Luận văn Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng

Tài liệu Luận văn Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------o0o------------- TRIỆU QUỲNH CHÂU LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------o0o------------- TRIỆU QUỲNH CHÂU LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy. Một trong những yếu tố cần được bảo tồn là văn hoá làng bản của dân tộc thiểu số vùng niền núi phía Bắc. Tại huyện T...

pdf103 trang | Chia sẻ: hunglv | Ngày: 28/05/2014 | Lượt xem: 981 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------o0o------------- TRIỆU QUỲNH CHÂU LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------o0o------------- TRIỆU QUỲNH CHÂU LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy. Một trong những yếu tố cần được bảo tồn là văn hoá làng bản của dân tộc thiểu số vùng niền núi phía Bắc. Tại huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, yếu tố làng bản của người Tày cũng có những nét truyền thống rất phong phú và đặc sắc. Làng bản dân tộc Tày vừa phải đổi mới, hiện đại nhưng cũng phải giữ được những bản sắc dân tộc và truyền thống tốt đẹp. Lâu nay việc tìm hiểu nghiên cứu văn hoá làng bản của các dân tộc nói chung trên phạm vi cả nước bước đầu đã đạt được những thành tựu. Tuy nhiên việc tìm hiểu làng bản của của người Tày ở Cao Bằng, tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc do nhiều nguyên nhân khách quan còn bỏ ngỏ chưa được chú ý quan tâm và việc nghiên cứu cũng chưa có hệ thống. Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu. Qua đề tài, tác giả mong muốn giúp cho thế hệ trẻ ở huyện gắn bó sâu sắc hơn với quê hương, để từ đó có những việc làm thiết thực góp phần xây dựng quê hương Trùng Khánh ngày càng giàu đẹp hơn. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi được thừa hưởng rất ít các kết quả nghiên cứu của những người đi trước bởi vì chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh. Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và khía cạnh khác nhau của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nói trên một cách trực tiếp hay gián tiếp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 Ở vùng Tày, Nùng ở Việt Bắc cũng có những tác giả là những nho sĩ quan sát ghi chép về đất nước, núi sông và con người ở đây như: Phan Lê Phiên ( 1973-1809) viết “ Cao Bằng Lục”, Phạm An Phủ viết “Cao Bằng kí Lược”. Và cuốn sách “Cao Bằng thực lục” của tác giả Bế Hữu Cung viết năm 1810, là cuốn sách đầu tiên giới thiệu về vị trí địa lý sông núi, phong tục tập quán và thành trì Cao Bằng. Năm 1920, tác giả Bế Huỳnh cho xuất bản cuốn “Cao Bằng tạp chí nhật tập”, tác phẩm đã đề cập chi tiết đến nguồn gốc, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng ở Cao bằng. Tác phẩm “Văn hoá Tày, Nùng” của nhóm tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô, tác phẩm đã đề cập đến một cách khái quát về đặc điểm của hai dân tộc Tày, Nùng trên hai phương diện lớn của nền văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Gần đây công trình “Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Đông Bắc Việt Nam” của tác giả Ma Ngọc Dung xuất bản năm 2005, tác phẩm đi sâu vào tìm hiểu đời sống vật chất của người Tày nói chung, cách chọn chọn thế đất của họ đề xây dựng nhà cửa, làng bản. Ngoài ra những báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –xã hội tỉnh Cao Bằng, báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Trùng Khánh đến năm 2020. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào cụ thể tìm hiểu, nghiên cứu về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Bởi vậy còn rất nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm sáng tỏ như: nguồn gốc dân tộc, sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục tập quán đã từng tồn tại hoặc còn duy trì đến ngày nay…Song chúng tôi vẫn xem thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước là ý kiến gợi mở quý báu , là cơ sở để tác giả hoàn thành tốt đề tài của mình. 3. Nguồn gốc và phương pháp nghiên cứu Nguồn tư liệu Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số sử sách và địa chỉ cổ như: “Lịch sử tỉnh Cao Bằng”, tác phẩm giới thiệu về đất và người Cao Bằng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 quá trình hình thành phát triển trên mọi lĩnh vực (kinh tế, chính trị, xã hội) của tỉnh từ thời tiền sử đến nay. “Cao Bằng Thực Lục” (Bế Hữu Cung) tác phẩm gồm 4 phần, trong đó có phần ba: “Sơn Thuỷ Lục” chép lịch sử Cao Bằng và phần bốn: “Cương giới phong tục” chép lịch sử Cao Bằng từ đời Kinh Dương Vương đến đời Chiêu Thống và các sách tên làng bản Việt Nam đầu thế kỷ XIX… còn lưu lại tại Vện Hán Nôm, Viện Sử học. Nguồn tư liệu điền dã, để thực hiện đề tài này chúng tôi sẽ tiến hành thực địa tại tất cả các xã thuộc huyện Trùng Khánh để quan sát địa hình, quang cảnh làng bản, đời sống văn hoá, xã hội của dân tộc Tày ở huyện Trùng Khánh. Từ đó giúp chúng tôi có thể tìm hiểu về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài, tác giả đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng diễn ra trong các làng bản của người Tày huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Phương pháp chủ yếu vận dụng trong đề tài là diễn dã lịch sử kết hợp với quan sát xã hội học nhằm làm nổi bật những đặc trưng làng bản của người Tày ở Trùng Khánh nói riêng và Cao Bằng nói chung. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logíc, phương pháp hệ thống hoá, …. để nghiên cứu làng bản của người Tày ở Trùng Khánh. 4. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Về mục đích nghiên cứu, đề tài nghiên cứu tìm hiểu về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh, nhằm khắc phục bức tranh toàn cảnh về làng bản dân tộc Tày ở một huyện miền núi biên giới Cao Bằng. Qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần thêm cơ sở khoa học về làng bản của người Tày ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 Cao Bằng nói chung và Trùng Khánh nói riêng mà lâu nay ít người quan tâm. Mặt khác, trong cuộc sống mới, thời đại mới, chúng ta nhất là giới trẻ ngày nay tuỳ theo hoàn cảnh và khả năng sẽ phải có mặt ở nhiều nơi công tác ở nhiều môi trường, những tình cảm quê hương, tình làng nghĩa xóm vẫn sẽ mãi mãi đậm đà. Hiểu biết về làng xã Việt Nam nói chung và làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng nói riêng chính là để giúp chúng ta nâng cao tình cảm ấy. Đối tượng nghiên cứu, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tổ chức xã hội làng bản, đời sống văn hoá - xã hội làng bản của dân tộc Tày ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Phạm vi nghiên cứu: không gian nghiên cứu của đề tài là địa bàn huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Từ những tài liệu khảo sát, điền dã tại Trùng Khánh hiện tại kết hợp với khai thác các tài liệu khác, chúng tôi tìm lọc những yếu tố cổ truyền về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng trước cách mạng Tháng Tám và những biến đổi từ sau cách mạng Tháng Tám đến nay. Chính vì vậy mà đề tài được bố cục trình bày theo từng vấn đề cụ thể và có sử dụng tất cả các nguồn tài liệu mà chúng tôi đã thu thập được có liên quan đến nội dung đưa ra không giới hạn niên đại của tư liệu. 5. Đóng góp của đề tài Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành sự nghiệp: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong sự nghiệp ấy di sản văn hoá của mỗi dân tộc được xem là: “Tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hoá”. Làng xã, mường bản Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời. Chính từ những làng bản đơn vị cơ sở này mà đất nước ta tồn tại và ghi được nhiều thành tựu tạo nên một nền văn hoá làng có nhiều nét riêng. Ngày nay muốn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc như Đảng ta luôn nhấn mạnh, thì cần phải tiếp cận với văn hoá làng. Hiện nay, dưới ảnh hưởng của sự giao lưu văn hoá và tác động cư chế thị trường, của công nghiệp hoá và hiện đại hoá, văn hoá làng bản truyền thống của người Tày đang có những biến đổi lớn. Bên cạnh những giá trị văn hoá tích cực mà ta cần bảo tồn, kế thừa, phát huy, cũng còn những yếu tố đã tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống đương đại và xu thế phát triển chung đòi hỏi chúng ta phải cải biên, nâng cao, thậm chí phải lọc bỏ. Mặt khác chúng ta lại đang chứng kiến một thực tế là nhiều giá trị văn hoá truyền thống đích thực đang bị mai một, xuống cấp, bị pha tạp, lai căng một cách phản văn hoá không phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc. Trong thời gian qua chúng ta cũng đã đầu tư nhiều công sức, có nhiều chủ trương chính sách để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc như tuyên truyền, vận động đồng bào xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hóa mới, thực hiện định canh định cư… Tuy nhiên kết quả thu được chưa nhiều. Một trong những nguyên nhân của tình hình trên là thiếu hiểu biết về phong tục tập quán, tâm lý, chưa thấy hết được những giá trị văn hoá tinh thần, vật chất cũng như ảnh hưởng của nó trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Tuy có những hạn chế rõ ràng nhưng cũng phải công nhận là đã có nhiều làng rất xứng đáng với sự tôn vinh. Tìm hiểu những nét đẹp truyền thống của các làng xã để rút kinh nghiệm bồi bổ cho nhiệm vụ xây dựng làng văn hoá mới hiện nay là yêu cầu chính đáng và chắc chắn có nhiều hứa hẹn. Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, đó là sự kế thừa những truyền thống văn hoá, tinh hoa trí tuệ của ông cha để lại để từ đó giáo dục và làm thức tỉnh lòng yêu nước, yêu quê hương làng bản của đồng bào dân tộc Tày nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 Qua nghiên cứu cơ cấu tổ chức làng bản đề tài làm nổi bật được tính cấu kết cộng đồng của cư dân, sự gắn bó tương trợ giúp đỡ lẫn nhau thông qua các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên. Đây là một bài học kinh nghiệm quý báu mà chúng ta được tiếp thu, kế thừa và sẽ phát triển trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Qua kết quả nghiên cứu mà đề tài đạt được sẽ giúp cho bạn đọc thấy được những nét đẹp truyền thống, nét văn hoá đặc trưng trong văn hoá làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh. Đề tài: “Làng bản của người Tày ở huyện Trùng khánh tỉnh Cao Bằng” còn là một nguồn tài liệu cho sinh viên các bộ môn khoa học như: Lịch sử địa phương, văn hoá học, dân tộc học... 6. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bản đồ, tranh ảnh, phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1: Khái quát về huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Chương 2: Làng bản truyền thống của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng trước cách mạng Tháng Tám (1945) Chương 3: Những biến đổi dưới xã hội mới của làng bản người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG 1.1. Vị trí, điều kiện tự nhiên Huyện Trùng Khánh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng cách thị xã 63km, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Trịnh Tây và huyện Đại Tân (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Hạ Lang. Phía Nam giáp huyện Quảng Uyên. Phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh. Theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Huyện Thượng Lang cách phủ 81 dặm về phía đông bắc, Đông - Tây cách nhau 109 dặm, Nam - Bắc cách nhau 76 dặm. phía Đông đến địa giới huyện Hạ Lang 79 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Quảng Uyên 30 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Hạ Lang 33 dặm, phía Bắc đến địa giới châu An Bình nước Thanh 43 dăm” [28, tr. 404-405 ] Huyện Trùng Khánh nằm ở độ cao trung bình từ 500- 800m so với mực nước biển, là một huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp bởi nhiều dãy núi cao xen kẽ là những sông suối ngắn, thung lũng hẹp dần từ Tây Bắc xuống đến Đông Nam. Huyện có 3 dạng địa hình chính: dạng đồi, dạng núi vôi và địa hình thung lũng. Dạng đồi có 6 xã hình thành trên đá phiến thạch sét và sa thạch, phân bố ở các xã Đông Nam với độ cao biến động từ 500 - 800 m. Tuy nhiên, vùng này cũng có nơi xen kẽ địa hình Caster. Dạng núi đá vôi, có 11 xã chiếm diện tích khá lớn, phân bố ở các xã phía Bắc và phía Tây Nam của huyện với độ cao trung bình khoảng 700 - 800m, có nhiều hang động, nổi bật là động Ngườm Ngao và xen kẽ một số thung lũng nhỏ hẹp. Dạng địa hình thung lũng có 3 xã là những dải đất tương đối bằng phẳng, những cánh đồng nhỏ hẹp kéo dài và cao thấp khác nhau, chạy dọc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 theo 2 hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Xen giữa những dãy núi đá là những thung lũng bằng phẳng, được kiến tạo bởi thiên nhiên và công sức khai phá của nhân dân các dân tộc từ nhiều đời, đã tạo nên những cánh đồng, bãi rẫy trù phú như các vùng Ngọc Khuê, Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ, Phong Nặm, Lăng Hiếu, Phong châu, Đức Hồng, Cao Thăng… Nét đặc trưng của địa hình Trùng Khánh là giữa các thung lũng bằng phẳng có những ngọn núi đá, núi đất sừng sững, nhấp nhô với nhiều hình dạng, tiêu biểu là vùng Ngọc Khuê dọc sông Quây Sơn, được dân gian gian ca ngợi là vùng “Hà lục sơn thuỷ hữu tình”. Huyện Trùng Khánh còn có những dãy núi đá cao, chạy dọc biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, ở phía Bắc và Đông Bắc, tựa như một phên dậu, bức tường thành che chắn. Trong những dãy núi đó cao nhất là ngọn Giang Mũ, thuộc xã Ngọc Khuê, với độ cao trên 873m. Phía Nam và Tây Nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền Đông cao dần từ Nam lên Bắc. Trong những đèo dốc ở Trùng Khánh, nổi tiếng nhất là Đèo Liêu, được xác định là mốc giới giữa hai huyện Quảng Hoà và Trùng Khánh, có độ cao 664m, nằm trên trục đường giao thông liên huyện Quảng Uyên - Trùng Khánh. Về khí hậu, huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông, độ ẩm thấp, khô hanh và rét buốt; mùa hè nóng bức, chỉ dịu mát về ban đêm. Khí hậu hai mùa nóng, lạnh rõ rệt. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau. Nửa đầu mùa lạnh là thời kì khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp, nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, với độ chênh lệnh giữa ngày và đêm từ 5-100C, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 240C, tối đa đến 400C (tháng 7) và tối thiểu là 00C (tháng 12) với nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 170C. Theo nhận xét của các triều đại phong kiến ở Trùng Khánh: “Mùa xuân còn rét, mùa hè mưa nhiều, mùa thu rất nóng, mùa đông rất lạnh. Ruộng đất khô cằn xấu xa, chỉ cấy được một vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 mùa không có vụ chiêm, nếu cấy muộn sang thu lúa không trổ bông được mạ chết khô” [28, tr. 406-407] Lượng mưa trung bình năm thấp vào khoảng 1.777mm, cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (82%), và thấp nhất vào tháng 1, tháng 2, có mưa đá. Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Gió mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11. Độ ẩm trung bình khoảng 81%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong năm (tháng 11, 12), ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp. Cọn nước của người Tày Trong hệ thống sông suối, có hai con sông chảy qua là sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Sông Quây Sơn có hai nhánh chính đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chiều dài khoảng 76km. Nhánh lớn nhất chảy qua xã Ngọc Khuê; nhánh thứ hai còn gọi là sông Tà Pè, chảy theo hướng Đông Nam, qua xã Phong Nậm, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 Ngọc Khê, họp lưu với nhánh chính tại Khả Mong, xã Ngọc Khuê, chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ qua huyện Hạ Lang rồi chảy sang Trung Quốc. Lòng sông tuy không rộng nhưng sâu, nước chảy xiết, độ dốc bình quân là 0.01 0 , có nhiều thác ghềnh như thác Khoang (Thoong Khoang) ở xã Ngọc Khê, cao 10m; thác Gót (Thoong Gót) ở xã Trí Viễn, cao trên 20m. Đặc biệt là thác Bản Giốc, xã Đàm Thuỷ, có độ cao trên 50m; thác có 2 nhánh: nhánh bên phải dòng nước đổ thẳng xuống vực, nhánh bên trái dòng nước hạ dần thành 3 bậc, nối tiếp nhau thành một dòng chảy, do độ dốc lớn dòng chảy đổ xuống vực sâu, tung bọt trắng xoá và bay lưng chừng núi, hơi nước bốc lên tạo thành những màn sương mù huyền ảo, như những dải lụa trắng vắt ngang sườn núi, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng. Thác Bản Giốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 Gần thác Bản Giốc có hang Ngườm Ngao, một hang lớn ngầm sâu trong lòng núi, có dòng nước chảy qua. Thác Bản Giốc, hang Ngườm Ngao là những danh thắng nổi tiếng, liền kề nhau tạo thành khu du lịch giàu tiềm năng. Động Ngườm Ngao Do địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nên phần lớn các con sông, con suối bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi, dọc các con sông Bắc Vọng, Quây Sơn…có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết. Các dòng sông lớn như Quây Sơn, Bắc Vọng và nhiều suối, ao, hồ là nguồn lợi thuỷ sản dồi dào. Nơi đây có nhiều loại cá quý, có giá trị kinh tế cao như cá Chiết (có con nặng tới hàng chục kg), cá chép, cá Dầm Xanh, cá Chuối, ba ba…Đặc biệt là cá trầm hương (ở vực Lũng Đĩnh, nay thuộc xã Đình Phong), thơm ngon nổi tiếng nhất vùng. Cá nặng 5-8 kg, vẩy trắng, gần mang có một vòng vẩy điểm màu xanh cửu long. Đây là loại cá đặc sản của huyện Trùng Khánh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 Sông Quây Sơn Bên cạnh đó còn có các cánh đồng Chí Viễn, Đàm Thuỷ. Dọc theo sông Bắc Vọng là những cánh đồng xã Trung Phúc, Thông Huề, Thân Giáp… Ngoài ra còn có các cánh đồng lúa dựa vào nguồn nước tưới chủ yếu là các con suối và nước mưa như: Lăng Hiếu, Lăng Yên, Phong Châu, Bồng Sơn, Cao Thăng, Đức Hồng, Đoài Côn. Những cánh đồng lúa trên là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho nhân dân huyện Trùng Khánh. Sông Bắc Vọng có 2 nhánh, nhánh chính bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Trà Lĩnh rồi đổ vào Trùng Khánh tại xã Trung Phúc, nhánh phụ chảy từ xã Đức Hồng rồi đổi vào xã Giáp Thân. Chiều dài của 2 nhánh này trong huyện dài 27,5 km, lưu lượng nước vào mùa mưa đạt 350m3/s, và mùa khô còn 0,76m3/s và mùa khô còn 0,76m 3 /s. Ngoài 2 hệ thống sông này trên địa bàn huyện có nhiều hang động có tích nước và một số hồ, đập… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, đất đai địa hình chi phối nên quần thể động thực vật ở huyện Trùng Khánh rất đa dạng và phong phú. Thực vật tự nhiên có nguồn tài nguyên rừng , tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 29.464 ha (2007) trong đó rừng trồng phòng hộ là khoảng 30%, rừng đặc dụng là 0,3%, rừng sản xuất là trên 65% và diện tích rừng trồng lên tới gần 1000 ha. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, quý lát, thông…các loại động vật như: hổ, báo, gấu, sơn dương, lợn rừng, hươu, nai, cầy vòi… Cá lâm thổ sản: nấm hương, mộc nhỉ, sa nhân… Cây ăn quả gồm các loại như: mận, đào, lê, cam, quýt… Đặc biệt hạt dẻ là một loại đặc sản ở Trùng Khánh, rất thơm ngon, đã trở thành sản phẩm hàng hoá có giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế. Rừng là nơi cung cấp nguyên liệu (trữ lượng hàng nghìn m3 ), và nhiều tre cho sản xuất đồ gỗ và làm nhà. Về tài nguyên khoáng sản: Mangan là loại tài nguyên quan trọng nhất, phân bố hầu hết trong các xã và thịt trấn. Hiện nay có 05 mỏ Mangan đang hoạt động khai thác bao gồm các mỏ: Lũng Luông, Kha Moong, Rỏng Thay, Nậm Sum và Bản Khuâng với sản lượng khai thác đạt tới trên 50.000 tấn / năm. Thứ nhì là đá vôi có trữ lượng lớn thuận lợi để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, đá xây dựng. Ngoài ra đất thịt pha sét, là nguyên liệu sản xuất gạch ngói, phân bố ở nhiều xã nhưng tập trung ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp. Về đất đai, thổ nhưỡng, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong diện tích đất tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong đó đất nông nghiệp là 38.798 ha chiếm 82%, đất phi nông nghiệp là 3.524 ha chiếm 7,5%, đất chưa sử dụng là 4.550 ha chiếm 9,7% (số liệu năm 2007 nguồn tổng cục thống kê). Theo thông báo của hội khoa học Việt Nam huyện Trùng Khánh có 7 nhóm đất sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 Đất phù sa chiếm 1,69% Đất nâu: 12,18% Đất Glây chiếm 0,42% Đất đỏ: 4,49% Đất tích vôi chiếm 6,92% Đất xám: 34,58% Đất mòn trơ trọi: 3,9% Về giao thông, Trùng Khánh là một huyện biên giới, có đường tỉnh lộ đi cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khuê), dài trên 20km, và đường liên huyện Trùng Khánh - Bằng Ca (Hạ Lang), dài 38km; Trùng Kháng đi Trà Lĩnh khoảng 26km, trước năm 1930 giao thông Trùng Khánh chủ yếu là đi bộ và ngựa thồ. 1.2. Tộc người Tày ở Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng Huyện Trùng Khánh có 7 dân tộc anh em cùng chung sống: Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Mông, Dao...thuộc các nhóm ngữ hệ khác nhau như: Tày - Thái, Mông - Dao, Việt - Mường, Hán... Thiếu nữ Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 Theo số liệu mới nhất, huyện Trùng Khánh hiện nay có 46.348 nhân khẩu gồm... được phân bố theo dân tộc như sau: STT Dân tộc Số người Tỷ lệ % Ghi chú 1 Tày 31.415 67 2 Nùng 14.640 31,59 3 Kinh 293 0,63 4 Các dân tộc khác 300 0,8 Cộng 46.348 100 Người Tày, Nùng vốn thuộc nhóm Âu - Việt trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam Trung Quốc - Liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày - Nùng) đã cùng với liên minh bộ lạc Việt (Việt - Mường) thành lập nên vương quốc Âu - Lạc (thế kỷ III trước công nguyên) với thủ lĩnh An Dương Vương Thục Phán. Thời Lý - Trần, nhất là thời Lê sơ, nhà nước phong kiến Việt Nam đặt chế độ “ Thế tập, phiên thần”, tức chế độ thổ ty, phái một số công thần hay con cháu của họ chọn trong những phần tử trung kiên nhất đem theo gia đình, tộc thuộc lên chiêu dân lập ấp ở các tỉnh biên giới. Sau mỗi trận chiến thắng, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, các vị lưu quan này đời đời kế tục cai trị địa phương rất mực trung thành với chính quyền trung ương làm nhiệm vụ bảo vệ biên thuỳ. Một sự hoà hợp dân tộc đáng chú ý xảy ra vào khoảng thế kỉ XVI -XVII, triều đình lưu vọng họ Mạc bị quân Lê, Trịnh đánh đuổi chạy lên chiếm giữ vùng Cao Bằng trong vòng gần một thế kỉ. Sau khi họ Mạc bị diệt vong, con, cháu và quân quan dư Đảng họ Mạc có thể hàng vạn người đã thay tên đổi họ để tránh sự khủng bố, sống hoà vào nhân dân địa phương đồng hoá với người Tày. Như vậy, đồng bảo Tày ở Trùng Khánh nói riêng và Cao Bằng nói chung phần lớn là cư dân có nguồn gốc bản địa, bộ phận còn lại là người Kinh bị Tày hoá (trong những năm 1964 -1965 Cao Bằng đã tiếp nhận 10.095 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 người từ miền xuôi di cư lên) và quá trình tộc người vẫn tiếp tục cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XXI...). Dân tộc Tày ở Trùng Khánh Cao Bằng xét về diễn biến tộc người chủ yếu thuộc các nhóm: Tày Thổ trước, Tày Thổ ty, Tày Phụ đạo, và Người biến Thổ. Tày thổ trước: là người Tày ở địa phương đã sinh sống từ lâu đời. Tày thổ ty và Tày lưu quan (đây là tên gọi theo nhà Nguyễn sau này): là con cháu các công thần triều Lê, có 11 họ: Bế Nguyễn, Bế Kim, Hoàng ích, Nùng Công, Nùng ích, Nùng Trí, Nùng Hữu, Nguyễn, Tống Đình, Lương Đình, Đàm Vũ. Đều được nhà Lê sơ phong làm phiên thần và điều lên trấn ải biên cương sau đó, được phân phong thế tập cai quan địa phương, họ vốn có gốc từ miền xuôi lên về sau đã Tày hoá. Nhà Nguyễn đã đổi làm thổ ty, bãi bỏ lệ thế tập, nhưng cho hưởng chế độ miễn trừ lao dịch. Con cháu đến tuổi có đơn xin làm việc thì chuẩn cho, cấp học bổng cho họ học tập nghề văn võ rồi tuỳ tài mà bổ dụng. Tày Phụ đạo: Đó là những người Tày bản địa theo vua Lê mở nước có công dẫn đường, được phong làm phụ đạo ở bản địa, hưởng chế độ miễn phu lính. Có bốn họ: Hoàng, Nguyễn, Nùng, Bế. Người Biến Thổ: là những người có nguồn gốc từ miền xuôi lên vì việc vua hoặc đi dạy học, hoặc tìm đất sinh nhai sau ở lại địa phương làm ăn với người Tày. Đặc biệt là con cháu của bề tôi nhà Mạc và những người phò giúp Tây Sơn hoặc dân tứ xứ đến buôn bán…Cũng có người từ Trung Quốc lưu tán sang, qua nhiều năm sinh sống tại địa phương trải mấy đời đều gọi là Người Biến Thổ. Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009, dân số Cao Bằng có 510.884 người, trong đó người Tày có 208.822 người (42%). Huyện Trùng Khánh người Tày chiếm đến 67% dân số của huyện. Họ sống tập trung đông ở thị trấn Trùng Khánh và một số xã như : Cảnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 Tiên, Bình Minh, Phong Châu, Đàm Thuỷ, …. Cho đến ngày nay, người Tày huyện Trùng Khánh vẫn còn lưu giữ được khá nhiều những câu chuyện kể về nguồn gốc dân tộc mình như, chuyện cổ tích: “Chín chúa tranh vua”, sự tích “Báo Lương bao cải”, “Nạn hồng thuỷ”, “ý phịa”, “chàng mồ côi”… Qua những đặc điểm khái quát về huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng như đã nêu ở trên, là cơ sở cho việc đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về môi trường sinh thái tự nhiên, về cơ cấu tổ chức xã hội và văn hoá làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. 1.3. Sự thay đổi địa danh hành chính qua các thời kỳ lịch sử Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc nước ta, từ lâu đã có vị trí chiến lược trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tỉnh có 2 mặt Bắc và Đông giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 332 km. Từ xa xưa, Cao Bằng được coi là bức phên giậu quan trọng che chở cho phía Bắc của Tổ quốc. Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Cao Bằng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc trên 62 km, từ cột mốc 63 (xã Đàm Thuỷ) đến cột mốc 86 (xã Lãng Yên). Tuyến đường biên giới huyện Trùng Khánh có 2 cửa khẩu chính, cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khuê) và cửa khẩu Đàm Thuỷ. Ngoài ra còn có nhiều đường mòn khác để nhân dân 2 nước qua lại trao đổi kinh tế văn hoá. Huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng “đời Hùng Vương xưa là bộ Vũ Định, đời Lý thuộc đất Thái Nguyên, Thời thộc Minh, là đất phủ Lạng Sơn.Đời Lê thuộc Bắc Đạo, năm Quang Thuận thứ 7 đặt Thái Nguyên thừa tuyên gọi là phủ Bắc Bình, năm Quang Thuận thứ 10 đổi làm Ninh Sóc thừa tuyên gọi là phủ Bắc Bình lãnh 4 châu là Thái Nguyên, Lộng Nguyên, Thượng Lang, Hạ Lang, sau đổi châu Thái Nguyên làm châu Thạch Lâm, Lộng Nguyên làm châu Quảng Uyên. Đến năm 1676, không lệ thuộc vào Thái Nguyên nữa. [28,tr.402] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 Theo tác giả Đào Duy Anh: “Châu Thượng Lang phía Đông giáp Hạ Lang, phía Tây giáp huyện Quảng Uyên, phía Nam giáp huyện Hạ Lang, phía Bắc giáp châu Yên Bình nước Thanh, như thế là tương đương với các huyện Trùng Khánh và Trấn Biên tỉnh Cao Bằng ngày nay” [2, tr. 187 ] Đến thời Lê (1428-1527), năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, trong đó có thừa tuyên Thái Nguyên. Miền đất Cao Bằng đương thời được gọi là phủ Bắc Bình trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên [2, tr.239]. Phủ Cao Bằng thuộc thừa tuyên Thái Nguyên có 4 châu: Châu Thượng Lang (có 24 xã); châu Hạ Lang (29 xã), châu Thạch lâm (92 xã, 4 thôn, 8 trang), châu Quảng Uyên (22 xã, 4 trang) [241]; Đến năm Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông (1498 -1504), nhà Lê đã quyết định tách phủ Cao Bằng ra khỏi thừa tuyên Thái Nguyên đặt thành trấn Cao Bằng [2, tr. 242]. Từ thời điểm này, Cao Bằng đã trở thành một đơn vị hành chính độc lập, trực thuộc chính quyền trung ương. Khi mới thành lập Cao bằng gồm 1 phủ, 4 châu: Phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (Thạch Lâm); châu Lộng Nguyên; châu Thượng Lang; châu Hạ Lang. Thời Nguyễn (1802 - 1884). Cao Bằng là một trong 11 trấn thuộc Bắc Thành và được xếp vào ngoại trấn. Trấn Cao Bằng có một phủ là Cao Bằng và 4 châu là Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang và Hạ Lang. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí có mô tả diện cách châu Thượng Lang: Châu Thượng Lang năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) đổi làm huyện, tương đương với các huyện Trùng Khánh và Trấn Biên tỉnh Cao Bằng ngày nay [25,Tr 336]. Tên huyện Trùng Khánh được sử dụng từ ngày đó cho đến nay. Năm 1950, Cao Bằng có 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hoà An, Nguyên Bình, Phú Thạnh, Phục Hoà, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh. Đến năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào 2 huyện Quảng Hoà và Trùng Khánh (quyết định số 176 - CP ngày 13/09/1969). Sau đó huyện Hạ Lang lại được tái lập lại năm 1981. Trong quá trình phát triển, các đơn vị hành chính của Trùng Khánh có nhiều thay đổi. Tháng 10 năm 1964 theo quyết định số 273-NV của Bộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 Trưởng Bộ nội vụ, xã Đoài Dương được tách thành 3 xã: Thân Giáp, Đoài Côn, Thông Hoè (trừ xóm Nà Chá được hợp nhất với xã Bình Lăng của huyện Quảng Uyên). Ngày 15-09-1969, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 176-CP sáp nhập các xã Minh Long, Lý Quốc, Đức Quang, Thắng Lợi và Kim Loan của huyện Hạ Lang vào huyện Trùng Khánh. Theo quyết định số 332-CP của hội đồng chính phủ ngày 08-10-1980, xã Quang Thành của huyện Trùng Khánh và sáp nhập các thôn của xã vào các xã cùng huyện. Thôn Lũng Đính sáp nhập vào xã Đình Phong; thôn Hoành Phong sáp nhập vào xã Chí Viễn; Thôn Đông Khê sáp nhập vào xã Phong Châu. Ngày 10- 06-1981 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 245- CP, thành lập xã Đồng Loan trên cơ sở sáp nhập các xóm Lũng Nặm, Lũng Sún, Lũng Phục, Lũng Bụa, Lũng Cúng, Lũng Mán, các xóm Bản Nha, Luộc Phjong (tách từ xã Minh Long, và các xóm Khau Ra, Bản Sáng, Bản Lẹng, Bản Lung, Bản Mìao, Bản Thuộc (tách từ xã Thắng Lợi); Tách các xóm Vạn Lý, Lũng Phấu, Khi Chao, Nậm Tốc, của xã Minh Long để sáp nhập vào xã Lý Quốc; tách các xóm Sộc Mạ, Háng Thoang, Lũng Phjắc của xã Chí Viễn vào xã Đàm Thuỷ. Ngày 10-06-1981, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 245- CP, thành lập lại huyện Hạ Lang; 5 xã của huyện Trùng Khánh (trước năm 1969 thuộc huyện Hạ Lang) được tách về huyện Hạ Lang, gồm: Minh Long, Lý Quốc, Thắng Lợi, Kim Loan, Đức Quang, và Đồng Loan. Thị trấn Trùng Khánh năm 1976 được mở rộng địa giới đến xóm Thang Lý (xã Đình Minh) và xóm Phia Khoang (xã Lăng Hiếu); năm 1998 mở rộng thêm đến các xóm Nậm Lìn và Kéo Tác (xã Cảnh Tiên). Huyện Trùng Khánh ngày nay nằm ở phía Đông giáp huyện Hạ Lang phía Nam giáp huyện Quảng Uyên và phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 Chương 2 LÀNG BẢN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆNTRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 2.1 Khái niệm làng, bản truyền thống Nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống, từ xa xưa làng bản là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng, che trở cho biết bao thế hệ con người trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển. Làng bản nông nghiệp cổ truyền đã chi phối mọi mặt đời sống con người, in dấu ấn sâu đậm trong bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, ở mỗi vùng quê, trong mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo ngôn ngữ của mỗi dân tộc mà làng bản nước ta có những tên gọi khác nhau và mang những sắc thái khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22 Về mặt lãnh thổ: làng bản nào cũng được xác định bởi một không gian sinh tồn mà ranh giới của nó được nhà nước và các cộng đồng làng bản khác thừa nhận không gian sinh tồn đó, bao gồm: phần đất ở; đất canh tác; khu rừng phòng hộ; rừng cấm; bãi tha ma; khu vui chơi … tất cả đều thuộc quyền sở hữu chung của làng bản. Địa hình và cách bố trí làng bản có thể khác nhau, tuỳ theo tập quán canh tác (định canh, định cư hay du canh, du cư), địa hình cư trú (vùng núi cao hay thung lũng, núi thấp, ven chân núi …). Về mặt dân cư: Dân cư trong làng bản có thể nhiều hay ít, sống tập trung hay rải rác xong các gia đình đều có mối quan hệ huyết thống hay láng giềng. Đó là những gia đình phụ hệ có quy mô lớn nhỏ khác nhau sống chung trong cùng một mái nhà được cất dựng theo những quy cách riêng. Về mặt xã hội: Làng bản truyền thống là một cộng đồng xã hội tự quản vận hành theo các nguyên tắc của luật tục hay tập quán. Đứng đầu mỗi làng bản là một trưởng làng hay trưởng bản. Tổ chức tự quản của làng bản có chức năng điều tiết, thực hiện các quan hệ xã hội, duy trì các phong tục, lễ nghi, sinh hoạt trong nội bộ cộng đồng. đồng thời đại diện cho cộng đồng khi quan hệ với các bản làng và các đơn vị xã hội khác. Làng bản còn là một cộng đồng về văn hoá. Tính cộng đồng về văn hoá của làng bản được thể hiện trong ý thức chung của các thành viên về cội nguồn của mình thông qua các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến các thành hoàng, thần linh, những người sáng lập làng bản và vận mệnh của cộng đồng dân cư … ở sự đồng cảm về lễ hội, văn hoá dân gian, kiến trúc, cách bố trí nhà cửa, kiểu ăn mặc, ứng xử … Tuy cùng một loại hình với những đặc trưng chung như trên, xong làng bản ở nước ta lại có những dạng thức với các sắc thái và trình độ phát triển khác nhau, tuỳ thuộc vào môi trường, điều kiện lịch sử, văn hoá, hình thức tổ chức và quan hệ xã hội của mỗi tộc người. Căn cứ vào những yếu tố đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân loại làng bản thành các lo¹i nh• sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23 Làng bản của cư dân vùng thấp và vùng thung lũng (Tày, Thái, Mường), làng bản của cư dân vùng cao (H’Mông, Dao), làng buôn của các dân tộc vùng Tây Nguyên. Như vậy, khi tìm hiểu làng bản truyền thống nói chung, ta thấy đây là một thiết kế xã hội bền vững, là môi trường tồn tại sinh sống, là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc ít người, phù hợp với đặc điểm của cư dân nông nghiệp truyền thống. Trong quá trình tồn tại và thích ứng, làng bản đã tỏ rõ những mặt ưu việt, tích cực, đồng thời cũng còn không ít những mặt tiêu cực, bất cập, lạc hậu. Vì vậy, khi xem xét ta phải đặt nó trong những mối quan hệ xã hội, những điều kiện lịch sử cụ thể, có tính đến yếu tố vùng miền và tâm lý dân tộc, tránh siêu hình, máy móc. Nắm vững những đặc trưng cơ bản của làng bản làm cơ sở để tìm hiểu văn hóa làng bản. Trong đời sống đồng bào các dân tộc, bản làng truyền thống vừa là đơn vị xã hội cơ sở, vừa là môi trường sinh tồn, là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần. Cũng từ đây, mà truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc - những đặc trưng của văn hóa cộng đồng được hình thành và lưu giữ tạo lên những giá trị sắc thái phong phú của văn hóa dân tộc. Có thể nói, có văn hóa làng bản là vì chúng ta đã có những làng văn hóa truyền thống. Văn hóa làng bản đã được hình thành và phát huy tác dụng như một thực thể trong lịch sử văn hóa Việt Nam trong các tập thể cộng đồng và các cá nhân người Việt. Tập thể và cá nhân ấy chính là các làng của chúng ta (làng và bản). Nắm được các làng văn hóa truyền thống tức là chúng ta nắm được biểu hiện của văn hóa làng. Vì vậy, bản làng có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, song chung nhất, sâu sắc nhất, đặc trưng nhất có lẽ là từ góc độ văn hóa bản làng. Vậy, văn hóa bản làng là gì? Để làm rõ vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu thêm một số phạm trù có liên quan đến văn hóa, văn hóa tộc người, văn hóa các dân tộc, văn hóa vùng, bản sắc văn hóa dân tộc … Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24 Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về văn hóa, song về cơ bản đều thống nhất ở chỗ coi văn hóa là phạm trù cơ bản gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của loài người, là sản phẩm riêng của con người, gắn với quá trình tác động, cải tạo tự nhiên, xã hội, quá trình sáng tạo và hoàn thiện chính bản thân con người. Từ văn hóa và vì văn hóa cũng chính là từ con người và vì con người - mục tiêu và động lực của sự phát triển. Như vậy, theo nghĩa rộng là toàn bộ những cái mà con người sáng tạo ra trong hoạt động, nó tạo nên chính giá trị của loài người, của khối cộng đồng người và đó chính là cái đối lập với tự nhiên, là ranh giới phân biệt con người xã hội với bản năng sinh vật của bầy đàn tự nhiên (khác với thuật ngữ Culture từ tiếng La tinh chỉ văn hóa theo nghĩa hẹp có nghĩa là trồng trọt, canh tác). Hoạt động của con người thật đa dạng và những giá trị do con người tạo ra thật phong phú. Vì vậy, căn cứ vào chức năng, vai trò và tính chất hoạt động của con người chúng ta có thể chia văn hóa thành 2 loại: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất (hay còn gọi là văn hóa vật thể) được hiểu là toàn bộ những giá trị văn hóa có kết cấu vật chất không gian ba chiều do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động gắn với hoạt động sinh hoạt vật chất như: ăn, uống, mặc, ở, đi lại, hoạt động sản xuất, tự vệ (công cụ sản xuất, vũ khí,…); Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) là toàn bộ những giá trị văn hóa gắn với lao động trí óc của con người như: khoa học, nghệ thuật, văn hóa, triết học, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hóa, …; Thuật ngữ văn hóa xã hội ít được sử dụng hơn, thường gắn với các hoạt động quản lý xã hội, cộng đồng, gia đình và cá nhân như các thiết chế xã hội, luật tục, tập quán, quan hệ xã hội và gia đình, các sinh hoạt cộng đồng,… Khi đề cập đến văn hóa là đề cập đến con người và gắn với nó là các yếu tố như: tộc người, không gian, cứ trú,... Từ đây xuất hiện khái niệm văn hóa tộc người. Nó được hiểu là “toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như quan hệ xã hội của tộc người sáng tạo ra trong hoàn cảnh môi trường sinh tụ chung, phản ánh nhận thức, hoạt động, tình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25 cảm, tâm lý của cộng đồng thông qua nếp sống được hình thành trong lịch sử và các mối quan hệ với tộc người khác”. [29,Tr 128). Đối với một quốc gia đa dân tộc như nước ta, bản sắc văn hóa dân tộc còn là sự hội tụ kết tinh những sắc thái phong phú của văn hóa tộc người, văn hóa vùng địa phương. Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc là bộ phận tinh túy biểu hiện sâu sắc nhất, tập trung nhất của bản sắc dân tộc, tạo nên cốt cách bản lĩnh, sức sống nhân sinh của mỗi dân tộc. Từ cơ sở đó, ý thức dân tộc được nảy sinh, hoàn thiện tạo nên lực hút quy tụ, gắn bó các thành viên với cộng đồng, giúp nó tồn tại và phát triển trước mọi phong ba thử thách. Vì vậy, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cũng có nghĩa là “tự đánh mất mình”, khiến cho sự tồn tại không có ý nghĩa. Nhận thức sâu sắc đực điều này, trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc”, chú trọng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Trên đây là khái quát những nội dung cơ bản về bản làng truyền thống, về văn hóa, văn hóa tộc người và bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là cơ sở để nghiên cứu văn hóa bản làng. Như vậy, có thể hiểu “văn hóa làng bản là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần và những quan hệ xã hội của cộng đồng dân cư làng bản sáng tạo nên trong quá trình cùng chung sống, lao động xây dựng và bảo vệ làng bản” (quyển 1.Tr25). Tuy nhiên, có nhiều loại hình làng bản khác nhau: có làng bản ở vùng núi cao, như làng bản của người H’Mông, Dao,… có làng bản ở vùng thấp, thung lũng ven núi, như làng bản của người Tày, Thái, Nùng,… Vì vậy, văn hóa làng bản vừa bao gồm những nét văn hóa chung của cư dân nông thôn sống chủ yếu bằng nghề nông, vừa mang những sắc thái riêng cho mỗi loại hình làng bản. Văn hóa làng bản chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tộc người và văn hóa vùng nhưng không đồng nhất hoàn toàn và không bao hàm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 26 tất cả nội hàm của văn hóa tộc người và văn hóa vùng. Ở đây, đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa làng bản của người Tày, thuộc văn hóa Việt Bắc và Đông Bắc, hay văn hóa của cư dân sống ở vùng thung lũng, chân núi – còn gọi là “văn hóa thung lũng”. 2.2 Môi trường sinh thái và nguyên tắc đặt tên của làng bản. 2.2.1 Môi trường sinh thái Bản làng xét dưới góc độ xã hội là một thiết chế mang tính chất hành chính tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài ở người Tày và các dân tộc ít người ở miền Bắc nước ta. Trong các thiết chế đó, các giá trị văn hóa bản làng để được giữ gìn và phát triển. Theo tác giả Trần Tư “thì từ thời viễn cổ đến nay con người chỉ có hai phương thức tập hợp để hình thành cộng đồng cư dân: tập hợp theo quan hệ huyết thống và tập hợp teo quan hệ láng giềng” [31,tr. 31-32]. Qua nghiên cứu 223 bản (nà, khau, lũng …) làng bản của người Tày ở Trùng Khánh là một đơn vị tụ cư tập hợp lại chủ yếu theo phương thức thứ hai. Và ở làng bản vùng núi sát biên giới Trung Quốc biểu hiện rõ nét nhất. Sự phân bố các bản, nà, lũng theo các hình thức sau: - Phân bố lẻ tẻ, mỗi bản, nà cách nhau bởi đồng ruộng, bãi nương… - Phân bố trong các thung lũng, chân đồi và dọc đường quốc lé Người Tày huyện Trùng Khánh thường sống quần tụ thành từng bản. Mỗi bản có từ 20 đến 100 nóc nhà. Nhiều bản (bó, nà, khau …) hợp lại thành 1 xã. Làng bản của người Tày thường dựa lưng vào sườn núi như: Phja Mạ, Phja Tốm (xã Cao Thăng); Pác Nà, Phja Đeng, Kéo Háng (xã Chí Viễn) hoặc xây dựng trên những đồi thấp cạnh sông suối hay các thung lũng Bó Đa, Thang Nà (Bình Minh), Lũng Răng, Lũng Giả (xã Lăng Yên) có khi bản được dựng ở giữa cánh đồng. Nhưng ở những khu đất mà trước kia đã từng là bãi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 27 tha ma (nghĩa địa) thì người Tày tuyệt đối không dựng bản ở đó. Nhiều làng bản còn có lũy tre xanh bao bọc xung quanh. Chỗ tiện lợi nhất được chọn để dựng bản là những nơi gần nguồn nước, gần ruộng, gần các rừng cây cao ráo, khi mưa xuống nước bẩn, rác có thể chảy xuống ruộng làm cho đất thêm màu mỡ. Bản chia thành bản nhỏ có từ 10 – 15 nóc nhà và bản lớn có từ 80 – 100 nóc nhà. Gần các bản đó còn có các nà nhỏ, mỗi nà có khoảng 3 nóc nhà chủ yếu từ những gia đình lớn tách ra để sống gần mảnh ruộng, bãi nương của mình hơn. Khác với làng bản của người Tày, làng bản của người H’Mông, người Dao thường làm trên các triền núi cao. Đồng bào ở lẻ tẻ mỗi nơi có vài hộ, mấy cha con, hoặc thông gia ở với nhau. Quanh bản không rào dậu, không trồng trọt vì trâu bò đều thả rông, làm nương rẫy cũng phải đi xa, có khi tới vài cây số. Còn quanh bản của người Tày tuy có rào dậu nhưng rào dậu theo bà con thì chỉ để “rào người ngay chứ không ngăn được kẻ gian”. Và quanh bản xung quanh nhà mỗi hộ gia đình thường trồng rất nhiều cây ăn quả. Đồng bào nói trồng cho con cháu ăn để chúng nó không “nhòm ngó” đến hoa quả của nhà hàng xóm. Bản có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối,… riêng thuộc quyền quản lý và sử dụng của bản. Bản của người Tày là một đơn vị quần cư bền vững, có ranh giới đất đai rõ rệt và vùng đất thuộc bản đó được gọi là đất bản. Quy mô của bản tuy lớn nhỏ không đều nhưng dù là bản nhỏ cũng phải có đầy đủ các yếu tố cấu thành, gồm ruộng và nương để con người có thể tiến hành sản xuất đảm bảo cuộc sống của mình. Các vùng đất tự nhiên của bản gồm: Đất thung lũng có đủ điều kiện để khai phá thành đồng ruộng trồng lúa, những lòng chảo lớn thường tập trung nhiều bản. Trong trường hợp đó thì đất của các bản được hình thành một cách tự nhiên khá rõ ràng và được củng cố bằng sự thừa nhận của luật tục. Đất rừng, đất núi để làm nương, hái lượm, săn bắn và khai thác thổ sản nói chung. Rừng là nguồn đất quan trọng để người ta Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 28 có thể khai phá thành nương rẫy, trồng cây lương thực, cây thực phẩm. Rừng còn là cái kho vô tận cung cấp nguồn thức ăn thực vật, động vật, các loại nấm, măng … Trước năm 1954, ngoài các cánh rừng công cộng thì hầu như bản nào cũng có hai khu rừng cấm; rừng tha ma là nghĩa địa của bản; Rừng ma cửa áo là nơi dành cho các loài ma, quỷ của núi rừng, sông suối và linh hồn của đất bản trú ngụ. Hai khu rừng này cây cối mọc dày, rậm dây leo chằng chịt, rất huyền bí không ai dám chặt phá. Đất tự nhiên của bản còn có các đoạn sông suối các khe, rạch. Đây là nguồn cung cấp quan trọng một phần lớn thủy sản cho bữa ăn hàng ngày, gồm các loại tôm, các loài lưỡng thể. Tính cộng đồng ở làng bản xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày. Theo truyền thống, ruộng đất trước đây của người Tày đều thuộc về bản mường. Các cá nhân không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền chiếm hữu. Bản chịu trách nhiệm trước mường về phân phối và điều chỉnh ruộng đất cho các gia đình, nghĩa là bản có vai trò quản lý ruộng đất - điều khác với nhiều vùng người dân tộc mà ở đó bản chỉ thuần túy là một đơn vị cư trú. Bản không chỉ đơn thuần là nơi tập hợp các gia đình riêng rẽ mà là một cộng đồng làm chỗ dựa về kinh tế xã hội văn hóa thực sự cho mỗi gia đình hạt nhân. Mỗi gia đình trong bản khi có việc mừng như: sinh con, cưới xin, làm nhà mới, thờ cúng tổ tiên … đều được sự giúp đỡ về vật chất (gạo, trứng, gà, rượu …) hoặc bằng sức lao động (chặt gỗ, lợp nhà, giúp các công việc vặt trong đám cưới ...). Trong bản, gia đình nào có việc buồn, việc tang thì cộng đồng bao giờ cũng là lực lượng chính động viên tinh thần, tham gia vào quá trình tang lễ theo đúng phong tục tập quán của cộng đồng. Mỗi thành viên trong bản luôn coi tổ chức bản làng là chỗ dựa tin cậy về mặt vật chất, cả về mặt tinh thần trong suốt cuộc đời họ. Đó là yếu tố khiến cho toàn bản trở thành một khối cộng đồng chặt chẽ, cùng chia sẻ những buồn vui giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, tạo nên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 29 những đặc điểm tâm lý chung của người Tày là chân thành, mến khách, cần cù, thật thà, sống hòa thuận, khiêm nhường, nhân hậu. 2.2.2 Nguyên tắc đặt tên của bản Tên bản với các quán từ: Bản, lũng, Đông, Pác, Nà, Phia, Bó, ….Bản nghĩa là làng, Lũng là thung lũng, Đông nghĩa là rừng, Pác là miệng, phia nghĩa là núi đá, Bó nghĩa là giếng, Nà hoặc thuổng (tổng) tức là cánh đồng. Người Tày thường chọn những nơi bằng phẳng hoặc gò đồi để lập bản và làm nhà, họ đặt tên Bản của mình theo phong cảnh tự nhiên như; làng Pác Bó là nơi nguồn nước, làng Đền là nơi có đền thờ Vua Lê…xong tên được người Tày sử dụng nhiều hơn cả là đặt tên làng, bản gắn liền với tên Nà như: Nà Vát, Nà Cạn, Nà Lương..: Làng bản cổ truyền huyện Trùng Khánh- tỉnh Cao Bằng trước năm 1945 [30 ] CHÂU THƯỢNG LANG Quán từ Bản STT Bản STT Bản 1 Bản Giàn (Lăng Yên) 11 Bản Thùn (Đồn Cà) 2 Bản Liêng (Lăng Yên) 12 Bản Soá (Quả Thoát) 3 Bản Thặc (Ngọc Luật) 13 Bản Cống (Ỷ Cống) 4 Bản Rành (Ngọc Luật) 14 Bản Vang (Ỷ Cống) 5 Bản Mấu (Ngọc Luật) 15 Bản Luống (Ỷ Cống) 6 Bản Mài (Ngọc Côn) 16 Bản Tẩu (Ỷ Cống) 7 Bản Gióm (Ngọc Côn) 17 Bản Mang (Đoài Côn) 8 Bản Khun (Trà Lĩnh) 18 Bản Phò (Tứ Mỹ) 9 Bản Lịp (Trà Lĩnh) 19 Bản Cơ (Tứ Mỹ) 10 Bản Pát (Trà Lĩnh) 20 Bản Hâu (Tứ Mỹ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 30 21 Bản Niêng (Tĩnh Lãng) 48 Bản Chang (Cảnh Sơn) 22 Bản Loa (Tĩnh Lãng) 49 Bản Piêt (Phong Châu) 23 Bản Lang (Tĩnh Lãng) 50 Bản Suộc (Hoành Phong) 24 Bản Hía (Tĩnh Lãng) 51 Bản Quan (Hoành Phong) 25 Bản Mặc (Tráng Biên) 52 Bản Bò (Đống Khê) 26 Bản Tám (Tráng Biên) 53 Bản Piêu (Đống Khê) 27 Bản Ngản (Ngọc Quản) 54 Bản Luông (Quỳnh Lâu) 28 Bản Khủn (Ngọc Quản) 55 Bản Kiang (Lũng Đính) 29 Bản Bó (Ngọc Quản) 56 Bản Đà (Bản Đà) 30 Bản Mãn (Ngọc Quản) 57 Bản Chang (Bản Đà) 31 Bản Sum (Đồng Quản) 58 Bản Bấu (Nga Ổ) 32 Bản Chang (Đồn Cà) 59 Bản Khây (Nga Ổ) 33 Bản Bóng (Bồng Sơn) 60 Bản Phạn (Lạc Oa) 34 Bản Bóng Nưa (Bồng Sơn) 61 Bản Doa (Lạc Oa) 35 Bản Cái (Bồng Sơn) 62 Bản Sặp (Lạc Oa) 36 Bản Nứa (Bồng Sơn) 63 Bản Kít (Lạc Oa) 37 Bản Tháy (Bồng Sơn) 64 Bản Sao (Đồng Loan) 38 Bản Thuân (Bồng Sơn) 65 Bản Thuộc (Đồng Loan) 39 Bản Kiang (Quan Chử) 66 Bản Miao (Đồng Loan) 40 Bản Giộc (Quan Chử) 67 Bản Lũng (Đồng Loan) 41 Bản Khun (Quan Chử) 68 Bản Lẹn (Đồng Loan) 42 Bản Gừ (Quan Chử) 69 Bản Sáng (Đồng Loan) 43 Bản Mom (Quan Chử) 70 Bản Khía (Đồng Loan) 44 Bản Phang (Quan Chử) 71 Bản Con (Đồng Loan) 45 Bản Rạ (Quan Chử) 72 Bản Sang (Đồng Loan) 46 Bản Thừng (Phong Đằng) 73 Bản Rặc (Đồng Loan) 47 Bản Khuy (Phong Đằng) 74 Bản Kha (Đồng Loan) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 31 75 Bản Nha (Phong Đằng) 83 Bản Un (Đồng Loan) 76 Bản Bang (Phong Đằng) 84 Bản Sùng (Nga Sơn) 77 Bản Khòng (Trạo Nhi) 85 Bản Phong (Nga Sơn) 78 Bản Khà (Trạo Nhi) 86 Bản Tao (Nga Sơn) 79 Bản Thảng (Trạo Nhi) 87 Bản Nhặng (Trùng Nhai) 80 Bản Suối (Trạo Nhi) 88 Bản Cống (Trùng Nhai) 81 Bản Băng (Lạc Oa) 89 Bản Mẫn (Trùng Nhai) 82 Bản Suông (Lạc Oa) 90 Bản Sâu (Lạc Oa) Quán từ Lũng 1 Lũng Chiên (Lăng Yên) 18 Lũng Ổ (Lũng Rỳ) 2 Lũng Choạn (Lăng Yên) 19 Lũng Lầu (Mai Lĩnh) 3 Lũng Gia (Lăng Yên) 20 Lũng Tung (Trà Lĩnh) 4 Lũng Muôn (Lăng Yên) 21 Lũng Ong (Trà Lĩnh) 5 Lũng Sẳng (Lăng Yên) 22 Lũng Mản (Trà Lĩnh) 6 Lũng Bún (Ngọc Luật) 23 Lũng Mười (Trà Lĩnh) 7 Lũng Cao (Ngọc Luật) 24 Lũng Hang (Trà Lĩnh) 8 Lũng Kít (Ngọc Luật) 25 Lũng Hoài (Tĩnh Lãng) 9 Lũng Pọ (Ngọc Luật) 26 Lũng Gạp (Tĩnh Lãng) 10 Lũng Riễn (Ngọc Luật) 27 Lũng Kinh (Tĩnh Lãng) 11 Lũng Qua (Bào Khê) 28 Lũng Giác (Tĩnh Lãng) 12 Lũng Hoài (Bào Khê) 29 Lũng Vùa (Tĩnh Lãng) 13 Lũng Đẩy (Bào Khê) 30 Lũng Vang (Tĩnh Lãng) 14 Lũng Thoang (Ngọc Côn) 31 Lũng Mười (Tĩnh Lãng) 15 Lũng Diêng (Phong Nẫm) 32 Lung Cuôi (Tĩnh Lãng) 16 Lũng Giùng (Phong Nẫm) 33 Lũng Piứơc (Tĩnh Lãng) 17 Lũng Chuông (Lũng Chung) 34 Lũng Kim (Tráng Biên) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 32 35 Lũng Bắng (Lũng Chung) 62 Lũng Quân (Tráng Biên) 36 Lũng Trát (Lũng Chung) 63 Lũng Rỳ (Tráng Biên) 37 Lũng Rỳ Nưa (Lũng Rỳ) 64 Lũng Po (Tráng Biên) 38 Lũng Rỳ Tẩy (Lũng Rỳ) 65 Lũng Táo (Tráng Biên) 39 Lũng Hoắc (Lũng Rỳ) 66 Lũng Thạc (Tráng Biên) 40 Lũng Moi (Lũng Rỳ) 67 Lũng Nạn Nưa (Ngọc Quản) 41 Lũng Sáng (Lũng Rỳ) 68 Lũng Nạn Tẩu (Ngọc Quản) 42 Lũng Pha Làng (Lũng Rỳ) 69 Lũng Nọc (Ngọc Quản) 43 Lũng Dậu (Ngọc Quản) 70 Lũng Nội (Quan Chử) 44 Lũng Riềm (Ngọc Quản) 71 Lũng Phiac (Quan Chử) 45 Lũng Cống (Đồng Quản) 72 Lũng Phục (Phong Đằng) 46 Lũng Rả (Đồng Quản) 73 Lũng Nậm (Phong Đằng) 47 Lũng Láo (Quả Thoát) 74 Lũng Cung (Phong Đằng) 48 Lũng Khùng (Ỷ Cống) 75 Lũng Phiõ (Trạo Nhi) 49 Lũng Lìu (Ỷ Cống) 76 Lũng Búa (Trạo Nhi) 50 Lũng Lộ (Đoài Côn) 77 Lũng Rặc (Trạo Nhi) 51 Lũng Rỳ (Đoài Côn) 78 Lũng Đa Nưa (Lũng Đa) 52 Lũng Luống (Đoài Côn) 79 Lũng Đa Tẩu (Lũng Đa) 53 Lũng Lạc (Đoài Côn) 80 Lũng Pậu (Lũng Đa) 54 Lũng Rìa (Thân Dương) 81 Lũng Khí Chạo (Lũng Đa) 55 Lũng Tủng (Tứ Mỹ) 82 Lũng Chi (Nga Sơn) 56 Lũng Diên (Tứ Mỹ) 83 Lũng Phục (Lạc Oa) 57 Lũng Cương (Tứ Mỹ) 84 Lũng Sam (Lạc Oa) 58 Lũng Nội (Tứ Mỹ) 85 Lũng Hoạt (Thượng Cống) 59 Lũng Muôn (Cổ Phương) 86 Lũng Nội (Thượng Cống) 60 Lũng Na (Cổ Phương) 87 Lũng Đêng (Quan Chử) 61 Lũng Nội (Phong Châu) 88 Lũng Niệc (Quan Chử) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 33 89 Lũng Luống (Đống Khê) 93 Lũng Ry (Quan Chử) 90 Lũng Năm (Quỳnh Lâu) 94 Lũng Man (Phong Đằng) 91 Lũng Hoài (Nga Ổ) 95 Lũng Súm (Phong Đằng) 92 Lũng Hoài (Thượng Cống) 96 Quán từ Đông STT Đông STT Đông 1 Đông Đô (Lăng Yên) 9 Đông Quan (Hoành Phong) 2 Đông Niếng (Lăng Yên) 10 Đông Môn (Nga Ổ) 3 Đông Sí (Bào Khê) 11 Đông Môn Chang (Nga Ổ) 4 Đông Oi (Ngọc Côn) 12 Đông Môn Nưa (Nga Ổ) 5 Đông Ry (Tĩnh Lãng) 13 Đông Kẻ Nưa (Trạo Nhi) 6 Đông Cố (Đồng Quản) 14 Đông Kẻ Tẩu (Trạo Nhi) 7 Đông Ven (Thân Dương) 15 Đông Phén (Nga Sơn) 8 Đông Chu (Thân Dương) Quán từ Pác STT Pác STT Pác 1 Pác Cuổi (Lăng Yên) 10 Pác Phiao (An Hy) 2 Pác Nà (Lăng Yên) 11 Pác Thay (An Hy) 3 Pác Rạ (Lăng Yên) 12 Pác Nâm (Bình Xa) 4 Pác Chang (Ngọc Luật) 13 Pác Bó (Tứ Mỹ) 5 Pác Thay (Ngọc Luật) 14 Pác Sa (Tứ Mỹ) 6 Pác Bó (Ngọc Luật) 15 Pác Cọn (Hoành Phong) 7 Pác Muồng (Bào Khê) 16 Pác Nà (Nga Ổ) 8 Pác Ngà (Bào Khê) 17 Pác Pâu (Bồng Sơn) 9 Pác Giủa (Phong Nẫm) 18 Pác Nẫm (Nga Sơn) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 34 Quán từ Nà STT Nà STT Nà 1 Nà Num (Ngọc Luật) 29 Nà Sầy (Tứ Mỹ) 2 Nà Han (Bào Khê) 30 Nà Mim (Tứ Mỹ) 3 Nà He (Bào Khê) 31 Nà Khiêu (Tứ Mỹ) 4 Nà Lũng (Bào Khê) 32 Nà Ray (Tứ Mỹ) 5 Nà Khia (Bào Khê) 33 Nà Pá (Thượng Cống) 6 Nà Giao (Bào Khê) 34 Nà Pài (Thượng Cống) 7 Nà Pò (Ngọc Côn) 35 Nà Phàng (Thượng Cống) 8 Nà Đán (Phong Nẫm) 36 Nà San (Thượng Cống) 9 Nà Đoan (Phong Nẫm) 37 Nà Suầy (Thượng Cống) 10 Nà Giào (Phong Nẫm) 38 Nà Thuộng (Thượng Cống) 11 Nà Chong (Phong Nẫm) 39 Nà Vửa (Thượng Cống) 12 Nà Thổng (Phong Nẫm) 40 Nà Đeng (Quan Chử) 13 Nà Kẻ (Trà Lĩnh) 41 Nà Héo (Nga Sơn) 14 Nà Phò (Tĩnh Lãng) 42 Nà Khèn (Nga Sơn) 15 Nà Giộc (Tĩnh Lãng) 43 Nà Hát (Trùng Nhai) 16 Nà Giang (Đồng Quản) 44 Nà Ngần (Lạc Oa) 17 Nà Kéo (Đoài Côn) 45 Nà Chi (Ỷ Cống) 18 Nà Lộng (An Hy) 56 Nà Quang (Đoài Côn) 19 Nà Gách (An Hy) 47 Nà Choát (Đoài Côn) 20 Nà Khoang (Trà Lĩnh) 48 Nà Giộc (Hoành Phong) 21 Nà Rạo (Trà Lĩnh) 49 Nà Mó (Đống Khê) 22 Nà Thấu (Tĩnh Lãng) 50 Nà Ay (Nga Ổ) 23 Nà Quan (Tĩnh Lãng) 51 Nà Lạn (Bồng Sơn) 24 Nà Đống (Tĩnh Lãng) 52 Nà Ay (Quan Chử) 25 Nà Thăng (Tráng Biên) 53 Nà Mười (Quan Chử) 26 Nà Lệch (Ngọc Quản) 54 Nà Nheng (Nga Sơn) 27 Nà Hán (Đồn Cà) 55 Nà Pác (Nga Sơn) 28 Nà Sộc (Quả Thoát) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 35 Quán từ Phia STT Phia STT Phia 1 Phia Ngược (Lăng Yên) 11 Phia Đeng (Tĩnh Lãng) 2 Phia Gà (Ngọc Luật) 12 Phia Tung (Ỷ Cống) 3 Phia Hong (Ngọc Luật) 13 Đống Sáu (Ỷ Cống) 4 Phia Khoang (Hiếu Lễ) 14 Phia Mã (Ỷ Cống) 5 Phia Léc (Hiếu Lễ) 15 Phia Ná (Ỷ Cống) 6 Phia Siểm (Bào Khê) 16 Phia Dan (Cảnh Sơn) 7 Phia Mã (Ngọc Côn) 17 Phia Bo (Đống Khê) 8 Phia Ca (Mai Lĩnh) 18 Phia Rài (Bản Đà) 9 Phia Deng (Trà Lĩnh) 19 Phia Đêng (Nga Ổ) 10 Phia Nin (Trà Lĩnh) 20 Phia Móc (Thượng Cống) Các quán từ khác STT Tên khác STT Tên khác 1 Áng Nẫm (Trà Lĩnh) 13 Co Rược (Ỷ Cống) 2 An Tắc (Nga Sơn) 14 Cò Ma (Thượng Cống) 3 Bán Con (Đồng Loan) 15 Cóc Lùng (Ngọc Quản) 4 Bó Hay (Bào Khê) 16 Cóc Phia (Ngọc Luật) 5 Bó Hoa (Mai Lĩnh) 17 Cổ Giâu Phố (Hiếu Lễ) 6 Bó Hoạt (Tráng Biên) 18 Cốc Chia (Nga Sơn) 7 Bó Giường (Ngọc Quản) 19 Cổ Phương (Cổ Phương) 8 Bó Lênh (Ỷ Cống) 20 Cốc Cáng (Trà Lĩnh) 9 Bó Mạ (Ỷ Cống) 21 Cốc Mỹ (Mai Lĩnh) 10 Bó Đà (Phong Châu) 22 Cốc Khoắc (Trà Lĩnh) 11 Bó Thốc (Quỳnh Lâu) 23 Cống Kéo (Quả Thoát) 12 Bủng Ỏ (Quả Thoát) 24 Cốc Phát (Tứ Mỹ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 36 25 Ca Rạc (Trà Lĩnh) 52 Cốc Nghịu (Cổ Phương) 26 Cao Đôn (Tĩnh Lãng) 53 Cốc Lại (Cảnh Sơn) 27 Cần Thả (Quan Chử) 54 Cốc Chia (Cảnh Sơn) 28 Chắm Ché (Ngọc Luật) 55 Chát Lình (Hoành Phong) 29 Co Muồng (Quan Chử) 56 Chi Choi (Lũng Đính) 30 Co Nghịu (Lạc Oa) 57 Chợ Chi Choi (Lũng Đính) 31 Co Lỳ (Đồng Loan) 58 Chợ Pò Tấu (Thượng Cống) 32 Co Riệc (Đồng Loan) 59 Đà Hoắc (Ngọc Luật) 33 Co Cài (Cảnh Sơn) 60 Đóng Khắm (Trà Lĩnh) 34 Co Hấu (Phong Nẫm) 61 Đén Deng (Lạc Oa) 35 Co Mười (Tráng Biên) 62 Giộc Nạn (Ngọc Luật) 36 Co Tô (Tráng Biên) 63 Giộc Mùng (Phong Nẫm) 37 Co Vương (Phong Châu) 64 Giộc Mán (Phong Nẫm) 38 Co Bầy (Hoành Phong) 65 Giốc Súng (An Hy) 39 Co Vầy (Nga Ổ) 66 Giộc Chiếm (Bình Xa) 40 Giộc Dâu (Tĩnh Lãng) 67 Khuôi Rỳ (Trà Lĩnh) 41 Giộc Vân (Quan Chử) 68 Khuối Luông (Tĩnh Lãng) 42 Giả Lường (Nga Sơn) 69 Khuổi Siểm (Ngọc Quản) 43 Hiếu Lễ Nưa (Hiếu Lễ) 70 Khuối Lình (Đoài Côn) 44 Hiếu Lễ Tẩy (Hiếu Lễ) 71 Khuổi Kỳ (Quan Chử) 45 Hnàg Hoài (Hiếu Lễ) 72 Khuổi Sại (Thượng Cống) 46 Háng Gả (Đồn Cà) 73 Khuổi Ải (Nga Sơn) 47 Hạt Pan (Lũng Đính) 74 Khuối Âu (Nga Sơn) 48 Kha Rề (Ngọc Luật) 75 Khum Sỏm (Ngọc Quản) 49 Kha Mong (Mai Lĩnh) 76 Lạn Hoài (Ngọc Quản) 50 Khang Lục (Mai Lĩnh) 77 Lý Phạn (Lũng Đa) 51 Khau Khót (Phong Châu) 78 Lùng Pầu (Đồn Cà) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 37 79 Khau Ra (Đồng Loan) 106 Lùng Nẫm Nưa (Đồn Cà) 80 Khâu Nưa (Ngọc Luật) 107 Lùng Nẫm Tẩu (Đồn Cà) 81 Khâu Hổ (Ngọc Quản) 108 Luộc Tấu (Ỷ Cống) 82 Khâu Lũng (Cổ Phương) 109 Luộc Sóm (Hoành Phong) 83 Khâu Pá (Nga Sơn) 110 Luộc Khính (Trạo Nhi) 84 Khâu Cuội (Nga Sơn) 111 Luộc Bó (Nga Sơn) 85 Khưa Hôi (Ngọc Côn) 112 Luộc Sáo (Lạc Oa) 86 Khưa Ỏ (Đoài Côn) 113 Luộc Thôm (Đồng Loan) 87 Khúa Khảo (Phong Châu) 114 Lung Thoang (Trạo Nhi) 88 Khưa Khoang (Trạo Nhi) 115 Lung Hoang (Trạo Nhi) 89 Keng Khiắp (Phong Nẫm) 116 Lúng Lệch (Đoài Côn) 90 Keng Hoàng (Cổ Phương) 117 Lục Khiếu (Phong Đằng) 91 Khiêm Khát (Thân Dương) 118 Mán Dâu (Đồng Quản) 92 Khiong Hu (Nga Ổ) 119 Mù Hà (Thượng Cống) 93 Khuổi Linh (Ngọc Luật) 120 Nặm Sum (Ngọc Luật) 94 Khuổi Luông (Trà Lĩnh) 121 Nặm Lìn (Hiếu Lễ) 95 Nâm Kít (Trạo Nhi) 122 Pò Rẩy (Tĩnh Lãng) 96 Nẫm Tốc (Lũng Đa) 123 Pò Hoài (Tứ Mỹ) 97 Nẫm Thấu (Nga Sơn) 124 Pò Quang (Tứ Mỹ) 98 Nâm Thủm (Lũng Chung) 125 Pò Tào (Phong Châu) 99 Nẩm Thụm (Tứ Mỹ) 126 Pò Mười (Hoành Phong) 100 Nậm Thụm (Tráng Biên) 127 Po Chang (Ỷ Cống) 101 Nục Cu (Lũng Đính) 128 Po Có (Cảnh Sơn) 102 Nguồm Nuốc (Tĩnh Lãng) 129 Po Rẩy (Thân Dương) 103 Ngườm Sang (Thân Dương) 130 Po Đồn (Tứ Mỹ) 104 Phò Mác (Ngọc Luật) 131 Phủng Phèn (Tĩnh Lãng) 105 Phò Khọt (Trà Lĩnh) 132 Pạc Lũng (Ỷ Cống) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 38 133 Phò Kháp (Ỷ Cống) 160 Pạc Thần (Đoài Côn) 134 Phài Pán (Phong Nẫm) 161 Pạc Sao (Cảnh Sơn) 135 Phiêng Xa Nưa (Bình Xa) 162 Pạc Mạc (Hoành Phong) 136 Phiêng Xa Tẩu (Bình Xa) 163 Pạc Pẩu (Lũng Đính) 137 Pò Cai (Hoành Phong) 164 Pạc Cổng (Thượng Cống) 138 Pò Tấu (Thượng Cống) 165 Pac Sa (Đoài Côn) 139 Pò Chang (Bồng Sơn) 166 Pac Siếc (Tráng Biên) 140 Pò Don (Quan Chử) 167 Pac Thoàng (Ỷ Cống) 141 Pò Mười (Phong Đằng) 168 Phài Na (Đoài Côn) 142 Pò Mu (Nga Sơn) 169 Phố Thông Huê (Đoài Côn) 143 Pò Sẩy (Quan Chử) 170 Pú Làng (Hoành Phong) 144 Pò Sao (Nga Sơn) 171 Pài Siểng (Thượng Cống) 145 Pò Giẫu (Bào Khê) 172 Phai Thoang (Quan Chử) 146 Pò Luông (Trà Lĩnh) 173 Phía Nà (Nga Sơn) 147 Pò Man (Tĩnh Lãng) 174 Phiêng Phié (Trùng Nhai) 148 Pò Khoang (Tĩnh Lãng) 175 Rằng Hống (Tráng Biên) 149 Pò Khâu Khao (Tĩnh Lãng) 176 Rằng Rang (Lăng Yên) 150 Rỏng Mần (Tráng Biên) 177 Thổng Mông (Tĩnh Lãng) 151 Rỏng Sắc (Tráng Biên) 178 Tống Nga (Tĩnh Lãng) 152 Săng Đìn (Lăng Yên) 179 Thiu Phong (Tráng Biên) 153 Siộc Khâu 3(Bào Khê) 180 Tăng Sường (Ngọc Quản) 154 Sóc Hoài (Mai Lĩnh) 181 Tốc Tát (Ngọc Quản) 155 Sộc Đam (Tráng Biên) 182 Tẩu Kéo (Ngọc Quản) 156 Súm Khuổi (Đồng Quản) 183 Thua Phia (Đoài Côn) 157 Sộc Chăng (Ỷ Cống) 184 Tàm Na (Đoài Côn) 158 Sộc Vắc (Đoài Côn) 185 Thông Khuông (Đoài Côn) 159 Sộc Nạn (Tứ Mỹ) 186 Thổng Lộc (Thân Dương) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 39 187 Sộc Khăm (Cổ Phương) 210 Thang Na (Tứ Mỹ) 188 Siốc Khiao (Quỳnh Lâu) 211 Thua Khẩu (Tứ Mỹ) 189 Sốc Piâu (Nga Ổ) 212 Thinh Khê (Tứ Mỹ) 190 Sộc Mạ (Quan Chử) 213 Thôm Phằng (Tứ Mỹ) 191 Sộc Linh (Quan Chử) 214 Thình Quốc (Cổ Phương) 192 Thang Lý (Ngọc Luật) 215 Thình Quốc (Cảnh Sơn) 193 Tẩu Mẩn (Ngọc Luật) 216 Thuôm Thi (Phong Châu) 194 Tả Than (Hiếu Lễ) 217 Tà Liêng (Lũng Đính) 195 Thang Khỏng (Hiếu Lễ) 218 Ta Nang (Lũng Đính) 196 Tẩu Bản (Bào Khê) 219 Thang Na (Bản Đà) 197 Tả Pít (Phong Nẫm) 220 Thổng Càn (Nga Ổ) 198 Ta Pè (Phong Nẫm) 221 Thôn Thúa (Nga Sơn) 199 Ta Nay (An Hy) 222 Thèng Kít (Nga Sơn) 200 Tổng Sóng (Trà Lĩnh) 223 Vặc Niêng (Trà Lĩnh) 201 Tả Kéo (Trà Lĩnh) 224 Vạc Ga (Trà Lĩnh) 202 Thuâm Sa (Tĩnh Lãng) 225 Vạc Khoang (Tráng Biên) 203 Thổng Luông (Tĩnh Lãng) 226 Kéo Quang (Đồn Cà) 204 Trà Lĩnh (Thị) (Tĩnh Lãng) 227 Kéo Háo (Đồn Cà) 205 Kéo Chương (Lăng Yên) 228 Kéo Háo Tẩu (Đồn Cà) 206 Kéo Tong (Lăng Yên) 229 Kéo Nục (Tứ Mỹ) 207 Kéo Giáo (Ngọc Côn) 230 Kéo Giến (Quan Chử 208 Kéo Viểng (Phong Nẫm) 231 Kéo Thầu (Quan Chử) 209 Kéo Thoang (Quan Chử) 232 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 40 LÀNG XÃ HUYỆN TRÙNG KHÁNH HIỆN NAY STT Xóm Số hộ Số khẩu Dân tộc Trưởng xóm Tày Nùng Khác I 1 Nà Gàng (Trung Phúc) 21 115 115 Tày 2 Nà Luộc (Trung Phúc) 18 87 87 Tày 3 Nà Pò (Trung Phúc) 21 98 98 Nùng 4 Nà Hâu – Nà Chang (Phong Nậm) 41 201 201 Tày 5 Nà Thông (Phong Nậm) 22 109 109 Tày 6 Nà Đoan – Nà Bút (Phong Nậm) 65 271 271 Tày 7 Nà Thềnh (Thông Huề) 45 220 220 Tày 8 Nà Ít (Thông Huề) 58 246 246 Tày 9 Nà Keo (Thông Huề) 22 97 97 Tày 10 Nà Giốc – Pò Gài (Phong Châu) 35 162 162 Tày 11 Nà Mằn (Phong Châu) 41 166 166 Tày 12 Nà Răn (Thân Giáp) 43 190 190 Nùng 13 Nà Sa (Đình Phong) 26 135 135 Tày 14 Nà Thoang (Đình Phong) 59 298 298 Tày 15 Nà Đeng – Lũng Nội (Đàm Thuỷ) 38 187 93 94 Nùng 16 Nà Quang (Đoài Côn) 51 213 213 Tày 17 Nà Chi (Cao Thăng) 63 291 291 Tày 18 Nà Nôm (Khâm Thành) 38 186 186 Tày 19 Nà Gọn (Khâm Thành) 29 106 106 Tày 20 Nà Sơn (Chí Viễn) 34 154 154 Tày 21 Nà Tuy (Chí Viễn) 46 192 192 Tày 22 Nà Mu (Chí Viễn) 57 226 226 Tày 23 Nà Lỏng – Nà Gạch (Ngọc Khê) 64 300 300 Tày 24 Nà Thin (Đức Hồng) 58 231 231 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 41 25 Nà Khiêu (Đức Hồng) 69 284 284 Tày 26 Nà Rầy I (Đức Hồng) 57 268 268 Tày 27 Nà Rầy II (Đức Hồng) 63 287 287 Tày 28 Nà Gườm (Đức Hồng) 59 263 263 Tày 29 Bản Chang – Thang Nà (Đình Minh) 65 284 284 Tày 30 Bản Đà (Đình Minh) 54 224 224 Tày 31 Bản Gằn (Trung Phúc) 49 234 234 Tày 32 Bản Khuông (Thông Huề) 51 204 204 Tày 33 Bản Cưởm (Thông Huề) 18 86 86 Tày 34 Bản Piên (Phong Châu) 22 99 99 Tày 35 Bản Quam (Phong Châu) 36 159 159 Tày 36 Bản Viết (Phong Châu) 63 286 286 Tày 37 Bản Coỏng (Thân Giáp) 53 246 246 Tày 38 Bản Mang (Thân Giáp) 23 113 113 Tày 39 Bản Chang (Cảnh Tiên) 51 241 241 Tày 40 Ban Luông (Đình Phong) 82 450 450 Tày 41 Bản Chang - Bản Giang (Đình Phong) 74 348 233 115 Tày 42 Bản Nưa (Đàm Thuỷ) 45 225 225 Tày 43 Bản Moong (Đàm Thuỷ) 68 287 287 Tày 44 Bản Chang (Đàm Thuỷ) 48 242 242 Tày 45 Bản Gun – Khuôi Ky (Đàm Thuỷ) 85 397 397 Tày 46 Bản Dít (Đàm Thuỷ) 38 166 166 Tày 47 Bản Thuôn (Đàm Thuỷ) 25 131 131 Tày 48 Bản Phang (Đàm Thuỷ) 61 290 290 Tày 49 Bản Giốc (Đàm Thuỷ) 85 383 383 Tày 50 Bản Cai (Đàm Thuỷ) 77 370 370 Tày 51 Đồng Tâm - Bản Rạ (Đàm Thuỷ) 65 288 288 Tày 52 Bản Chiên (Lăng Yên) 28 125 125 Tày 53 Bản Lung (Đoài Côn) 77 371 371 Nùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 42 54 Keo Chưởng - Bản Liêng (Lăng Hiếu) 37 153 153 Tày 55 Bản Giăn (Lăng Hiếu) 41 184 184 Tày 56 Bản Hâu (Cao Thăng) 27 145 145 Tày 57 Bản Luông 51 245 245 Tày 58 Bản Mới (Khâm Thành) 42 168 168 Tày 59 Bản Hang (Chí Viễn) 83 353 353 Tày 60 Bản Khây (Chí Viễn) 50 221 221 Tày 61 Bản Thay (Chí Viễn) 10 56 56 Tày 62 Bản Ruộc (Chí Viễn) 42 186 186 Tày 63 Bản Nhom (Ngọc Khê) 37 193 193 Tày 64 Bản Miài (Ngọc Khê) 97 483 483 Tày 65 Pác Riêng (Trung Phúc) 39 197 197 Nùng 66 Pác Loan (Trung Phúc) 46 233 233 Nùng 67 Pác Đông (Phong Nậm) 24 112 112 Tày 68 Pác Coóng (Phong Châu) 34 159 159 Tày 69 Pác Bó (Ngọc Chung) 46 214 214 Tày 70 Pác Quang (Ngọc Chung) 31 131 131 Tày 71 Pác Đông (Cảnh Tiên) 68 280 280 Tày 72 Pác Dao 67 276 276 Tày 73 Pác Nà (Lăng Yên) 21 93 93 Tày 74 Pác Thàn (Đoài Côn) 42 207 207 Nùng 75 Pác Cuổi (Lăng Hiếu) 48 218 218 Tày 76 Pác Ra – Lung Nọi (Cao Thăng) 28 125 125 Nùng 77 Pác Thòng (Cao Thăng) 22 112 112 Nùng 78 Pác Lung (Cao Thăng) 55 257 257 Tày 79 Pác Chang (Khâm Thành) 55 242 242 Tày 80 Pác Mác (Chí Viễn) 36 132 132 Tày 81 Lũng Rì (Phong Nậm) 14 72 72 Nùng 82 Lũng Điêng (Phong Nậm) 34 163 163 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 43 83 Lũng Chuông (Ngọc Chung) 16 76 76 Nùng 84 Lũng Bắng (Ngọc Chung) 20 94 94 Nùng 85 Lũng Chát (Ngọc Chung) 8 37 37 Nùng 86 Lũng Nậm (Đình Phong) 35 169 169 Nùng 87 Lũng Niếc (Đàm Thuỷ) 35 158 158 Tày 88 Lũng Rẳng (Lăng Yên) 35 184 184 Nùng 89 Lũng Gia (Lăng Yên) 18 79 79 Nùng 90 Lũng Lo (Đoài Côn) 51 251 251 Tày 91 Lung Luông - Lũng Rỳ (Đoài Côn) 66 298 298 Nùng 92 Lũng Muôn (Lăng Hiếu) 75 338 338 Nùng 93 Lũng Gùng (Cao Thăng) 35 163 163 Tày 94 Lũng Kíp (Khâm Thành) 27 120 120 Nùng 95 Lũng Hoạt (Chí Viễn) 24 128 128 Nùng 96 Lũng Lầu (Ngọc Khê) 58 260 260 Nùng 97 Lũng Hoài (Ngọc Khê) 24 102 102 Nùng 98 Lũng Túng (Đức Hồng) 14 64 64 Nùng 99 Lũng Nà (Đức Hồng) 40 209 209 Nùng 100 Khưa Khảo (Đình Minh) 45 202 202 Nùng 101 Khưa Nâu – Khưa Sách (Đình Minh) 55 204 204 Tày 102 Khưa Hoi (Ngọc Khuê) 59 259 259 Tày 103 Phia Phảng (Trung Phúc) 51 247 247 Tày 104 Phia Bó (Phong Châu) 56 230 230 Tày 105 Phia Ngược (Lăng Hiếu) 32 162 162 Tày 106 Phia Tốm (Cao Thăng) 35 176 176 Tày 107 Phia Hồng (Khâm Thành) 66 268 268 Tày 108 Phía mạ (Ngọc Khê) 45 203 203 Tày 109 Phia Muông (Ngọc Khê) 22 90 90 Tày 110 Phia Siểm (Ngọc Khê) 31 146 146 Tày 111 Phia Gà (Khâm Thành) 29 130 130 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 44 112 Phia Móc (Chí Viễn) 32 170 170 Tày 113 Phia Đeng (Chí Viễn) 233 233 233 Tày 114 Bó Đà – Khâu Gát (Đình Minh) 64 294 294 Tày 115 Bó Mạ (Cao Thăng) 30 168 168 Tày 116 Bó Lành (Cao Thăng) 45 223 223 Nùng 117 Bình Lăng (Đình Minh) 26 117 117 Tày 118 Tục Lũng (Trung Phúc) 47 237 237 Nùng 119 Khưa Khảo (Đình Minh) 45 202 202 Nùng 120 Khưa Nâu (Đình Minh) 55 204 204 Tày 121 Tân Lập (Trung Phúc) 68 287 287 Tày 122 Keo Hin (Trung Phúc) 45 214 214 Nùng 123 Hao Phò (Trung Phúc) 46 238 238 Nùng 124 Nưa Chang (Trung Phúc) 40 198 198 Nùng 125 Cốc Phay (Trung Phúc) 18 150 105 126 Đồng Tâm (Trung Phúc) 52 257 257 Nùng 127 Phò Phước (Trung Phúc) 58 312 312 Tày 128 Tân Trung (Trung Phúc) 31 151 151 Nùng 129 Đà Bè (Phong Nậm) 23 107 107 Nùng 130 Giốc Rùng (Phong Nậm) 31 144 144 Tày 131 Cốc Rầy (Thông Huề) 27 118 118 Nùng 132 Nặm Đọi (Thông Huề) 58 260 260 Nùng 133 Sốc Riêng (Thông Huề) 23 92 93 Tày 134 Cốc Chia (Thông Huề) 20 84 84 Tày 135 Phố Thồng Huề I 73 277 277 Nùng 136 Phố Thông Huề II 64 242 242 Nùng 137 Nặm Thúm (Thông Huề) 21 82 82 Nùng 138 Cô Bây (Phong Châu) 31 119 119 Tày 139 Tân Phong (Phong Châu) 40 183 183 Nùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 45 140 Thua Ma (Phong Châu) 25 129 129 Tày 141 Pài Siêng (Phong Châu) 37 173 173 Tày 142 Đồng Tâm (Thân Giáp) 34 147 147 Nùng 143 Thông Lộc (Thân Giáp) 31 140 140 Nùng 144 Phò Tấu (Thân Giáp) 33 172 172 Nùng 145 Thua Khuông (Thân Giáp) 37 154 154 Nùng 146 Sộc Chăng (Thân Giáp) 38 190 190 Tày 147 Ngườm Giang (Thân Giáp) 56 230 230 Tày 148 Cốc Chia (Ngọc Chung) 22 105 105 Tày 149 Giộc Khăm (Ngọc Chung) 23 101 101 Nùng 150 Giộc Vung (Ngọc Chung) 32 160 160 Nùng 151 Cốc Chia (Cảnh Tiên) 24 128 128 Tày 152 Rằng Đin (Cảnh Tiên) 20 107 107 Nùng 153 Thềnh Quốc (Cảnh Tiên) 21 93 93 Nùng 154 Cốc Lại (Cảnh Tiên) 57 264 264 Nùng 155 Pò Có (Cảnh Tiên) 66 287 287 Nùng 156 Thành Khê (Cảnh Tiên) 21 107 107 Nùng 157 Lộc Giao (Đình Phong) 75 364 364 Tày 158 Bo Thốc (Đình Phong) 58 278 278 Nùng 159 Ta Nang (Đình Phong) 42 193 193 Nùng 160 Đỏng Luông- Chi Choi (Đình Phong) 47 192 90 102 Nùng 161 Giảng Gà (Đình Phong) 20 73 40 33 Tày 162 Nộc Cu (Đình Phong) 10 42 21 21 Nùng 163 Hát Pan- Ta Liêng (Đình Phong) 28 169 56 113 Tày 164 Vươn Luông- Tha Mấn (Đình Phong) 37 171 85 86 Tày 165 Cô Muông (Đàm Thuỷ) 50 233 233 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 46 166 Ham Thoang- Dộc Mạ (Đàm Thuỷ) 36 305 305 Nùng 167 Rằng Rang (Lăng Yên) 62 322 322 Nùng 168 Đông Niểng (Lăng Yên) 49 231 231 Nùng 169 Keo Tong (Lăng Yên) 45 209 109 100 Nùng 170 Sốc Hoắc (Đoài Côn ) 42 175 175 Tày 171 Pò Gà i(Đoài Côn ) 21 83 83 Tày 172 Tắp Na (Đoài Côn ) 42 200 200 Nùng 173 Hiếu Lễ (Lăng Hiếu) 95 354 354 Tày 174 Đà Tiên (Lăng Hiếu) 59 269 169 100 Nùng 175 Đông Đô (Lăng Hiếu) 34 164 164 Tày 176 Đỏng Rin (Cao Thăng) 21 107 107 Tày 177 Phò Đon (Cao Thăng) 51 238 238 Tày 178 Bó Mạ (Cao Thăng) 30 168 168 Tày 179 Bó Lành (Cao Thăng) 45 223 223 Nùng 189 Phò Gáp (Cao Thăng) 33 152 152 Tày 181 Đông Xâu (Cao Thăng) 64 310 160 150 Tày 182 Phia Tốm (Cao Thăng) 35 176 176 Tày 183 Cô Rược (Cao Thăng) 26 129 129 Tày 184 Nậm Chung (Khâm Thành) 73 323 115 208 Nùng 185 Đà Hoặc (Khâm Thành) 61 265 265 Tày 186 Chăm Ché (Khâm Thành) 29 112 112 Tày 187 Đông Mòn (Chí Viễn) 76 341 341 Nùng 188 Kéo Hang (Chí Viễn) 24 122 122 Tày 189 Đỏng Đeng (Chí Viễn) 48 231 231 Tày 190 Gò Ma (Chí Viễn) 21 109 109 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 47 191 Đồng Tâm (Chí Viễn) 57 281 281 Tày 192 Thanh Lâm (Chí Viễn) 50 204 204 Tày 193 Bong Trên (Chí Viễn) 16 79 79 Tày 194 Bong Dưới(Chí Viễn) 16 47 47 Tày 195 Pò Tấu (Chí Viễn) 62 240 240 Tày 196 Đông Long (Chí Viễn) 48 212 212 Tày 197 Giộc Sung (Ngọc Khê) 30 143 143 Tày 198 Đỏng Doa (Ngọc Khê) 75 364 364 Tày 199 Keo Giáo (Ngọc Khê) 45 227 227 Tày 200 Kha Mong (Ngọc Khê) 38 169 100 169 Nùng 201 Khưa Hoi (Ngọc Khê) 59 259 259 Tày 202 Đông Xi (Ngọc Khê) 57 272 272 Tày 203 Pò Peo (Ngọc Khê) 47 200 200 Tày 204 Giộc Sâu (Ngọc Khê) 100 467 467 Tày 205 Ta Nay (Ngọc Khê) 88 385 385 Tày 206 Đỏng Ỏi (Ngọc Khê) 60 296 296 Tày 207 Sộc Khâm I (Đức Hồng) 56 233 233 Tày 208 Sộc Khâm II (Đức Hồng) 51 241 161 80 Tày 209 Đầu Cầu (Đức Hồng) 56 268 268 Tày 210 Cổ Phương I (Đức Hồng) 60 264 264 Nùng 211 Cổ Phương II (Đức Hồng) 65 327 327 Nùng 212 Tổ 1 (Thị Trấn) 94 328 91 182 55 Kinh 213 Tổ 2 (Thị Trấn) 100 400 150 182 68 Nùng 214 Tổ 3 (Thị Trấn) 75 300 83 166 51 Tày 215 Tổ 4 (Thị Trấn) 76 305 157 120 28 Nùng 216 Tổ 5 (Thị Trấn) 86 344 140 246 58 Tày 217 Tổ 6 (Thị Trấn) 49 196 109 54 33 Tày 218 Tổ 7 (Thị Trấn) 72 294 245 49 Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 48 Các địa danh trên rõ ràng là địa danh của tộc người ngôn ngữ Tày - Thái, chỉ qua ngôn ngữ Tày - Thái ta mới có thể hiểu dược ý nghĩa của nó. Phản ánh lịch sử cư trú lâu đời của tộc người Tày ở đây, họ là cư dân thổ địa của vùng này, còn các tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ khác như HMông, Dao, Kinh, Hán (Hoa), chắc hẳn là cư dân đến sau, nên nơi cư trú của họ vẫn sử dụng địa danh ngôn ngữ Tày - Thái. 2.3 Kết cấu cư dân: Trùng Khánh là vùng đất địa đầu của tổ quốc, giáp biên giới với Trung Quốc, do vậy đây là vùng đất luôn bị các thế lực bành trướng Trung hoa để ý đến, đây là vùng đất được mệnh danh là phên dậu của của quốc gia “che chở cho cả cõi Bắc Kỳ”. Các nhà nước phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử còn đại diện cho dân tộc, đối với miền núi phía Bắc là vùng biên cương có vị trí chiến lược trọng yếu như trên đã nêu, đã nhận được sự quan tâm đặc biệt “Biên thùy hảo vị trù phương lược xã tắc ưng tu kế cửu an” (Lê Lợi), và đã đề ra những chính sách, biện pháp tích cực để giải quyết vấn đề miền núi - vấn đề dân tộc tăng cường quốc gia thống nhất, một trong các chính sách thường được các vương triều phong kiến sử dụng là ban chức tước bổng lộc cho các tù trưởng thiểu số để lôi kéo các dân tộc miền núi. Do đó đã hình thành một đội ngũ thổ tù thế lập và chế độ lưu quan (thổ ty). Xã hội người Tày đã phát triển nhưng không đều, ở nhiều nơi sự phát triển các quan hệ phong kiến còn ở mức thấp. Tổ chức xã hội kiểu “quằng” hay “thổ ty” đã ra đời khá sớm và tồn tại cho đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Tổ chức xã hội này của người Tày trước đây thường được các triều đại phong kiến Việt Nam sử dụng. Nhiều “quằng” đã trở thành những người thân cận của triều đình Đại Việt và thường được phong chức tước cao, như: “Khuông bình chưởng sự”, “Đại tướng quân”, “Thượng tướng quân”, Đặc điểm của chế độ “thổ ty” là cha chuyền con nối, nắm quyền sở hữu đất đai và các nguồn lợi tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 49 nhiên của địa phương, có thẩm quyền thực thi chế độ phân bổ đất đai và thu lợi. Thường được chia thành nhiều loại khác nhau để phục vụ cho nhu cầu của thổ ty, từ việc nhỏ đến việc lớn… hình thức bóc lột quần chúng nhân dân lao động thường là lao dịch và cống phẩm. Chính sách cai trị mềm mỏng nay đã có tác động tích cực là đoàn kết được các dân tộc chống ngoại xâm bảo vệ bản làng và đất nước. Tuy nhiên, chính sách cai trị này cũng có những mặt tiêu cực là: duy trì những tàn tích của tổ chức thị tộc, bộ lạc với những phong tục tập quán lạc hậu. Sự tồn tại của chế độ gia trưởng phụ quyền hay chế độ ruộng công trong làng bản đã kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển trong xã hội người Tày. Trên cơ sở một nền kinh tế tự cấp, tự túc, mối quan hệ giữa những người trong tông tộc, dòng họ trong phạm vi bản làng gắn bó mật thiết với nhau, ít có có sự đối kháng dòng họ này với dòng họ khác. Sự phân hóa gia cấp ở mức độ thấp hơn so với miền xuôi. Trước 1945, về cơ bản xã hội người Tày phân chia thành các giai cấp sau: Tầng lớp quan lại, địa chủ, thổ hào giàu có nắm quyền thống trị ở nông thôn, đó là chỗ dựa chính của chính quyền thực dân phong kiến. Tầng lớp nho sĩ bình dân, tức là tầng lớp trí thức nho học cũ đã có tuổi đang mai một dần. Họ được quần chúng tôn trọng. Họ là những người đã góp phần xây dựng ngôn ngữ, văn học dân tộc, đồng thời có vai trò to lớn trong các công việc của mường bản: hôn nhân, ma chay, tế lễ… Tầng lớp nông dân lao động (trung, bần, cố nông đông hơn cả - chiếm trên 95% dân số). Nông dân lao động là những người sản xuất chính, đồng thời là người gánh vác mọi thứ thuế khóa, phu phen tạp dịch cho chính quyền thực dân và phong kiến. Đời sống của họ nói chung là bấp bênh, nhất là những năm mất mùa, họ phải vào trong rừng đào củ mài, củ bấu ăn thay cơm. Tầng lớp “tào, mo, then, pụt” tức là những người làm nghề cũng bái phân lớn là nông dân lao động, có người thuộc giai cấp bóc lột, ít nhiều có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 50 ảnh hưởng trong dân gian. Họ là những cố vấn không thể thiếu được trong việc ma chay, cúng bái, cưới xin…là những việc đồng bào coi trọng nhất trong đời sống xã hội trước đây. Một tầng lớp mới xuất hiện, tầng lớp trí thức nhỏ được đào tạo trong các trường phổ thông của Pháp, tức là các thông, kí, phán, giáo học. Họ có một số vốn Pháp văn và những kiến thức tối thiểu để làm việc trrong bộ máy chính quyền thực dân. Họ có vai vế nhất định trong xã hội và được mọi người kính nể. Như vậy, về cơ bản xã hội người Tày trước cách mạng là một xã hội thực dân nửa phong kiến. Vì sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc như ở miền xuôi nên quan hệ giữa các tầng lớp xã hội trong làng bản nói chung vẫn là quan hệ đoàn kết, tương thân, tương trợ giữa những người trong họ hàng, làng xóm. Chế độ “quằng” ở làng bản của người Tày xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Sau cách mạng Tháng 8/1945, bên cạnh chính quyền thực dân vẫn tiếp tục bảo lưu về mặt hình thức một bộ máy chính quyền của người bản xứ. Các đơn vị hành chính bản xứ gồm: xã, tổng, châu, phủ và tỉnh. Xã được tạo thành bởi sự liên kết của nhiều làng, bản đôi khi cách xa nhau đáng kể. Tất cả các công việc của xa được điều hành bởi các tộc trưởng. Họ là những người bầu ra lý trưởng, phó lý và xã đoàn. Ở bản làng, đứng đầu là trưởng bản – đây là người có uy tín nhất trong bản. Họ đứng ra tổ chức và điều hành mọi công việc trong bản. Do vậy, trong mỗi bản tính “tự quản” được thể hiện khá rõ nét. Mọi người dân đều tin tưởng vào trưởng bản của mình. Về kết cấu cư dân của bản làng, các nhóm dân tộc Tày hầu hết đều cư trú xen kẽ lẫn nhau đại đa số là cư trú ở vùng thấp và một số ít ở vùng lưng chừng. Họ cư trú theo kiểu một tập hợp thành những làng bản có 10 – 20 nóc nhà hoặc 40 – 50 nóc nhà, có nơi đông hơn có thể đạt 80 – 100 nóc nhà. Bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 51 của người Tày cư trú theo nhóm dân tộc, ít xen kẽ nóc nhà với các dân tộc khác. Ngay người Tày và người Nùng vốn văn hóa gần gũi với nhau cũng chỉ xen kẽ bản, tức là lập bản xen kẽ trong thung lũng chứ ít xen kẽ nóc nhà. Nếu cư trú cùng một bản thì cũng ở thành cụm riêng. Người Tày chọn những nơi bằng phẳng hoặc gò đồi để lập bản và làm nhà, họ đặt tên làng bản của mình theo phong cảnh tự nhiên như: làng Pác Pó, là nơi nguồn nước; làng Đền là nơi có đền thờ Vua Lê, hoặc bản Khau Lừa (đồi thuyền) là một xóm ở ngay sườn quả đồi như con thuyền khổng lồ. Xong tên gọi được người Tày sử dụng nhiều hơn cả là đặt tên làng bản gắn liền với tên Nà hoặc Thuổng (tổng) tức là cánh đồng. Đây là một tên gọi rất phổ biến của người Tày như: Nà Vát, Nà Lương, Nà Cạn,… hay Tổng Lương, Tổng Chúp, Tổng Mử,… nhiều tên làng, tên bản của người Tày gắn bó với cả đời sống của từng người, từng nhà là nơi chôn rau cắt rốn, nơi chung sống của nhiều họ tộc gán liền với sự phát triển của lịch sử. 2.4 Dòng họ Ở trong gia đình, chế độ hôn nhân một vợ một chồng là chủ yếu, tuy nhiên chế độ phụ quyền thể hiện khá rõ nét. Người đàn ông có vai trò chính và có quyền quyết định các vấn đề lớn trong gia đình, dòng họ. Trong quan hệ gia đình, đồng bào vốn có lòng kính già yêu trẻ. Dưới chế độ cũ, người phụ nữ không được đối xử bình đẳng với nam giới, không được hưởng gia tài, không được đi học. Tuy nhiên, họ vẫn được chồng con tôn trọng vì họ giữ vai trò quan trọng trong lao động sản xuất và trong việc quản lý kinh tế của gia đình. Bên cạnh đó, trong đồng bào dân tộc Tày, sự phân công lao động tương đối rõ ràng – đàn ông cày bừa, cuốc đất; phụ nữ cấy, gặt, gieo trồng. Nhìn chung phụ nữ làm nhiều việc hơn nam giới vì họ vừa phải tham gia công việc đồng áng, may vá, kéo sợi, dệt vải, vừa phải đảm đang công việc bếp núc, nuôi con… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 52 Sinh hoạt trong gia đình người Tày Về quan hệ trong gia đình: Đồng bào dân tộc Tày rất mến khách, khách đến nhà bao giờ cũng được tiếp đón chu đáo, khách đến làng tuy không quen biết những cũng được đồng bào chào hỏi thân mật. Tính chất phụ hệ của gia đình người Tày còn thể hiện ở việc phân chia tài sản: Chỉ có con trai mới được quyền thừa kế. Tài sản để phân chia, gồm: ruộng đất, trâu bò, rừng, thóc lúa, tiền bạc, công cụ sản xuất,…Việc phân chia thường được tiến hành khi bố mẹ đã về già, tất cả con cái đã có gia thất riêng. Các bậc cha mẹ trong gia đình người Tày thường ứng xử với các con theo hướng: “Ở con út, chết con cả” nên khi chia gia tài thường để lại một phần (rừng, trâu bò, tiền của) để dưỡng già, số còn lại sẽ chia đều cho các con trai. Sau đó bố mẹ thường ở với con út cho đến lúc già, con út có trách nhiệm chính trong phụng dưỡng cha mẹ vì phần lớn tài sản để dưỡng già của cha mẹ còn lại được giao cho người này quản lý. Khi bị đau ốm bệnh tật, biết không qua khỏi thì bố mẹ sẽ chuyển sang nhà con cả để việc tang lễ được tiến hành tại đây; Song có những trường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 53 hợp bố mẹ vẫn ở với con út cho đến lúc chết. Theo tục của người Tày, khi bố mẹ chết mà con cái chưa trưởng thành người bác ruột và chú ruột có vai trò lớn đối với các cháu. Bác ruột hay chú ruột sẽ thay thế người quá cố đảm nhiệm việc thờ phụng tổ tiên, quản lý tài sản, có trách nhiệm dựng vợ gả chồng, làm nhà cho các cháu. Trong quan hệ gia đình có những quan hệ hết sức nghiêm ngặt, người phụ nữ nhất là con dâu phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo như không được đi ngang qua phía trước bàn thờ trong nhà, không được vào chỗ tiếp khách của nam giới ở gian ngoài, không được cùng ăn cơm, ngồi cùng chiếu với bố chồng, anh chồng, không được đến chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bố, bác, chú và anh chồng. Con dâu luôn phải tỏ sự kính trọng, nghe lời chỉ bảo của bố chồng và anh em họ hàng nhà chồng; không được trực tiếp trao đổi với bố chồng và anh chồng. Nếu muốn bày tỏ điều gì, con dâu phải thông qua chồng hay em trai, em gái chồng hoặc một người khác giới trong nhà chồng. Bố chồng và anh chồng cũng không được vào buồng con dâu, em dâu. Không được trực tiếp đưa các đồ vật cho con dâu, em dâu mà phải đặt vào một chỗ nào đó để con dâu, em dâu đến lấy và ngược lại con dâu, em dâu cũng không được trực tiếp đưa cho bố chồng, anh chồng. Quan hệ giữa mẹ vợ và con rể trong gia đình người Tày cũng nghiêm ngặt tương tự mặc dù trên danh nghĩa con rể được coi như con trai trong nhà. Về dòng họ: Khi một gia đình nào không có con trai thì kén con rể đến ở rể đời. Trong trường hợp này nhà gái thường chủ động trong hôn nhân và chịu các phí tổn cưới xin. Ở Trùng Khánh chàng trai ở rể đời phải đổi sang họ vợ, phải chăm sóc bố mẹ vợ đến khi chết và lo tang ma cho bố mẹ vợ, nhưng sau đó được quyền thừa kế tài sản của nhà vợ. Người Tày cũng có họ nội, họ ngoại và họ bên vợ, trong đó họ nội là quan trọng nhất, vai trß của họ ngoại thể hiện ở vai trò của ông cậu nhưng không đậm nét lắm. Tổ chức dòng họ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 54 của người Tày về hình thức không quy củ và có phần mờ nhạt so với dòng họ của người Việt, nhưng mối liên hệ bền chặt giữa những người cùng dòng máu vẫn được duy trì. Mỗi dòng họ được nhận biết qua hệ thống tên đệm, ngày giỗ tổ là khi con cái bắt đầu vào tuổi trưởng thành cha mẹ và họ hàng phải truyền lại cho biết. Khi còn nhận ra dòng họ với nhau thì trai gái không được phép lấy nhau. Nếu cố tình vi phạm thì sẽ bị coi như là loạn luân và bị phạt rất nặng: phải giết lơn làm lễ tạ tội trước bàn thờ thần linh, buộc phải hủy bỏ việc kết hôn. Tuy tổ chức không chặt chẽ như ở người Việt nhưng dòng họ của người Tày vẫn tồn tại như một sức mạnh tinh thần, tâm lý. Đồng bào rất coi trọng mối quan hệ gia tộc, dòng họ. Có nhiều bản, bao gồm những người cùng dòng họ hoặc có quan hệ với nhau về dòng họ nên người dân trong bản đều là những người bà con họ hàng hoặc thông gai với nhau. Đồng thời giữa các dòng họ trong bản đều sống với nhau thân ái, hòa thuận theo thứ bậc hoặc lứa tuổi. Trong mỗi họ, người trưởng tộc luôn được tôn trọng và thường được đứng ra chủ trì các nghi lễ, ma chay, cưới xin, hòa giải,… Bởi vậy, trong cộng đồng dân tộc Tày có tục nhận họ. Tục ngữ Tày có câu: “lạc mạy tẩn lạc gần rì” ý nói rằng tình cảm của con người rộng và sâu xa, do vậy tục lệ nhận họ hàng rất phổ biến trong người Tày. Trước đây những người cùng mang tên họ thường được kết nghĩa làm anh em coi như một nhà, xuất phát từ quan niệm cho rằng những người cùng họ ngày nay rất có thể có chung một ông tổ từ xa xưa. Nhưng vì hoàn cảnh sinh hoạt, kinh tế, lấy vợ, gả chồng rồi đi làm ăn nơi khác lâu ngày không gặp hoặc không tìm thấy mà trở về nên quên gốc họ, quên góc tổ chung. Nay khi gặp người cùng họ với mình dù ở nơi khác xa xôi, đồng bào vẫn vui mừng có ý muốn làm anh em để có thêm người thân. Tuy vËy, việc tiến hành các thủ tục nhận họ cũng rất thận trọng, không vội vàng, hấp tấp. Người ta tìm hiểu nguồn gốc xem người bạn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 55 thuộc dòng họ nào? Ví dụ: Tày lưu quan hay Tày địa phương khi tìm được nguồn gốc dòng họ người ta rất vui mừng được kết thân với nhau. Nếu cha mẹ và tộc trưởng đồng ý thì lễ nhận họ được tổ chức long trọng ở hai gia đình vào hai ngày khác nhau để đôi bạn có mặt ở từng nhà. Trong buổi lễ có mục báo tổ tiên, những người thân của từng nhà dự lễ công nhận và chứng kiến. Nội dung người ta ôn lại lịch sử gia phả tổ tiên để vun đắp tình thân, gắn bó họ hàng. Và hai người định rõ anh, em thông qua tuổi tác. Khi nhận họ hàng xong, hai bên luôn sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi, hỏi thăm lúc hoạn nạn, có mặt trong các đám cưới, đám tang và cùng dự những ngày giỗ. Lúc vui buồn họ giúp nhau như anh em ruột thịt, con cái cháu chắt về sau đều là con cái của hai họ. Đây là tập tục truyền thống đoàn kết có ý nghĩa sâu sắc và tót đẹp trong nếp thuần phong mỹ tục của người Tày ở Trùng Khánh từ xa xưa còn lưu truyền đến tận ngày nay. Trong quan hệ với các dân tộc anh em, đồng bào có tập quán kết nghĩa anh em gọi là “Lạo Tồng”, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt. Bạn tồng có trí khí hợp nhau, có tuổi tác gần nhau, cùng cảnh ngộ (cùng là con một, con nhà nghèo, con mồ côi, cùng xa quê hương,…) thì hai bên cùng kết bạn đồng canh với nhau, tục địa phương gọi là “Lạo Tồng”, kết tồng cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng, một người chỉ được phép kết 2 bạn tồng, còn lại để giao lưu như bạn thân. Sau khi được cha mẹ hai bên đồng ý, lễ kết tồng được chính thức tổ chức ở từng gia đình của đôi bạn tồng có sự công nhận của ông bà, cha mẹ, anh em và những người thân của từng gia đình. Sau lễ kết tồng có tiệc rượu thịnh soạn ăn mừng. Phàm có lễ tết thì họ qua lại thăm hỏi nhau, khi có việc tang thì họ sắm sửa lễ vật rất hậu và nhờ vài người con trai và con gái mang tới nhà có tang mà lạy tế. Nếu có việc cưới xin báo tới, cũng phải tới mừng hoặc tiền, hoặc lợn, rượu, gạo,…không có mức nhất định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 56 Con cái đôi bạn tồng tùy lứa tuổi mà định hàng anh em, coi nhau thân thiết như anh em một nhà. Sau này đến nhiều đời cháu chắt nối tiếp mối quan hệ bạn tồng thân thiết của hai nhà vẫn giữ mãi mãi tình đồng khóa gắn bó mật thiết lâu dài. Nếu so với tục nhận họ, thì phạm vi kết tồng rộng hơn ở chỗ không phân biệt các thành phần dân tộc, như: người Tày có thể kết tồng với Nùng, người H’Mông, người Hoa, người Kinh,… và ngược lại. Kết tồng là một hình thức giao du và học hỏi lẫn nhau giữa các địa phương trong và ngoài huyện. 2.5 Luật tục của làng bản: Ruộng nương đã gieo cấy, trong thời vụ không ai được thả trâu, ngựa rông. Nếu thả rông ăn hại của người khác thì phải đền. Cây trồng, hoa màu, cây quả không được lấy trộm của nhau, nếu cần phải xin nếu không là ăn cắp Không được chặt phá cây ở rừng cấm. Không được chặt khu rừng ở đầu nguồn nước làm nương rẫy. Không ai được phá rừng ở nơi có rừng Vầu, rừng Nứa. Rừng Vầu, rừng Nứa của ai thì họ ấy, nhà ấy dùng, nếu phất lẫn của nhau thì phạm vào tội lấy trộm. Khi đi săn bắn thấy đúng muông thú hoang mới được bắn Ai nhặt được của rơi thì mang về nộp cho người giữ miếu thổ địa, của ai người đó sẽ đến nhận. Người già thì phải chết, khi còn sống người đó đã đổi công giúp đỡ được nhiều người, khi họ ngã xuống phải nhớ ơn họ, phải giúp đỡ gia đình làm ma chay cho họ chu đáo. Hôm đưa đám cả làng phải nghỉ làm việc đồng áng, đi rừng để biểu thị lòng nhớ nhung họ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 57 Khi có dã thú hay trộm cướp vào làng, nghe thấy tiếng tù và hay hồi mõ thì người dân trong cả làng phải có mặt để góp sức xua đuổi. Những điều quy định này được thảo luận, thông qua vào dịp cúng thổ địa tại miếu thờ thổ địa. Người ta cho rằng những lời quy định này được thần linh “chứng kiến”, ai làm sai có nghĩa là làm phật ý thần linh. Trước cách mạng tháng Tám, luật tục được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần củng cố mối quan hệ làng bản êm ấm,đoàn kết, an ninh trật tự của làng bản người Tày được giữ vững. 2.6 Tổ chức dân dã Trong các bản của người Tày ở Trùng Khánh từ lâu đã tồn tại các tổ chức mang tính chất dân gian như: hương ước, hữu ước … ít nhiều chi phối đời sống của cư dân nơi đây. Mục đích của các hội trên là giúp đỡ lẫn nhau trong việc hiếu hỷ, tuy nhiên mỗi tổ chức đều có những nét riêng. Trong các bản “Hương ước” đã có từ lâu đời, hình thức tổ chức kết nạp từ 50-70 người hoặc trên 100 người tục gọi là “Bản hương” hoặc “Bản Slườn” có trùm trưởng đứng đầu. “Hương ước” chỉ giúp nhau trong việc tang ma. Khi có việc trùm trưởng có trách nhiệm báo cho các hội viên hẹn đem tới giúp tranh tre, gõ nứa, cui đuốc và giúp gia chủ dựng nhà tế, làm lều cỏ tục gọi là “Táng lầu” yêu cầu làm cho hoàn tất. Cũng có khi giúp cho chủ nhà sửa soạn cúng tế, mổ thịt lợn, đến ngày đưa đám thì người trong “Bản Slườn” chuẩn bị khăn trắng lần lượt đến tế quan tài để vái lạy, gọi là “Bái quan”. Sau đó giúp khiêng quan tài đi chôn, phải hoàn tất công việc cho gia chủ (lệ này chỉ dùng cho cha mẹ gia chủ, còn đối với cha mẹ vợ thì mỗi người giúp 2 hào hoặc một ống gạo và khiêng linh cữu minh tinh mà thôi). Tổ chức “Hữu ước” cũng khá phổ biến ở dân tộc Tày, kết nạp 20-30 người tục gọi là “Họ bạn” cũng có điều lệ: phàm việc tang, việc hỷ báo tới thì hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 58 trưởng đem các hội viên tới giúp rượu, gạo mỗi người 10 lần và các thứ để làm cỗ đồng thời làm giúp công việc (cũng có khi giúp tiền từ 2 - 4 hào tùy giao ước). Đồng bào dân tộc Tày ở Trùng Khánh luôn ý thức rõ về các tổ chức “Hương ước” và “Hữu ước” trong hội bảo trợ, ở đây không chỉ đem lại cho họ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ mà còn là chỗ dựa quan trọng về tinh thần và kinh tế mỗi khi có tang ma hay hiếu hỷ … Tuy nhiên, cũng bởi những quy ước ràng buộc mà việc tang ma để lại lâu ngày phần lớn cũng do những giao ước đó ràng buộc. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận được các mặt tích cực của các tổ chức bảo trợ nó làm cho tính cấu kết cộng đồng ngày càng được tăng cường và phát triển. 2.7 Một số yếu tố văn hoá vật chất và tinh thần tiêu biểu 2.7.1 Nhà sàn là loại hình nhà ở truyền thống lâu đời Nhà sàn người Tày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 59 Do nằm trong hệ sinh thái của rừng mưa nhiệt đới, độ ẩm cao, mưa nhiều, côn trùng, thú dữ lắm, do vậy các đồng bào dân tộc thiểu số nước ta chủ yếu là ở nhà sàn. Cho đến nay ở nhiều làng bản cước ta ngôi nhà sàn vẫn hiện diện ở nhiều nơi như là một đặc trưng bền vững của văn hóa phương Nam. Ở Đông Bắc nước ta ngôi nhà sàn của người Tày là một thành tố văn hóa tiêu biểu. Chính những ngôi nhà sàn của người Tày đã góp phần lên không gian văn hóa Đông Bắc mà du khách ai cũng đã một lần nghe qua đều để lại ấn tượng mạnh. Mỗi lần làm nhà một lần tốn kém của cải, công sức, do đó người ta phải xem thật ký ngày, tháng, năm, tuổi của chủ nhà để chọn ngày sao cho phù hợp theo quan niệm của đồng bào nhằm tránh nhứng điều rủi ro. Trong lúc làm nhà, ngoài ngày, giờ tốt để khởi công, ngươi ta còn chú trọng việc xem hướng, thế đất làm nhà. Đồng bào có câu: “Đảy kin nhằm mồ mả, thoong thả nhằm tì slườn” (làm ăn được nhờ mồ mả, thư nhàn được nhờ nền nhà). Nhà sàn truyền thống chủ yếu được làm bằng gỗ nghiến, có chiều sâu từ 5 đến 7 hàng cột “kiểu 7 hàng cột là kiểu vì hoàn thiện mẫu mực”, khoảng cách giữa các cột từ 2 - 2,5m, chiều cao của nhà thường từ 7 - 8m với 3 gian chính. Phần dưới nhà là hệ thống xà ngang sỏ qua lỗ đục của cột. Mỗi xà nhà cách nhau 20cm rất vững trãi. Làm được 1 ngôi nhà sàn tốn rất nhiều gỗ, với những hàng cột cao bằng các lõi gỗ quý, với những thanh xà, kèo bằng gỗ xẻ dài hàng trục mét cũng bằng lõi các thứ gỗ đó. Vì vậy, đối với mỗi gia đình việc quan trọng bậc nhất trong đời người là kiếm đủ vật liệu dựng nhà và lợp mái để che nắng, che mưa. Nhà sàn còn được lợp bằng ngói máng hay còn gọi là ngói “âm dương” có ưu điểm là dễ lợp, dễ sửa chữa và ngói được sản xuất ngay tại địa phương nên không mất công vận chuyển. Ngôi nhà sàn là một không gian cho “cộng đồng nhà” với chức năng là tế bào của xã hội. Trong một ngôi nhà có thể sinh sống một gia đình nhỏ, gồm một cặp vợ chồng và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 60 những đứa con, hoặc một gia đình lớn gồm nhiều thế hệ (4-5 thế hệ) hoặc cùng một thế hệ anh em trai đã có vợ con nhưng vẫn ở chung. Trong không gian này, người ta chứng kiến những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của mỗi thành viên; những chuyện buồn, chuyện vui của gia đình, ngôi nhà còn là nơi trú ngụ của các linh hồn của mỗi con người, các linh hồn đó hội tụ lại trong linh hồn chủ nhà và được biểu hiện cụ thể ở cây “cột chủ áo”. Đây là 1 trong 2 cây cột quan trọng (cùng với cột bếp) được dựng đầu trên. Hơn nữa, không gian của ngôi nhà sàn người Tày còn bao hàm ý niệm là nơi tụ họp của cộng đồng những người thuộc dòng họ cho nên mới có khái niệm “nhà tâng”, “nhà cúng”. Ngày nay ở Trùng Khánh ngôi nhà sàn vẫn còn phổ biến và bảo tồn được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc Tày. Với những nét riêng đặc trưng của ngôi nhà của người Tày khác với ngôi nhà sàn của người Thái. Tuy cùng là cư dân sinh tụ vùng thung lũng về cơ bản kiến trúc nhà sàn của người Thái giống với người Tày, nhưng có điểm khác là nhà sàn của người Thái thì có trát vách và đầu vách có trang trí đôi “Khau cút” (rừng cụt). Đó là những thanh gỗ hoặc thân tre buộc bắt chéo mà nhiều người cho là biểu tượng của đôi sừng trâu. Hay với người H’Mông là những cư dân vùng núi cao họ chủ yếu ở nhà đất, cột ngoãm, có hàng cột chống nóc, mái lợ cỏ tranh, lá cây “cáp tao” phên vách bằng nứa đan. Đó là kiểu nhà tạm bợ vẫn thường thấy ở các dân tộc cu canh du cư. Nhà rộng khoảng 2 – 3 gian, diện tích khoảng 40 – 60m2 tùy theo số người ở trong nhà. Ngoài nhà ở, người H’Mông còn có chuồng gia súc và nều ở nương rẫy. Làm nhà là một công việc quan trọng trong đời sống của đồng bào Tày. Đồng bào hết sức chú ý đến việc chọn đất. Trong việc chọn đất trước tiên phải chú ý đến những điều kiện thuận tiện cho việc làm ăn sinh sống, như: gần ruộng, nương, suối nước, bãi cỏ rừng cây… chọn đất xong phải chọn hướng làm nhà. Hướng không nhất thiết phải trông về hướng Đông, về Tây hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 61 Nam, Bắc mà phải căn cứ vào địa hình, địa vật, phải làm sao cho có một hướng nhà “tốt”, kín đáo, tránh những núi non, sông ngòi, bụi cây hình thù quái gở “nhòm ngó” vào nhà. Một mỏm núi hình mũi thương đâm thẳng vào nhà là một hiện tượng rất độc, có thể gây nạn tử vong. Một bụi cây hình con cáo nhòm vào nhà sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc chăn nuôi gia cầm. Một ngọn suối không kín đáo chảy tổng hống ra ngoài là một hiện tượng “tán tài” hay mất của cải. Có thể chọn một chỗ đất nào chưa vừa ý lắmvì vẫn có chỗ sơ hở người ta có thể khắc phục bằng cách đánh một con chó đá để “yểm nền nhà” hoặc trồng một bụi tre để che khuất hướng độc đi. Đây chỉ là một quan điểm duy tâm của môn địa lý thần bí. Những về mặt thực tiễn, rõ ràng đồng bào Tày đã chọn được những địa điểm xây dựng nhà cửa vừa cao ráo, vừa kín đáo, vừa đẹp đẽ, vừa thuận tiện cho việc làm ăn sinh sống. Sau khi nguyên vật liệu đã được chuẩn bị đầy đủ, hàng xóm kéo đến, làm giúp trong mọt thời gian ngắn là xong. Đồng bào Tày ở Trùng Khánh có tập quán tương trợ lẫn nhau trong việc làm nhà. Một khi xây dựng nhà cửa, hàng xóm mỗi người góp một phần nguyên vật liệu như cỏ tranh, lá cọ, gạch mộc, ngói, cho chủ nhà sau đó đến lượt mình làm nhà thì số nguyên vật liệu ấy lại được hoàn lại. Có bản việc tổ chức tương trợ được tốt, hàng loạt nhà mới có thể được làm xong trong thời gian ngắn sau vụ gặt mùa để chuẩn bị ăn tết nguyên đán. Việc hoàn thành nhà mới kết thúc bằng một bữa ăn mừng nhà mới. Chủ nhà mở tiệc khoản đãi bà con hàng xóm đến làm giúp và bàn bè thân thuộc đem câu đối, quà cáp đến chúc mừng. Ngày ăn mừng nhà mới cũng là ngày làm lễ dọn về nhà mới. Trước hết người ta mang vào nhà những một số vật tượng trưng, như: lọ dấm, mẻ, chiếc bình vôi, cái giá trên gác bếp mà gia đình nào cũng cần phải có. Người ta chất một đống củi ở giữa nhà và mời 4 ông già có tư cách đạo đức tốt, sản xuất giỏi, đông con cái, mỗi người cầm một bó đuốc đi từ 4 góc nhà vào châm lửa đống củi, đồng thời cùng hô “mắn pật phja na pật đán”, nghĩa là (vững như núi đá dày như bàn thạch). Người ta cố giữ cho bếp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 62 lửa cháy trong 3 ngày không tắt để không khí ấm cúng trong nhà, và thực tế hơn nữa để cho nguyên vật liệu xây dựng ngôi nhà mới được chóng khô ráo. Nhưng ý nghĩa chính vẫn là để cho người nhà làm ăn được dễ dàng, mát mặt. Như vậy, hướng nhà nhà ở của các bản quay ra cánh đồng, sông suối và dựa lưng vào núi. Người Tày làm nhà sàn 4 mái, lợp cỏ tranh hoặc lá cọ, một số bản lợp bằng ngói máng. Xung quanh nhà được thưng ván hoặc liếp che; Sàn nhà dát mai hoặc dát ván. Ở giữa nhà có một cái bếp sinh hoạt và ở góc nhà có một cái bếp lò để nấu cám lợn. Phía trong cùng của ngôi nhà chính là nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Các gian bên cạnh bàn thờ là buồng ngủ của chủ nhà, vợ chồng người con trai cả, các gian còn lại là buồng ngủ của con gái, nhưng buồng ngủ của con gái phải đặt xa ngoài phòng khách. Gian trái ngoài cùng là nơi để các ống nước và các đồ dùng, như: cuốc, thuổng, dao, liềm, giầy dép, mũ nón,…Một bên thông với sàn phơi và một bên thông với cầu thang lên xuống. Nhà ở của họ thường làm cao ráo để nhốt trâu, bò, lợn, gà. Ngày xưa đồng bào thường làm nhà bằng các loại gỗ tròn, nay họ đã biết xẻ cột vuông , đục mộng ở cột kèo. Việc chọn gỗ làm nhà nhất là làm cột, kèo và xà nhà rất được chú trọng. Tóm lại những ngôi nhà của người Tày ở Trùng Khánh – Cao Bằng được xây cất tựa lưng vào núi, quay mặt ra cánh đồng, chạy dọc theo các thung lũng ở men theo các sườn đồi, núi. trước kia nhà được làm bằng nguyên liệu sẵn có, gồm một khối lượng lớn gỗ tre, nứa và lá lợp (chủ yếu là cỏ tranh). Bây giờ cũng là những ngôi nhà sàn nhưng đã làm theo kỹ thuật của người Kinh và rất nhiều mái nhà đã được lợp bằng ngói đỏ. “Ăn cơm nếp, ở nhà sàn” cùng với “chó trèo thang, trâu ngõ mõ” là những nét riêng làm nên các đặc trưng văn hóa của cư dân vùng thung lũng mà người Tày là một đại diện tiêu biểu. Tuy nhiên, do việc tìm kiếm gỗ lạt ngày càng trở lên khó khăn, do quan hệ giao lưu ngày càng mở rộng nhiều gia đình người Tày đã chuyển sang ở nhà đất. Trong tình hình đó, cái vỏ văn hóa của nhà cửa đã thay đổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 63 nhưng các tập quán kiêng kị, các nghi thức thờ cúng vẫn được duy trì theo truyền thống của tộc người. Trước đây vùng biên giới thường xảy ra nạn trộm cướp, giặc giã, để phòng thủ chống trộm cướp, bản người Tày thường được rào tre làm thành “khuyên” bố trí đường đi trong bản ngóc ngách, có cổng làng. Đặc biệt, huyện Trùng Khánh là một huyện vùng miền núi đã xây dựng được những kiểu làng phòng thủ, nhà pháo đài truyền thống. Làng phòng thủ, nhà pháo đài là một đặc trưng văn hóa điển hình của cư dân Tày ở khu vực biên giới thuộc huyện Trùng Khánh. Để thích ứng với môi trường cư trú này, bảo vệ được cuộc sống, sản xuất và những thành quả lao động của mình, người Tày ở đây đã sáng tạo ra cấu trúc làng bản này. Tính phòng thủ được thể hiện ở chỗ làng bản được bao bọc bằng hàng rào tre gai dày đặc, hàng rào đó gọi là “khuyên” rất kiên cố. tính phòng thủ còn được thể hiện ở việc tạo dựng làng bản dựa vào địa thế, sườn núi, việc bố trí nhà cửa, các ngõ ngách của đường đi lối lại trong làng nhằm tự vệ một cách có hiệu quả nhất. “Khuyên” có 2 loại: loại thứ nhất là “khuyên” có hàng rào tre trồng dầy đặc phía bên ngoài, cọc vót nhọn, trong bản có các lô cốt xây dựng ở các góc bản; Thứ 2 là loại “khuyên” bằng đá – là loại kiến trúc khá độc đáo, có hiệu quả trong việc phòng thủ chống trộm cướp xung quanh bản làm hàng rào xếp bằng đá tảng thành hình tròn, cao từ 4 – 5m dày tới 3m. Thành chỉ có cổng ra vào ở mặt Nam, cổng thành có 3 lớp: lớp ngoài bằng một tấm tre gai, lớp thứ 2 bằng chấn song, lớp thứ 3 bằng cửa ván. Hai bên có hai lô cốt có lỗ châu mai để có thể bắn yểm hộ cho nhau. Kiểu nhà pháo đài là một công trình x

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdocument_11305774139.pdf
Tài liệu liên quan