chùa Khmer là những trung tâm tôn giáo và văn hóa, bởi vì chùa cũng chính là một loại trường học đặc biệt, trong đó người ta không chỉ dạy giáo lí, Phật pháp mà còn dạy nghề, dạy chữ. Theo chúng tôi tìm hiểu được biết, có khoảng 70% trong tổng số 65 chùa Khmer trong tỉnh có các nhà sư dạy chữ Pali cho người đi tu. Người ta cho rằng, học chữ Pali để đọc kinh Phật theo đúng chuẩn quy ước là điều hết sức quan trọng. Những quy tắc trong tụng niệm sẽ góp phần chuẩn hóa tiếng Khmer và chữ Pali, giúp phổ biến tiếng Khmer và chữ Pali cho con em đồng bào trong phum, sóc một cách thuận lợi, thuyết phục và hiệu quả hơn. Tháng tư âm lịch được xem là mùa... đi tu ở vùng Thất Sơn. Thanh niên khắp các phum, sóc xuất gia vào chùa tu báo hiếu. Đây còn là thời điểm các ngôi chùa Khmer sửa soạn bàn ghế, chỗ dạy chữ, phục vụ việc nghiên cứu kinh kệ và tu học của tăng sinh và người dân trong phum, sóc. Có một đặc điểm nữa cũng rất đáng chú ý trong cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang. Đó là người Khmer ở An Giang có rất nhiều lễ hội, hàng năm có đến 32 lễ hội. Trong các dịp lễ hội này, người Khmer thường tổ chức các hoạt động văn hóa, trong đó có những chương trình biểu diễn với các loại hình như: ca kịch Dù kê, sân khấu Rô băm theo những tích truyện cổ mang đậm dấu ấn văn hóa tộc người và những đề tài lấy từ trong sử thi của Ấn Độ thông qua các văn bản bằng chữ Pali Chính các hoạt động văn hóa, lễ hội này đã góp phần tích cực nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy tiếng mẹ đẻ của người Khmer. Cùng với các hoạt động văn hóa - xã hội, giáo dục, trong cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang còn thấy thêm một điểm nữa cần chú ý là vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới tiếng Khmer. Bên cạnh báo viết có riêng chuyên trang bằng tiếng Khmer ở một số tỉnh ĐBSCL, ở An Giang phát thanh, truyền hình bằng tiếng Khmer cũng chính là các phương tiện giúp nâng cao vị thế và uy tín của tiếng Khmer. Các thông tin về kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị được truyền đến mọi người dân bằng tiếng Khmer với thời lượng phát sóng đáng kể, giúp họ nhanh chóng, dễ dàng nắm bắt được mọi thông tin. Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, 100% số người Khmer được điều tra đều khẳng định sự quan trọng của cả 2 ngôn ngữ Việt và Khmer trong đời sống hàng ngày. Đây là lẽ tự nhiên cho sự xuất hiện song song 2 ngôn ngữ tại vùng này. Ở các gia đình Khmer, thường xảy ra giao tiếp song ngữ, nhất là trong các gia đình trí thức. Khả năng song ngữ của các thành viên trong gia đình là rất cao (đặc biệt đối với những gia đình có điều kiện tiếp xúc nhiều với bên ngoài, hoặc cha mẹ có khả năng song ngữ tốt và con cái được đi học). Ở những gia đình công chức hay giáo viên, thường cha mẹ rất có ý thức cố gắng nói bằng tiếng Việt với con cái, nhằm rèn luyện cho con khả năng song ngữ. Nguyên nhân chủ yếu là do tiếng Việt được sử dụng trong môi trường học tập của con cái, hoặc công việc có liên quan đến chính quyền, đoàn thể. Tùy theo thói quen, các gia đình người Khmer có thể chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình, nhưng có thể thay đổi khi trong cuộc thoại có mặt người dân tộc khác như người Kinh chẳng hạn. Tùy tình huống giao tiếp khác nhau, các thành viên trong gia đình có thể sử dụng song ngữ bằng cách chuyển mã luân phiên giữa tiếng Việt và tiếng Khmer. Xu hướng chung của sự phát triển các hiện tượng song, đa ngữ ở các tỉnh vùng ĐBSCL và ở tỉnh An Giang nói riêng là sự phổ cập của tiếng Việt diễn ra đồng thời với quá trình phát triển tự do của tiếng mẹ đẻ. Sự phát triển của các loại hình song ngữ ở Tịnh Biên và Tri Tôn (An Giang) không nằm ngoài xu thế này. Xét trong cư dân Khmer, sự mở rộng của các loại hình hoạt động kinh tế trong cư dân nông nghiệp đã phá vỡ tính chất khép kín của vùng nông thôn ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng, mở rộng phạm vi giao tiếp của cư dân, tạo tiền đề cho sự nâng cao năng lực sử dụng song ngữ Khmer – Việt của cá nhân và cộng đồng. 3. Thay lời kết Dân tộc là một phần của quốc gia. Trong một quốc gia đa dân tộc, một ngôn ngữ giao tiếp chung là vô cùng quan thiết. Đó không chỉ là vấn đề của Nhà nước – là quyền năng và trách nhiệm của Nhà nước, mà cũng là quyền lợi và trách nhiệm của các dân tộc trong cộng đồng chung. Thái độ thừa nhận và sử dụng tiếng Việt rộng rãi ngoài xã hội của người Khmer ở Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang) là sự tuân thủ quy luật khách quan, phù hợp với xu thế thời đại. Nhưng mặt khác, cũng như quốc gia, dân tộc, tiếng mẹ đẻ của họ còn là tiêu chí rõ nhất để nhận diện và hợp nhất họ trong cộng đồng riêng. Thái độ tha thiết bảo tồn và phát huy tiếng mẹ đẻ của họ trong một số lĩnh vực như giáo dục, truyền thông ở An Giang là mong muốn duy trì bản sắc thiêng liêng của dân tộc trong sự phát triển chung. Họ muốn “hoà nhập”, nhưng không “hoà Bản tin Trường Đại học An Giang 19 Số 60 - 03/2014 tan”. Hoà nhập để phát triển. Nhưng không thể hoà tan để đánh mất mình. Một chính sách khôn ngoan là một chính sách làm hài hoà lợi ích chung riêng của quốc gia, dân tộc. Một chính sách như vậy đã được Đảng và Nhà nước xác định ngay từ khi ra đời, thông qua các Nghị quyết, Hiếp pháp, và đã từng bước cụ thể hoá qua các Quyết nghị, Chỉ thị, Thông tư Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn là một khoảng cách vô cùng lớn. Việc tạo ra các điều kiện để ngôn ngữ hành chức thực sự còn gặp nhiều khó khăn, yếu kém, cả về phía quảng bá của Nhà nước lẫn trình độ dân trí của đồng bào. Cần phải thấy vấn đề ngôn ngữ luôn đi liền với vấn đề an ninh – chính trị - kinh tế - xã hội – văn hoá, để tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách ngôn ngữ một cách nghiêm chỉnh, đồng bộ, sít sao, giúp đồng bào dân tộc giữ gìn bản sắc văn hoá riêng thông qua việc sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, vừa tiến kịp đồng bào cả nước về mọi mặt thông qua việc sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ Việt. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Văn Khang. (2003). Kế hoạch hoá ngôn ngữ - Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Hoàng Quốc. (2009). “Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của học sinh người Hoa An Giang đối với việc sử dụng trong nhà trường”, trong Hội thảo Ngữ học toàn quốc 2009. Hoàng Quốc. (2010). “Thái độ ngôn ngữ của học sinh Khmer An Giang đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường”, Thông tin Khoa học Đại học An Giang, (42), tr.29-31. Hoàng Quốc, Khảo sát, nghiên cứu năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh Khmer trên địa bàn huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang, Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học An Giang, 01/2013. TÌM HIỂU NHU CẦU RÈN LUYỆN (Tiếp theo trang 13) Ngoài ra, trong quá trình sinh viên thực tập, cần thiết phải có sự hiện diện thường xuyên của các thầy cô hướng dẫn thực tập, những chuyến thăm, dự giờ của giảng viên bộ môn phương pháp và đặc biệt phải có những buổi họp đoàn định kỳ nhằm giúp sinh viên giải quyết, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Những kinh nghiệm, giải pháp mà sinh viên tiếp thu được trong thời gian thực tập sẽ giúp các em từng bước nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tự tin hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhà trường, xã hội phân công. Tóm lại, sinh viên ngành Sư phạm là lực lượng trí thức trẻ, sẽ trở thành trụ cột của nền giáo dục quốc gia trong tương lai. Việc chuẩn bị cho sinh viên thích ứng nhanh với môi trường làm việc, môi trường sống sau khi ra trường, tham gia tích cực và hiệu quả vào hoạt động giáo dục, hoạt động xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục và là trọng trách của nhà trường, đặc biệt là của ngành, khoa Sư phạm. Muốn sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, có khả năng vận dụng kinh nghiệm lĩnh hội được vào việc giải quyết các nhiệm vụ, giáo dục đòi hỏi nhà trường sư phạm ngoài việc cung cấp các kiến thức chuyên môn còn phải trang bị thêm cho sinh viên những kỹ năng mềm quan trọng nhằm giúp họ thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học, giáo dục và phát triển nhân cách học sinh trong tương lai. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trịnh Trúc Lâm, Nguyễn Văn Hộ. (2009). Ứng xử sư phạm. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội. GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG VỚI VIỆC. (Tiếp theo trang 15) TÀI LIỆU THAM KHẢO Hà Thị Đức, Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 4 (1992) 23. Trần Thị Huyền, Phát triển năng lực tự học cho sinh viên trường đại học An Giang phù hợp với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Kỉ yếu hội thảo khoa học. Đổi mới kiểm tra, đánh giá đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ. 2011. Phan Bích Ngọc, "Nghiên cứu kĩ năng làm việc độc lập với sách của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội", Đề tài cấp Đại học Quốc gia - mã số QN05.07. Trần Anh Tuấn, Vấn đề tự học của sinh viên từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, 5 (1996) 18. Nguyễn Kỳ, Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục 2 (1990) 24.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf5_60_edit_hquoc_ngon_ngu_cua_nguoi_khmer_ag_217.pdf