Luận văn Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn (Móng Cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn

Tài liệu Luận văn Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn (Móng Cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn: ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ---------------------------- NGUYỄN ANH HÙNG Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã bắc sơn (móng cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn Chuyờn ngành: Sinh thỏi học Mó số: 60-42-60 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung Thỏi Nguyờn - 2008 Cụng trỡnh được hoàn thành tại: Bộ mụn Sinh thỏi học - Khoa Sinh - KTNN Trường đại học Sư phạm - Đại học Thỏi Nguyờn Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung Phản biện 1: Phản biện 2: Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn họp tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thỏi Nguyờn Vào hồi giờ phỳt, ngày thỏng năm 2008 Cú thể tỡm hiểu luận văn tại: Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thỏi Nguyờn và Trung tõm học liệu - Đại học Thỏi Nguyờn DANH MỤC CễNG TRèNH ĐÃ CễNG BỐ 1. Hoàng Chung, Nguyễn Anh Hựng (2008), Tiềm năng thức ăn chăn nuụi đại gia sỳc của xó Bắc Sơn (Múng Cỏi) và đề xuất...

pdf128 trang | Chia sẻ: hunglv | Ngày: 29/05/2014 | Lượt xem: 863 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn (Móng Cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ---------------------------- NGUYỄN ANH HÙNG §iÒu tra tiÒm n¨ng thøc ¨n cho ch¨n nu«i ®¹i gia sóc cña x· b¾c s¬n (mãng c¸i) vµ ®Ò xuÊt m« h×nh khai th¸c nguån thøc ¨n Chuyên ngành: Sinh thái học Mã số: 60-42-60 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung Thái Nguyên - 2008 Công trình được hoàn thành tại: Bộ môn Sinh thái học - Khoa Sinh - KTNN Trường đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung Phản biện 1: Phản biện 2: Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn họp tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2008 Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 1. Hoàng Chung, Nguyễn Anh Hùng (2008), Tiềm năng thức ăn chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn (Móng Cái) và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi, số 8, Hà Nội. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong lụân văn là trung thực và chưa có ai công bố. Tác giả Nguyễn Anh Hùng LỜI CẢM ƠN Bằng tấm lòng thành kính, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng tới: - Thày giáo PGS - TS Hoàng Chung đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này. - Ban chủ nghiệm khoa Sinh – KTNN, thày giáo TS Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên khoa Sinh - KTNN trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; cán bộ, nhân viên phòng thí nghiệm Trung tâm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học. - Ban lãnh đạo khoa khoa Khoa học Tự nhiên & Xã hội - Đại học Thái Nguyên, các phòng ban chức năng và bè bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên trong quá trình tôi học tập và nghiên cứu khoa học - Các vị lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân xã Bắc Sơn - Móng Cái - Quảng Ninh, Trung đoàn 42, phòng Thống kê và trạm Khí tượng thị xã Móng Cái đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 09 năm 2008 Tác giả Nguyễn Anh Hùng DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VCK: Vật chất khô NC: Nghiên cứu DS: Dạng sống GTCT: Giá trị chăn thả To: Giá trị chăn thả tốt TB: Giá trị chăn thả trung bình Ke: Giá trị chăn thả kém Ho: Không có giá trị chăn thả ĐVTĂ: Đơn vị thức ăn UBND: Uỷ ban nhân dân Nxb: Nhà xuất bản DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1.1. Sản lượng VCK và chất lượng những loại cỏ trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt 32 Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu khí hậu của thị xã Móng Cái năm 2007 41 Bảng 4.1. Tiêu chuẩn dùng để phân loại các tiểu vùng sinh thái 48 Bảng 4.2. Thành phần loài trong các thảm cỏ bãi soi hoang hóa 52 Bảng 4.3. Những dạng sống chính của thực vật trong các soi bãi 59 Bảng 4.4. Năng suất thảm cỏ trong các bãi đất hoang hoá 62 Bảng 4.5. Thành phần loài ở các điểm nghiên cứu trong thảm cỏ tự nhiên 63 Bảng 4.6. Những dạng sống chính của thực vật trong các đồi cỏ tự nhiên 70 Bảng 4.7. Năng suất thảm cỏ mọc trong các đồi cỏ tự nhiên 73 Bảng 4.8. Thành phần loài ở các điểm nghiên cứu trong thảm cỏ dưới tán rừng 74 Bảng 4.9. Dạng sống chính của thực vật trong các thảm cỏ dưới tán rừng 82 Bảng 4.10. Năng suất thảm cỏ mọc dưới rừng trồng 84 Bảng 4.11. Kết quả điều tra tình hình kinh tế gia đình tại xã Bắc Sơn 86 Bảng 4.12. Thống kê hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Bắc Sơn 87 DANH MỤC BẢN ĐỒ Trang Hình 2.1. Bản đồ hành chính xã Bắc Sơn 39 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC Trang Mục lục 1 MỞ ĐẦU 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7 1.1. Khái niệm về phân vùng, các dạng phân vùng 7 1.1.1. Khái niệm vùng (Region) 7 1.1.2. Khái niệm phân vùng (Regionalisation) 7 1.2. Phân vùng địa vật lý 8 1.3. Phân vùng khí hậu 9 1.3.1. Vấn đề phân vùng khí hậu trên thế giới 9 1.3.2. Vấn đề phân vùng khí hậu ở Việt Nam 11 1.4. Phân vùng thổ nhưỡng 12 1.4.1. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhưỡng trên thế giới 13 1.4.2. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhưỡng ở Việt Nam 13 1.5. Phân vùng sinh thái thảm thực vật 15 1.5.1. Những nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật trên thế giới 15 1.5.2. Những nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật ở Việt Nam 18 1.6. Phân vùng kinh tế nông nghiệp 19 1.6.1. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp trên thế giới 20 1.6.2. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam 21 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.7. Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống và năng suất 24 1.7.1. Những nghiên cứu về thành phần loài 24 1.7.2. Những nghiên cứu về dạng sống 26 1.7.3. Năng suất đồng cỏ 26 1.8. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 27 1.8.1. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả 27 1.8.2. Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam 29 1.9. Những nghiên cứu về đồng cỏ trồng và cây thức ăn gia súc 30 1.9.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới 30 1.9.1.1. Tình hình phát triển 30 1.9.1.2. Những kết quả nghiên cứu 32 1.9.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 33 1.9.2.1. Tình hình phát triển 33 1.9.2.2. Những kết quả nghiên cứu 34 CHƢƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 37 2.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của thị xã Móng Cái 37 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 37 2.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình 37 2.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn 37 2.1.1.3. Các nguồn tài nguyên 37 2.1.1.4. Thực trạng môi trường 38 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2.1.2. Tình hình xã hội Thị xã Móng Cái 38 2.2. Điều kiện tự nhiên và xã hội xã Bắc Sơn 39 2.2.1. Điều kiện tự nhiên 39 2.2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình 39 2.2.1.2. Khí hậu thuỷ văn 40 2.2.1.3. Đất đai 41 2.2.1.4. Thảm thực vật 42 2.2.2. Điều kiện xã hội 42 CHƢƠNG III: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 44 3.2. Phương pháp nghiên cứu 44 3.2.1. Điều tra cơ bản vùng nghiên cứu qua số liệu thứ cấp tại địa phương 44 3.2.2. Điều tra ngoài thực địa 44 3.2.3. Trong phòng thí nghiệm 44 3.2.3.1 Đối với mẫu thực vật 44 3.2.3.2. Đối với mẫu đất 45 CHƢƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47 4.1. Xây dựng bảng phân loại các tiểu vùng sinh thái 47 4.1.1. Nguyên tắc và căn cứ để phân chia các tiểu vùng sinh thái 47 4.1.2. Kết quả phân loại các tiểu vùng sinh thái 49 4.2. Mức độ khai thác hiện nay của các tiểu vùng 50 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4.3. Thực trạng về các tiểu vùng đang khai thác làm bãi chăn thả gia súc 51 4.3.1. Thảm cỏ trong các bãi đất hoang hoá 51 4.3.1.1. Thành phần loài 51 4.3.1.2. Thành phần dạng sống 58 4.3.1.3. Năng suất cỏ trong các điểm nghiên cứu 61 4.3.2. Thảm cỏ trong đồi cỏ tự nhiên 62 4.3.2. 1. Thành phần loài 63 4.3.2.2. Thành phần dạng sống 70 4.3.2.3. Năng suất cỏ trong các đồi cỏ tự nhiên 73 4.3.3. Thảm cỏ dưới tán rừng 74 4.3.3.1. Thành phần loài 74 4.3.3.2. Thành phần dạng sống 81 4.3.3.3. Năng suất các thảm cỏ dưới tán rừng 84 4.4. Thực trạng lao động và mức sống hiện nay của người dân xã Bắc Sơn 85 4.5. Phương hướng sử dụng các tiểu vùng 87 4.6. Mô hình khai thác thức ăn 89 4.6.1. Đánh giá một số tình hình chăn nuôi hiện nay 89 4.6.2. Đề xuất mô hình khai thác thức ăn 90 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 93 1. Kết luận 93 2. Đề nghị 93 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC 101 MỞ ĐẦU Tại hội nghị "Đẩy mạnh sản xuất, chế biến bảo quản thức ăn thô xanh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ" do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007 tại Ba Vì (Hà Tây); Theo Cục chăn nuôi, hiện nay, tổng đàn gia súc ăn cỏ của cả nước lên tới trên 11,5 triệu con. Tuy nhiên, diện tích trồng cỏ của cả nước mới đạt trên 45.000 ha, chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện tích đất chưa sử dụng và chưa mạnh dạn chuyển đổi một phần đất nông nghiệp sang trồng cỏ thâm canh. Nông dân chưa có tập quán xây dựng vùng nguyên liệu thức ăn cho gia súc, chủ yếu dựa vào bãi chăn thả tự nhiên và thức ăn tận dụng. Bên cạnh đó, các địa phương cũng chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ chuyển đổi diện tích đất trồng trọt sang trồng cỏ và thức ăn xanh. Tình trạng thiếu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho rằng, ngành chăn nuôi nước ta vẫn phát triển chậm so với nhu 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cầu. Có nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố dịch bệnh, việc thức ăn chăn nuôi tăng giá với mức 20-30% là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của ngành. Hiện nay, thị trường thức ăn chăn nuôi của nước ta phụ thuộc lớn vào thị trường thế giới, trong khi đó hiện giá dầu mỏ tăng cao, một số quốc gia đã chuyển hướng dùng ngô để chế biến Ethanol. Vì vậy, sản lượng ngô chế biến thức ăn chăn nuôi sụt giảm, dẫn đến giá thành tăng cao. Dự báo xu hướng này vẫn còn tiếp diễn và có thể ở quy mô cao hơn. Do đó, ngành chăn nuôi tiếp tục phải đối mặt với vấn đề giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao. Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, giải quyết tình trạng này, ngành chăn nuôi phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, trong đó đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ được coi là hướng chính. Chủ trương phát triển sản xuất thức ăn thô xanh là chủ trương mới và rất quan trọng của ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay. Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ, cỏ phải được coi là cây trồng chính, phải là hàng hóa, trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh và xuất hiện được nghề trồng cỏ, buôn bán cỏ và sản phẩm cỏ chế biến như: đóng bánh, ủ chua… Với định hướng quy hoạch sản xuất thức ăn thô xanh phù hợp với điều kiện từng vùng, đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn thô xanh để phát triển chăn nuôi trong cả nước, đồng thời xuất khẩu sản phẩm thức ăn thô xanh trong khu vực và tiếp cận thị trường quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra mục tiêu đưa diện tích trồng cỏ lên 290.000 ha vào năm 2010 và 500.000 ha vào năm 2020. Bộ cũng yêu cầu các địa phương xây dựng quy hoạch phát triển đồng cỏ, đồng thời có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích nông dân phát triển trồng cỏ phục vụ chăn nuôi. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trên đây là những đánh giá, nhìn nhận và giải quyết vấn đề phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở góc độ vĩ mô, còn tại các địa phương, cơ sở thì vấn đề này được thực hiện ra sao? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Điều tra tiềm năng thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn - Móng Cái và đề xuất mô hình khai thác nguồn thức ăn. Qua điều tra chúng tôi nhận thấy, Bắc Sơn là xã miền núi của thị xã Móng Cái, đất đai rộng nhưng chủ yếu là đồi cỏ, đồi sim, mua và guột. Đất nông nghiệp rất ít, thuộc loại đất trung bình, xấu và rất xấu, năng suất cây trồng thấp. Các đồi cỏ xã Bắc Sơn có nguồn gốc thứ sinh, do khai thác rừng không hợp lý, do đốt phá rừng mà thành, gồm nhiều đồi liền dải, tiếp giáp với chúng là khu rừng còn lại đang được bảo vệ. Trong các đồi cỏ có nhiều nhóm thực vật có giá trị kinh tế như hoà thảo, họ đậu, cây họ cói... thực vật ở đây được sử dụng chủ yếu cho chăn nuôi gia súc tự do. Những năm gần đây các cấp lãnh đạo địa phương và đơn vị quân đội đóng trên địa bàn đã xây dựng kế hoạch phát triển chăn nuôi để khai thác thảm cỏ tự nhiên và nâng cao đời sống cho người dân địa phương, nhưng kết quả đem lại còn rất hạn chế. Mục đích đề tài nhằm phân chia các tiểu vùng sinh thái, đánh giá mức độ khai thác của các tiểu vùng xã Bắc Sơn, qua đó đề xuất phương hướng sử dụng hợp lý các tiểu vùng để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương đồng thời tránh được những suy thoái về môi trường. CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Khái niệm về phân vùng, các dạng phân vùng 1.1.1. Khái niệm vùng (Region) 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên “Vùng” thường được dùng để chỉ một lãnh thổ có phổ biến một hiện tượng nào đó về mặt không gian được đặc trưng bởi sự thống nhất về các đặc điểm khác nhau. Lãnh thổ đất nước được chia thành những vùng khí hậu, thổ nhưỡng, các vùng kinh tế lớn và nhỏ, các vùng cải tạo đất, các vùng hoang mạc, rừng... [26, tr.5]. Theo Lê Bá Thảo “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài” [39, tr.281]. Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ cụ thể có chung nguồn gốc phát sinh và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất) và trên đó phát triển một phức hợp sinh quần lạc điển hình. Vùng sinh thái bao gồm một tập hợp có quy luật các đơn vị sinh thái cảnh quan cấu trúc (đơn vị cấp thấp). Mỗi vùng sinh thái có những chức năng xã hội (chức năng kinh tế) nhất định, trước hết chúng phải phù hợp với điều kiện và tài nguyên tự nhiên của chính vùng đó. Tại đây có những hình thức khai thác, sử dụng và cải tạo thiên nhiên tương đối giống nhau của cộng đồng con người [40, tr.9] . Tóm lại, vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lý, kỹ thuật, kinh tế, xã hội bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống. Vùng có quy mô rất khác nhau. Song dù quy mô vùng thế nào, lớn hay nhỏ đều có điểm chung, đó là một lãnh thổ có ranh giới nhất định, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên - môi trường và con người. 1.1.2. Khái niệm phân vùng (Regionalisation) * Sự phân vùng: Là phân chia lãnh thổ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độ đồng nhất bên trong của nó. Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên rộng hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng. Thời kỳ đầu nghiên cứu lãnh thổ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động. Thường gồm các loại phân vùng như: Phân vùng biển, phân vùng đất (phân vùng thổ nhưỡng), phân vùng khí hậu, phân vùng cảnh quan... Sau này phân vùng đi vào chi tiết hơn như phân vùng địa vật lý, phân vùng sinh thái, phân vùng các kiểu thảm thực vật, phân vùng kinh tế, phân chia các tiểu vùng trong một vùng lớn hay một đơn vị hành chính, tự nhiên nào đó... * Nguyên tắc phân vùng: Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tắc: - Về tính đồng nhất tương đối, thường được áp dụng để phân định các vùng-cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hoá lịch sử. - Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết của vùng được thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất là của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi như cực tạo vùng. - Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ [39, tr.282]. Trong phần tổng quan chúng tôi chỉ đề cập đến một số dạng phân vùng như: Phân vùng địa vật lý, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu, phân vùng sinh thái thảm thực vật, phân vùng kinh tế nông nghiệp. 1.2. Phân vùng địa vật lý Đới địa vật lý là sự phân chia các đai lớn vỏ trái đất theo chế độ nhiệt và độ ẩm, đặc biệt là theo sự chuyển động lớn có tính chu kỳ của không khí và dòng hải lưu; đồng thời bởi các quá trình của địa mạo và sinh địa hoá, bởi các thành 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên phần thảm thực vật và thế giới động vật. Người ta chia ra: Đai xích đạo, đai Bắc và Nam xích đạo, đai nhiệt đới, đai á nhiệt đới, đai ôn đới, đai á hàn đới, đai Bắc cực và đai Nam cực. Trong giới hạn của đai các yếu tố khí hậu có biến động ít nhiều, điều này cho phép phân chia các vùng trong từng đai và vùng phụ. Theo độ cao của địa hình người ta còn chia ra các đai tương ứng. Phân vùng địa vật lý đó là hệ thống phân chia bề mặt trái đất, cơ sở để phân chia và nghiên cứu là tổ hợp các dấu hiệu bên trong và rất đặc trưng cho riêng nó- thiên nhiên. Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng (như địa hình, khí hậu, đất...) hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố (phân vùng cảnh quan). Lê Bá Thảo (1970), dựa trên chỉ tiêu địa mạo - kiến tạo, ông đã phân vùng miền Bắc Việt Nam thành 6 miền thuộc á đới Bắc đó là: Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên [37]. Vũ Tự Lập (1976), khi nghiên cứu phân vùng cảnh quan miền Bắc ông đã phân chia thành 2 miền: Miền Bắc và Đông Bắc, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Miền Bắc và Đông Bắc lại phân chia thành 3 khu: Khu Việt Bắc, khu Đông Bắc và khu đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ phân chia thành 5 khu: Khu Tây Bắc, khu Phanxipăng - Puluong, khu Hoà Bình - Thanh Hoá, khu Quảng Bình - Vĩnh Linh, khu Nghệ Tĩnh [27]. 1.3. Phân vùng khí hậu 1.3.1. Vấn đề phân vùng khí hậu trên thế giới Để biểu hiện nền chất lượng khí hậu của vùng (theo B.L.Alicôp), các vùng này được chia ra trên cơ sở của chế độ ẩm và chế độ nhiệt độ, cùng với sự tính toán của chế độ gió. Về tự nhiên trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm về khí hậu khác nhau. Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu. 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Châu Âu chia làm 3 miền khí hậu: Miền khí hậu cực và cận cực, miền khí hậu ôn đới đại dương và ôn đới lục địa, miền khí hậu á nhiệt đới khô (khí hậu Địa Trung Hải, khí hậu cận nhiệt đới). Châu Á được chia ra thành 6 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền khí hậu nhiệt đới, miền khí hậu á nhiệt đới, miền khí hậu ôn đới, miền khí hậu ôn đới lạnh và cận cực. Châu Phi được phân ra 7 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, 2 miền khí hậu cận xích đạo, 2 miền khí hậu nhiệt đới khô, 2 miền khí hậu á nhiệt đới khô. Châu Mỹ gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Bắc Mỹ gồm các khu vực khí hậu: Khu vực khí hậu cực và cận cực, khu vực khí hậu ôn đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu nhiệt đới. Nam Mỹ gồm các khu vực khí hậu: Khu vực khí hậu xích đạo, khu vực khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn đới. Châu Đại Dương chia ra các khu vực khí hậu: Khu vực khí hậu nhiệt đới, khu vực khí hậu nửa hoang mạc, khu vực khí hậu ôn đới. Châu Nam Cực là một lục địa lạnh [48]. Các tác giả như H.Gaussen, P.Legris, P.blasco (1976) đã nghiên cứu và thành lập bản đồ sinh khí hậu đối với vùng lãnh thổ Đông Nam Á [57]. Ngoài ra theo độ cao người ta cũng phân ra các đai khí hậu, tuỳ theo từng vùng mà có sự phân chia khác nhau. 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Phân vùng khí hậu ngày nay, ngoài việc phân chia ra các đới, vùng còn phân ra các đơn vị nhỏ hơn với sự giống nhau ít nhiều của các điều kiện khí hậu chung hay những đặc điểm riêng biệt của khí hậu, nó có giá trị về mặt khoa học hay kinh tế nông nghiệp. Thí dụ: M.I.Buđưko đã dung tổng nhiệt trong năm để phân chia, có thể dùng lượng mưa hay lượng bốc hơi... của năm hay mùa nào đó. M.I.Buđưko đã chia vùng Kratnôđa ra 3 kiểu cơ bản, sau đó theo điều kiện khí hậu mùa đông, ông chia tiếp ra 4 tiểu vùng (đông tuyết khô - ít, đông tuyết khô, đông hơi ít tuyết và hơi khô, đông tuyết khô ôn hoà). Phân vùng khí hậu nông nghiệp là sự phân chia theo mức độ thuận lợi cho nghề nông. Phân vùng khí hậu nông nghiệp có thể đánh giá tình trạng thực tế về tài nguyên khí hậu cho mục đích kinh tế nông nghiệp. Tiêu chí sử dụng là nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi cho thực vật. Với nhiệt độ người ta lấy chuẩn từ 10 0 C trở lên, nó được chia ra 10 bậc theo sự giảm sút của tổng nhiệt không khí vùng đó (trong cả 24 tiếng). Với độ ẩm người ta lấy tổng lượng mưa của những ngày có nhiệt độ trên 10 0 C trở lên. Người ta còn chia ra các tiểu vùng với việc sử dụng thêm yếu tố độ ẩm... 1.3.2. Vấn đề phân vùng khí hậu ở Việt Nam Việt Nam có khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm, đa dạng và thất thường. Khí hậu Việt Nam có sự phân hoá từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và có cả sự phân hoá từ thấp lên cao. Vấn đề phân vùng khí hậu Việt Nam từ trước đến nay đã được nhiều nhà nghiên cứu khí hậu Việt Nam quan tâm và nghiên cứu. Vào thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có những nhận xét về đặc điểm khí hậu các vùng địa lý và dựa trên đó đánh giá những thuận lợi khó khăn trong công cuộc mở mang kinh tế ở từng vùng. Tiếp theo đó là Lê Tắc, Vân An, Lê Quý 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Đôn, Ngô Thời Sỹ, Nguyễn Nghiễm và nhiều nhà địa lý khác bắt đầu đi sâu vào nhiều khía cạnh khí hậu kinh tế các vùng của đất nước. Những năm 70, Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc đã đưa ra những sơ đồ đầu tiên về phân vùng khí hậu miền Bắc Việt Nam [46]. Đến những năm 80, khi xây dựng Atlat quốc gia, viện khí tượng thuỷ văn cũng đưa ra sơ đồ phân vùng khí hậu Việt Nam ở tỷ lệ 1/3.000.000. Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1993) đã phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền khí hậu lớn: Miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường Sơn và miền khí hậu phía Nam. Ngoài ra còn có thêm một miền khí hậu phụ nữa là miền khí hậu Biển Đông. Miền khí hậu phía Bắc được chia thành 5 vùng khí hậu: Khí hậu khu vực núi Đông Bắc, khu vực núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, khu vực núi Tây Bắc, khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khu vực Bắc Trung Bộ. Trong đó khí hậu khu vực núi (Đông Bắc, Việt Bắc và Tây Bắc) đều được phân chia thành 3 vùng: Vùng thấp, vùng có độ cao trung bình và vùng núi cao. Miền khí hậu Đông Trường Sơn có sự phân hoá thành 3 vùng khí hậu: Vùng khí hậu khu vực Bình - Trị - Thiên, khu vực Trung Trung Bộ (được chia thành 2 khu vực nhỏ hơn: Quảng Nam - Quảng Ngãi cũ và Bình Định - Phú Yên cũ), khu vực Nam Trung Bộ. Miền khí hậu phía Nam chia thành 2 vùng khí hậu sau: Vùng khí hậu khu vực Tây Nguyên (được phân chia thành 3 khu vực nhỏ hơn: Bắc Tây Nguyên, Trung Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên), khu vực đồng bằng Nam Bộ. 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Miền khí hậu Biển Đông chia thành 2 vùng khí hậu: Vùng khí hậu khu vực phía Bắc Biển Đông, khu vực phía Nam Biển Đông [47]. Trong công trình Atlas Khí hậu Thuỷ văn Việt Nam (1994) đã đưa ra một sơ đồ về phân vùng khí hậu Việt Nam. Phân chia khí hậu ở Việt Nam có 2 miền khí hậu: Miền khí hậu miền Bắc và miền khí hậu miền Nam với ranh giới là dãy núi Bạch Mã. Đồng thời nước ta còn được phân chia ra 7 vùng khí hậu, trong đó có 4 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Bắc (khu vực núi phía Bắc, khu vực núi Tây Bắc, khu vực đồng bằng Bắc Bộ và khu vực núi phía Tây, khu vực Bắc Trung Bộ) và 3 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Nam (khu vực Nam Bộ, khu vực ven biển Nam Trung Bộ, khu vực Tây Nguyên) [49]. Mai Trọng Thông (1998) và một số tác giả khi nghiên cứu phân vùng khí hậu Việt Nam đã nêu nguyên tắc và đưa ra sơ đồ phân vùng khí hậu Việt Nam. Theo sơ đồ này khí hậu Việt Nam được chia thành 2 miền khí hậu: Miền khí hậu phía Bắc (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh) và miền khí hậu phía Nam (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh). Trong phạm vi mỗi miền khí hậu, đã phân chia ra các vùng khí hậu khác nhau: Miền khí hậu phía Bắc được phân thành 6 vùng khí hậu (vùng khí hậu Đông Bắc, vùng khí hậu Tây Bắc, vùng khí hậu Việt Bắc- Hoàng Liên Sơn, vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ và bắc của bắc Trung Bộ, vùng khí hậu của Bắc Trung Bộ, vùng khí hậu ven biển Bình Trị Thiên), miền khí hậu phía Nam được phân thành 3 vùng khí hậu (vùng khí hậu Tây Nguyên, vùng khí hậu Trung và Nam Trung Bộ, vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ) [43]. 1.4. Phân vùng thổ nhƣỡng Phân vùng thổ nhưỡng được coi như là cơ sở khoa học để phân vùng quy hoạch nông nghiệp đồng thời tạo tiền đề để phân vùng sinh thái nông nghiệp. Phân vùng thổ nhưỡng cũng là một căn cứ quan trọng để đánh giá các đặc điểm và sự phân hoá về mặt lãnh thổ của thổ nhưỡng trong các mối quan hệ chặt chẽ 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên với các thành phần khác của tự nhiên phục vụ cho nghiên cứu sự phân hoá của tự nhiên và phân vùng địa lý tự nhiên [28, tr.119]. Vùng được coi là đơn vị phân vùng cơ sở thấp nhất trong hệ thống phân vị trong phân vùng địa lý thổ nhưỡng. Vùng được chia ra trong phạm vi của khu địa lý thổ nhưỡng. Vùng được đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về tất cả các yếu tố: độ cao, địa hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng. 1.4.1. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhƣỡng trên thế giới Để phân loại đất, người ta dựa vào các kiểu đá mẹ, đặc điểm và phẫu diện của các kiểu đất, độ phì của đất, cấu trúc và chế độ nước, chế độ nhiệt. Nó được thể hiện trên bản đồ đất. V.V.Đokutsaev đã căn cứ vào kinh nghiệm và những tài liệu điều tra thổ nhưỡng trên một đơn vị rộng lớn, đề ra học thuyết về tính địa đới của thổ nhưỡng: Theo chiều ngang, theo chiều cao, tính địa phương hay tính vùng [38]. E.N.Ivanova và cộng sự (1962) đã công bố sơ đồ phân vùng địa lý thổ nhưỡng của Liên Xô. Trong đó lãnh thổ Liên Xô được chia theo các dấu hiệu tự nhiên thành các dải, miền, đới và tỉnh thổ nhưỡng - khí hậu sinh vật [20]. Ở phía Đông, Đông Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, từ Bắc xuống Nam phân bố 3 vùng đất: Vùng đất nâu rừng, vùng đất nâu của các rừng khô và cây bụi, vùng đất cận nhiệt đới và đất đỏ [23]. Kết quả sự phân bố thổ nhưỡng trên thế giới gồm: Nhóm đất thuộc đới Bắc cực và đài nguyên (chia thành 5 đới phụ), nhóm đất thuộc đới rừng Taiga, nhóm đất thuộc đới rừng cây lá rộng ôn đới, nhóm đất thuộc đới thảo nguyên ôn đới, nhóm đất rừng và rừng cây bụi cận nhiệt đới, nhóm đất thuộc vành đai nhiệt đới [38]. 1.4.2. Những nghiên cứu về phân vùng thổ nhƣỡng ở Việt Nam Một vùng địa lý thổ nhưỡng là một thành phần cấu tạo lãnh thổ toàn vẹn, tương đối đồng nhất về cấu trúc lớp phủ thổ nhưỡng bao gồm 2 đến 3 loại đất 16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên trong đó có một loại đất chính có diện tích lớn nhất trong vùng và quyết định phương hướng sản xuất của vùng [18, tr.389]. Vấn đề phân vùng thổ nhưỡng ở nước ta từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm. Năm 1930, Jve Henry đã nghiên cứu về đất đỏ và đất đen phát triển trên đá mẹ bazan ở Đông Dương ông đã nêu đầy đủ điều kiện phát sinh, phát triển tính chất các nhóm đất trên đá mẹ bazan và các tiểu vùng phân bố của chúng ở Việt Nam [58]. Năm 1958, dựa trên sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 (xây dựng năm 1957), V.M.Fridland và Lê Duy Thước đã xây dựng bản dự thảo Phân vùng địa lý thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam phân chia miền Bắc Việt Nam thành 40 vùng địa lý thổ nhưỡng, quy lại thành 17 liên vùng. Năm 1975, dựa trên bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam chủ trì cho xây dựng bản dự thảo Phân vùng địa lý thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam thành 63 vùng địa lý tự nhiên. Sau khi nhà nước thống nhất (1975), dựa trên bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam đã xây bản dự thảo Phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam phân chia lãnh thổ cả nước thành 154 vùng địa lý tự nhiên (kể cả các đảo) [18]. Lê Văn Khoa (1993), căn cứ vào địa hình có thể chia ra 3 vùng đất: Vùng núi hay vùng thượng du, vùng đồi gò hay trung du, vùng đồng bằng [23]. Dựa vào đặc điểm chủ yếu của đất đai, khí hậu, tổ nghiên cứu sinh thái và môi trường-Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã chia ra 5 vùng đất: Vùng đất cát và cồn cát ven biển, vùng đất phèn, vùng ngập mặn ven biển, vùng đồng bằng châu thổ và vùng đồi núi [13]. Tổng hợp những kết quả nghiên cứu phân vùng thổ nhưỡng năm 1996 đã xác định hệ thống phân vị trong phân vùng thổ nhưỡng Việt Nam có 4 cấp là : Miền thổ nhưỡng, á miền thổ nhưỡng, khu thổ nhưỡng và vùng thổ nhưỡng. Theo kết quả nghiên cứu này, nước ta được phân thành 2 miền thổ nhưỡng, 6 á miền thổ nhưỡng, 16 khu thổ nhưỡng và 142 vùng thổ nhưỡng. Hai miền thổ 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhưỡng là miền thổ nhưỡng phía Bắc và miền thổ nhưỡng phía Nam. Miền thổ nhưỡng phía Bắc được chia thành 3 miền á thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Bắc và Đông Bắc Bộ; á miền thổ nhưỡng Tây Bắc; á miền thổ nhưỡng Trường Sơn Bắc) và 8 khu thổ nhưỡng. Miền thổ nhưỡng phía Nam cũng được chia thành 3 miền thổ nhưỡng (Á miền thổ nhưỡng Đông Trường Sơn Nam, Á miền thổ nhưỡng Tây Trường Sơn Nam, Á miền thổ nhưỡng Nam và Đông Nam Bộ) và 8 khu thổ nhưỡng. Các khu thổ nhưỡng trên lại được phân chia ra 142 vùng thổ nhưỡng, trong đó miền thổ nhưỡng phía Bắc có 77 vùng thổ nhưỡng và miền thổ nhưỡng phía Nam có 65 vùng thổ nhưỡng [17]. 1.5. Phân vùng sinh thái thảm thực vật 1.5.1. Những nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật trên thế giới Sinh thái học là khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường và giữa các sinh vật với nhau. Các yếu tố sinh thái bao gồm ánh sáng, nhiệt độ, gió, mưa, đất... Trên trái đất khí hậu thay đổi từ lạnh sang nóng, từ khô sang ẩm. Mỗi loại hình lớn của nó có thành phần thực vật, động vật đặc trưng - người ta gọi nó là các biomes. Biomes theo trường phái Anh Mỹ đó là hệ sinh thái xâm chiếm vùng rộng lớn có sự giống nhau về khí hậu và sinh vật. Cũng có thể coi biomes đó là hệ sinh thái mà ở đó có một số nơi sống cùng tồn tại. Xét ở một góc độ nào đó thì phân vùng sinh thái là xác định vùng phân bố của các biomes trên trái đất. Phân chia và xác định vùng phân bố của các biomes là dựa trên cơ sở phân định vùng phân bố của thảm thực vật. Những nghiên cứu đầu tiên về phân vùng sinh thái thảm thực vật mang nặng tính địa lý thực vật. Humboldt (1805), có xu hướng địa lý trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phân bố thực vật với sự phân bố nhiệt độ trên lục địa, ông đã hệ thống hoá 18 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên những tri thức địa lý thực vật, vẽ được một bản đồ chung về sự phân bố lớp phủ thực vật trên trái đất. Tiếp đó K.F.Lêđêbur cũng công bố cuốn thực vật chí đầu tiên của Nga (4 tập) về các hệ thực vật thuộc các vùng khác nhau trên trái đất [56]. Năm 1865, cuốn sách giáo khoa tiếng Nga đầu tiên về địa lý thực vật do A.N.Beketov viết được xuất bản. Sách bao gồm những đặc điểm chung của lớp phủ thực vật trên trái đất viết theo từng miền, phân tích những nguyên nhân lịch sử của sự phân bố thực vật [56]. Năm 1903, G.I.Tanfilev công bố công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở Nga kèm theo bản đồ tỷ lệ 1/25.000.000. Đây là tấm bản đồ địa lý thực vật đầu tiên của Nga [56]. A.Hensen (1920) dựa trên khu hệ thực vật đã phân chia hệ thực vật thế giới theo các vành đai vĩ độ và độ cao (8 vành đai). Các vành đai đó đặc trưng cho các vùng nhiệt độ khác nhau, với các thảm thực vật khác nhau gọi là vành đai khí hậu [11]. Dựa vào vĩ độ địa lý, độ cao so với mặt nước biển và độ lục địa, Meusel (1943) đã có những nghiên cứu phân chia hệ thực vật thành các vành đai khác nhau (4 vành đai). Poronov (1955), khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thực vật và động vật của các vành đai tự nhiên đã phân chia ra thành 3 vùng: Vùng rừng, vùng Tunđra (đài nguyên cực Bắc) và vùng thảo nguyên [42]. Josef Schmithusen (1959) đã phân biệt các vùng thực vật theo quần xã ưu thế, chủ đạo và ổn định. Ông đã phân biệt được các đơn vị không gian tự nhiên nhỏ nhất của thảm thực vật, đó là “các tiểu khu thực vật” (Wuchsdistrikte), các tiểu khu này họp thành các đơn vị lớn hơn: Khu, vùng, miền, khu hệ [36]. 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên A.G.Voronov (1976), trên cơ sở tổng hợp những kết quả nghiên cứu trước đó đã phân chia thành 6 miền thực vật trên lục địa: Cổ nhiệt đới (Palaeotropic), Toàn Bắc (Holarctic), Tân nhiệt đới (Neotropic), Capsk, châu úc (Australia), châu Nam Cực (Antarctic). Trong đó miền Toàn Bắc chia thành 9 phân miền (Âu châu -Xibia, Actic, Trung Hoa - Nhật Bản, Pông tích - Trung Á - Địa Trung Hải, Bắc Phi - Ấn Độ, chuyển tiếp Makarônêzi, Bắc Mỹ - Prêri, Bắc Mỹ - Đại Tây Dương, Bắc Mỹ -Thái Bình Dương), miền cổ nhiệt đới được chia thành 3 phân miền (Châu Phi - Ấn Độ, Mã Lai, Tân Tây Lan), miền Tân nhiệt Đới được chia thành 3 phân miền (Trung Mỹ, nhiệt đới, Angđơ) [56]. Olson (1983), trong bảng phân vùng sinh thái được nhiều người công nhận ông dùng khái niệm biomes; theo ông biomes là một vùng sống rộng lớn trên trái đất, nó được phân biệt với nhau bởi khí hậu và sinh vật. Trong bảng phân loại các biomes ông chia ra 4 dạng: Các biomes trên đất liền gồm 10 kiểu lớn, các biomes nước ngọt gồm 8 kiểu, các biomes nước mặn gồm 8 kiểu, các biomes nhân tạo gồm 3 kiểu [60]. Phần biomes trên đất liền (Terrestial biomes) ông chia ra các kiểu sau: * Tundra (lãnh nguyên) là các biomes có khí hậu lạnh và mùa sinh trưởng ngắn. Có Tundra núi cao, Tundra Bắc cực, nhiều Tundra tiếp nhận rất ít nước và mưa, nhưng đất luôn ẩm và ướt vì bay hơi ít và nước trong đất do nhiệt thấp nên đóng băng. * Temperate deciduous forest (rừng rụng lá ôn đới): Rừng đặc hữu bởi các loài hỗn tạp lá rộng rụng lá trong điều kiện khí hậu ôn đới mùa đông lạnh. * Boreal coniferous forest (rừng lá kim phương Bắc hoặc rừng Taiga) là những biomes rất rộng của miền Bắc có khí hậu ẩm và lạnh mùa đông. Rừng đặc hữu bởi cây lá kim, một số nơi có cây rụng lá. * Tropical grassland and savanna (thảm cỏ nhiệt đới và savan): Thảm cỏ nhiệt đới phát triển nơi có lượng mưa có thể đạt tới 1200mm/năm, nhưng có 20 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên mùa khô hạn rất rõ rệt. Loại hình savan chiếm ưu thế trong kiểu này, ưu thế là những cây cỏ hoà thảo và cây thuộc thảo khác, có cả cây gỗ và cây bụi hạn sinh và tán rất thưa. Mỗi vùng có tổ hợp loài thực động vật đặc trưng cho mình. * Temperate rainforest (rừng mưa ôn đới): Rừng mưa ôn đới phân bố ở vùng có khí hậu đặc trưng mùa đông khá ôn hoà và có lượng mưa lớn. Nó bao gồm hệ thống từ ẩm ướt đến ôn hoà, tồn tại nhiều thảm thực vật được tích lại từ rất xa xưa, đặc hữu vẫn là các loài lá kim. * Temperate grassland (thảm cỏ ôn đới): Thảm cỏ xuất hiện giữa vùng có nhiệt độ thấp, nó là trung gian giữa rừng và hoang mạc, mưa từ 250 - 600mm/năm. Thảm cỏ các vùng khác nhau gọi tên khác nhau, ưu thế cũng bởi nhiều loài khác nhau. Có cỏ cao, trung bình và thấp. * Chaparal (dạng thảo nguyên): Đây là một kiểu biome của vùng ôn đới, ở đó có mưa rất ẩm, nó có kiểu đặc trưng là có khí hậu lục địa, mùa đông có mưa, mùa hè khô. Biome chaparal là một dạng đặc trưng được hình thành từ rừng cây lùn và cây bụi và rải rác có thảm cây thuộc thảo. * Semi-evergreen tropical forest (rừng mưa mùa nhiệt đới): Đây là kiểu rừng nhiệt đới, nó phát triển ở những nơi mà sự cung cấp nước có sự phân biệt rõ ràng là mùa khô và mùa mưa trong năm. Mùa khô cây gỗ, bụi bị rụng lá. Thành phần loài động thực vật rất phong phú. * Desert (hoang mạc): Là biome của ôn đới và nhiệt đới, thường gặp trong trung tâm lục địa và vùng núi nơi có lượng mưa rất thấp. Sự phân bố của các biome này phụ thuộc vào sự phân bố của mưa, thường xuất hiện nơi có lượng mưa dưới 250mm/năm. Có một số cây hạn sinh hay cây hàng năm, một vài nơi có cây bụi gai. * Evergreen tropical rainforest (rừng mưa nhiệt đới): Đây là những biome phát triển trong điều kiện lượng mưa dồi dào và không có mùa khô, thảm chết rất ít. Rừng mưa nhiệt đới là loại rừng già, nên thành phần loài động thực vật rất 21 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đa dạng và phong phú. Nhiều nhà sinh thái coi các biome rừng mưa nhiệt đới là biểu tượng cho sự phát triển các hệ sinh thái trên mặt đất. Về sự phân bố cây trồng, theo Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân (1980), cây trồng được phân bố ở 10 trung tâm trên thế giới, trong đó có 6 trung tâm nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới (Trung Mỹ, Nam Mỹ, Êtiopi, Tây Xu - đăng, Ấn Độ, Đông Nam Á); hai trung tâm nằm trong vành đai cận nhiệt đới (Địa Trung Hải, Tiền Á) và hai trung tâm nằm chủ yếu ở vành đai cận nhiệt, có một phần lan sang cả vùng ôn đới (Trung Quốc và Trung Á) [15]. 1.5.2. Những nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật ở Việt Nam còn rất ít. Maurand P (1943), khi nghiên cứu thảm thực vật ở Đông Dương đã chia thảm thực vật này thành 3 vùng: Vùng Nam Đông Dương, vùng Bắc Đông Dương và vùng trung gian [59]. Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu phân loại rừng miền Bắc Việt Nam đã chia rừng miền Bắc thành 3 đai lớn theo độ cao phân bố: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, rừng Á nhiệt đới mưa mùa và rừng Á nhiệt đới mưa mùa núi cao [33]. Theo phân hoá độ cao so với mặt biển, Thái Văn Trừng (1978) đã phân chia thảm thực vật thành 2 nhóm kiểu chính: Nhóm các kiểu thảm thực vật nhiệt đới ở vùng thấp và vùng có độ cao trung bình nhỏ hơn 700m (ở miền Bắc), nhỏ hơn 1000m (ở miền Nam); nhóm các kiểu thảm thực vật vùng núi có độ cao lớn hơn 700m (ở miền Bắc) và lớn hơn 1000m (ở miền Nam) [52]. Dương Hữu Thời (1981) khi nghiên cứu về thảm cỏ Bắc Việt Nam, ông chia Bắc Việt Nam thành 5 vùng tự nhiên với sự phân bố các loài: vùng Bắc Trung Bộ, vùng Trung Bộ, vùng Đông Bắc, vùng Việt Bắc, vùng Tây Bắc [41]. 22 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Trần Chấn, Nguyễn Hữu Trí, Huỳnh Nhung (1994) trên cơ sở những hiểu biết về điều kiện tự nhiên và sự phân hoá về thành phần loài của hệ thực vật, phân chia ra các vùng sinh thái thực vật sau: Vùng núi Đông Bắc, vùng núi Việt Bắc -Hoàng Liên Sơn, vùng núi Tây Bắc, vùng Đông Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Bình Trị Thiên, vùng Trung Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng Nam Bộ [3]. Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), nghiên cứu các kiểu khu phân bố địa lý thực vật của các chi thực vật có hoa ở Việt Nam, ông cho rằng điều kiện địa hình, địa chất và khí hậu quyết định cấu trúc hệ thực vật đó và ở mỗi vùng địa lý của Việt Nam được đặc trưng bởi một số yếu tố địa lý nhất định. Đó là kết quả của lịch sử biến đổi về địa chất, địa lý, khí hậu và đã tạo ra 4 vùng hệ thực vật chính: Khu Đông Bắc Bộ và Đông Bắc Trường Sơn; khu Tây Bắc và dãy Trường Sơn; khu Đông Nam Trường Sơn được chia thành 2 phân khu (phân khu 1 và phân khu 2); khu Tây Nguyên và Nam Bộ được chia thành 2 phân khu (Tây Nguyên và Nam Bộ) [24]. Hoàng Chung (2004), khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành 2 vùng: Vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc, mỗi vùng có một tổ hợp các quần hệ, quần hợp khác nhau [7]. 1.6. Phân vùng kinh tế nông nghiệp Phân vùng sinh thái - kinh tế là một phần việc rất quan trọng của nghiên cứu sinh thái xã hội trên từng lãnh thổ. Phân vùng sinh thái - kinh tế bao gồm 3 kiểu phân vùng sau: Phân vùng tự nhiên - kinh tế, phân vùng sinh thái - kinh tế, phân vùng sinh thái. Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế, phân vùng và quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp là một khâu quan trọng. Các vùng nông nghiệp là những lãnh thổ khác biệt nhau về tự nhiên kinh tế, có phương hướng sản xuất nông nghiệp khác nhau, được hình thành trong quá trình phát triển của 23 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên lực lượng sản xuất xã hội, của sự phân công lao động xã hội, của chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp [30]. 1.6.1. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp trên thế giới Theo I.F.Mukomel phân vùng kinh tế nông nghiệp như là vấn đề tổ chức nông nghiệp theo lãnh thổ. Sự phát triển của nông nghiệp và sự hình thành của tổ chức nông nghiệp theo lãnh thổ được diễn ra dưới tác động của các quy luật chung (đặc trưng cho một phương thức sản xuất nhất định) cũng như dưới ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên và kinh tế của địa phương (cụ thể hoá sự thể hiện của những tính quy luật chung), cho nên chúng có tính muôn màu muôn vẻ đặc trưng cho mỗi địa phương [29]. Viện thống kê và nghiên cứu kinh tế quốc gia của Bộ nông nghiệp Pháp (1959) đã phân chia nước Pháp ra thành khoảng 600 “vùng nông nghiệp”. “Vùng nông nghiệp” phải là một lãnh thổ đồng nhất về điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng và khí hậu) và điều kiện xã hội (phân bố dân cư, cơ cấu kinh tế và hệ thống sản xuất nông nghiệp). “Vùng nông nghiệp” này gần giống vùng mà I.I.Nikisin (1972) đã gọi là “vùng tự nhiên - kinh tế”. Uỷ ban nghiên cứu lực lượng sản xuất và viện thổ nhưỡng, V.V.Đôkutsaev (1962) đã có những nghiên cứu về phân vùng địa lý thổ nhưỡng của Liên Xô nhằm mục đích sử dụng đất đai phục vụ nông nghiệp [54]. G.A.Kuznetxov (1972), đã đề xuất khái niệm vùng hành chính nông nghiệp, quy hoạch vùng nông nghiệp và phương pháp quy hoạch vùng nông nghiệp [25]. I.I.Nikisin (1972), đã có những nghiên cứu về phân vùng tự nhiên - kinh tế phục vụ kế hoạch hoá nông nghiệp ở Liên Xô và ông xác định có 546 tiểu vùng tự nhiên -kinh tế sơ cấp [30]. K.V.Paxkan (1972) cùng các cộng sự khi tiến hành nghiên cứu kinh tế - cảnh quan của một vùng kinh tế - hành chính thuộc tỉnh Caluga (Liên Xô cũ) để 24 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên áp dụng vào nông nghiệp, đã kết luận rằng: Trong việc phân bố hợp lý và chuyên môn hoá nông nghiệp ở các tỉnh hành chính, trong việc xây dựng sơ đồ quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở các vùng hành chính, cũng như trong việc sử dụng đất đai ở từng cơ sở sản xuất nông nghiệp, đều phải tính đến các điều kiện tự nhiên [31]. E.P.Jukovxki và cộng sự (1972) đã xác định các vùng nông nghiệp phân bố và chuyên môn hoá ngành chăn nuôi [21]. N.V.Vaxilev (1972) khi nghiên cứu về phân vùng nông nghiệp đã xác định được hiệu quả kinh tế phân bố nông nghiệp ở các vùng kinh tế của Liên Xô [55]. A.N.Rakitnikov (1972) đã đề xuất phương pháp phân vùng nông nghiệp [35]. A.E.Kaminxki và các cộng sự (1972) nghiên cứu về vấn đề phân vùng khí hậu –nông nghiệp cho các loại cây trồng và đưa ra bản đồ phân vùng khí hậu - nông nghiệp [22]. Ở các nước phát triển đã và đang hình thành các hệ thống lãnh thổ nông nghiệp, trong đó có hình thức vùng nông nghiệp. Vùng nông nghiệp được coi như là một lãnh thổ có sự lặp lại của các kiểu sản xuất tương đối giống nhau, hoặc của các kiểu sản xuất khác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau. Phổ biến rộng rãi nhất là các hệ thống lãnh thổ sản xuất và chế biến các sản phẩm chăn nuôi. Có thể kể đến các hệ thống lãnh thổ sản xuất thịt sữa và các hệ thống lãnh thổ sản xuất và chế biến sữa ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ [45]. 1.6.2. Vấn đề phân vùng kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam Phân vùng nông nghiệp thực chất là phân vùng kinh tế và tổ chức lãnh thổ, trong điều kiện của một quốc gia mà có một nền sản xuất chiếm ưu thế, việc phân vùng kinh tế cơ bản thường dựa vào các yếu tố kinh tế nông nghiệp làm yếu tố tạo vùng kinh tế cơ bản. Phân vùng nông nghiệp là phân vùng ngành, là 25 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên một cấu thành trong phân vùng kinh tế cơ bản. Phân vùng nông nghiệp có nhiệm vụ tham gia vào tổ chức lãnh thổ và kế thừa kết quả của phân vùng địa lý thổ nhưỡng với điều kiện tự nhiên tương đối đồng nhất, có hướng chuyên môn hoá trong nông nghiệp [18]. Ở nước ta, công tác phân vùng nông nghiệp được đề cập đến từ những năm 1960. Trong thời gian này trên một số tạp chí nghiên cứu kinh tế đã có một số tác giả đề cập đến một số nét về lý luận của phân vùng kinh tế nông nghiệp như Nguyễn Trần Trọng (1963) có bài: “Về phương pháp luận và phương pháp phân vùng nông nghiệp ở miền Bắc nước ta”, Nguyễn Huy (1969): “Phương pháp phân vùng nông nghiệp ở miền Bắc nước ta”. Cũng trong thời gian này, ở khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhà giáo Nguyễn Văn Quang đã đưa vào giảng dạy giáo trình “Phân vùng nông nghiệp”, trong đó đề cập tới các nguyên tắc, phương pháp và nội dung cụ thể.Ngoài ra còn có một vài nghiên cứu chủ yếu vào hướng dẫn lập quy hoạch nông nghiệp [45]. Thời kỳ 1960 - 1970, công tác phân vùng chủ yếu tập trung vào các vấn đề đơn lẻ quy mô nhỏ, quy hoạch từng vùng cụ thể, chủ yếu là nông lâm nghiệp. Việc nghiên cứu và phân vùng diễn ra chủ yếu trên lãnh thổ miền Bắc. Những năm đầu của thập niên 60, Vụ phân vùng kinh tế - Uỷ ban kế hoạch nhà nước phối hợp với Bộ Nông nghiệp nghiên cứu phân vùng nông nghiệp ở miền Bắc và đến năm 1970 đã đưa ra phương án phân vùng nông nghiệp miền Bắc Việt Nam. Trong đó, chia miền Bắc thành 4 vùng nông nghiệp lớn: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Khu Bốn cũ (từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh) [45]. Cuối năm 1970, giáo sư Trần Đình Gián phân chia lãnh thổ nước ta thành 2 vùng kinh tế cơ bản với 4 á vùng, ông phân miền Bắc thành 4 vùng kinh tế hành chính, đồng thời đề ra một hệ thống phân vị 3 cấp: vùng kinh tế - xã hội lớn, vùng kinh tế - hành chính tỉnh, vùng kinh tế cơ sở huyện. 26 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Năm 1976, trên cơ sở những kết quả điều tra nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, địa hình, tính chất đất đai, kinh tế, kỹ thuật cũng như định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng, nước ta được chia thành 7 vùng kinh tế nông nghiệp. Đó là vùng trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long [45]. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân vùng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ, năm 1977, Uỷ ban phân vùng kinh tế Trung ương đã được thành lập. Vụ phân vùng quy hoạch của Uỷ ban kế hoạch nhà nước được tách ra và đổi tên thành Viện phân vùng quy hoạch Trung ương và là cơ quan thường trực của Uỷ ban phân vùng kinh tế Trung ương, đã hình thành hệ thống tổ chức của ngành từ Trung ương đến các địa phương. Uỷ ban phân vùng quy hoạch các tỉnh được thành lập, các Viện quy hoạch ngành cũng được tăng cường và phát triển. Toàn bộ quá trình phân vùng quy hoạch được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân các cấp [45]. Năm 1982, nước ta tiến hành nghiên cứu xây dựng Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất giai đoạn 1986-2000. Lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 vùng kinh tế cơ bản và 7 tiểu vùng (tương tự như 7 vùng nông lâm nghiệp). Vùng Bắc Bộ gồm 2 tiểu vùng là Trung du - miền núi và Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ (không chia tiểu vùng); vùng Nam Trung Bộ chia làm 2 tiểu vùng Duyên hải khu V và Tây Nguyên; vùng Nam Bộ được chia làm 2 tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Ở giai đoạn này bước đầu đã có những nghiên cứu lý thuyết phân vùng, nguyên tắc, hệ thống chỉ tiêu, các thuật ngữ chuyên ngành [44]. Năm 1986, Uỷ ban kế hoạch nhà nước nghiên cứu quy hoạch vùng và xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010. Viện chiến lược phát triển đã xây dựng phương pháp quy hoạch vùng, kể cả vùng trọng điểm và phương pháp quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội cấp tỉnh. Lãnh thổ Việt 27 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Nam được chia thành 8 vùng (Đông Bắc, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long) và 3 vùng kinh tế trọng điểm [1]. Trong đó vùng Đông Bắc được phân chia thành các vùng sản xuất nông nghiệp: vùng sản xuất lúa và ngô; vùng sản xuất đậu tương; vùng mía; vùng chè; vùng cà phê- chè; vùng cây ăn quả; vùng cam, quýt; vùng chăn nuôi... Vùng Tây Bắc đã hình thành một số vùng sản xuất: vùng cây ăn quả; vùng chè; vùng ngô; vùng mía quy mô nhỏ... Vùng Đồng bằng sông Hồng có những vùng thâm canh lúa, chuyên canh rau quả... Vùng Bắc Trung Bộ có các vùng trọng điểm lúa, vùng cây công nghiệp... Vùng duyên hải Nam Trung Bộ đã hình thành những vùng cây công nghiệp tập trung... Vùng Tây Nguyên có 2 vùng chuyên canh lớn về cà phê... Vùng Đông Nam Bộ có vùng trồng bông, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp... Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất cây lương thực. Kết quả nghiên cứu phân vùng sinh thái nông nghiệp (1995) của Nguyễn Viết Phổ và các tác giả khác đưa ra 2 cấp phân chia là miền và vùng. Đó là 5 miền: Miền sinh thái nông nghiệp phía Bắc, miền sinh thái nông nghiệp Đông Trường Sơn, miền sinh thái nông nghiệp Tây Trường Sơn và Nam Bộ, miền sinh thái nông nghiệp Bắc Biển Đông và vịnh Bắc Bộ, miền sinh thái nông nghiệp Nam Biển Đông và vịnh Thái Lan. Trong đó, miền sinh thái nông nghiệp phía Bắc: Đông Bắc, Việt Bắc –Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ. Miền sinh thái nông nghiệp Đông Trường Sơn được chia thành 2 vùng: Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ. Miền sinh thái nông nghiệp Tây Trường Sơn và Nam 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bộ được chia thành 3 vùng: cao Tây Nguyên Trường Sơn, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long [32]. Từ năm 2001 đến nay, lãnh thổ Việt Nam được chia thành hệ thống 6 vùng (Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long) và 3 vùng kinh tế trọng điểm [2]. 1.7. Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống và năng suất của đồng cỏ 1.7.1. Những nghiên cứu về thành phần loài Những tài liệu nghiên cứu thành phần loài của các quần xã cỏ vùng Đông Nam Á còn hạn chế. Các công trình tập trung nghiên cứu thành phần loài họ hoà thảo Whyte R.O (1975); Nguyễn Minh Thuật (1958); Bor N.L (1960); Gibliland N.B (1971) và một số tác giả khác [4]. Kết quả nghiên cứu thành phần loài thực vật đồng cỏ Bắc Việt Nam còn đơn lẻ và chưa thật đầy đủ. Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964) nghiên cứu kiểu “savan” ở huyện Hữu Lũng- Lạng Sơn; Dương Hữu Thời, Nguyễn Đình Ngỗi (1965) nghiên cứu thành phần loài của quần xã cỏ trong nông trường Hà Trung; Dương Hữu Thời, Hoàng Chung, Doãn Ngọc Chất, Phạm Quang Anh (1969) nghiên cứu thành phần loài của đồng cỏ ở Ngân Sơn - Bắc Kạn. Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam của Dương Hữu Thời (1981) đã công bố 213 loài của 5 vùng thuộc Bắc Việt Nam, ông đã phân tích các điều kiện tự nhiên của đồng cỏ Bắc Việt Nam, sự biến đổi của nó ở một số vùng trong qua trình nghiên cứu, trong mỗi vùng ông mô tả khá nhiều các quần xã đặc trưng [41]. Hoàng Chung (1980), đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ khi ông nghiên cứư đồng cỏ ở vùng núi Bắc Việt Nam [4]. 29 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997) nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của cây bụi và vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [12]. Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái, sinh học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [19]. Ma Thế Quyên (2000) nghiên cứu về động thái Đồng cỏ trong mối quan hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương (Ngân Sơn - Bắc Kạn) sưu tầm được 88 loài thuộc 35 họ [34]. Nông Thị Hương, Hoàng Chung (2002), nghiên cứu về Đồng cỏ Ngân Sơn- Bắc Kạn và vấn đề sử dụng đã điều tra được 111 loài thuộc 49 họ. Lục Thị Nghi, Hoàng Chung (2003), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Chi Lăng- Lạng Sơn điều tra được 83 loài, thuộc 33 họ. Vũ Văn Thường, Hoàng Chung (2004), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Móng Cái- Quảng Ninh đã điều tra được 98 loài, thuộc 44 họ. Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Lê Sinh Tăng, Nguyễn Chính (1959); Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tăng (1964,1969); Trịnh Văn Thịnh và các tác giả (1974); Điền Văn Hưng (1975); Nguyễn Đăng Khôi (1978,1979,1981); Dương Thành Liên (1981); Bùi Xuân An; Ngô Văn Mậu (1981); Võ Duy Giảng (1983). Các tác giả này có đề cập đến cải tạo đồng cỏ tự nhiên, sử dụng hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập nội một số loài mới. Phân tích thành phần dinh dưỡng một số loài cỏ ở Việt Nam có các tác giả như: Đoàn Âu, Võ Văn Tự (1976), Hoàng Kim Nhuệ (1979)... 1.7.2. Những nghiên cứu về dạng sống Sự tác động các nhân tố sinh thái lên cơ thể sinh vật qua nhiều thế hệ đã hình thành đặc điểm thích nghi với các môi trường sống khác nhau; việc nghiên 30 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cứu về dạng sống của thực vật được các nhà thực vật học và sinh thái học nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới các tác giả như Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: “Cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã”. I.K. Patsoxki (1915), chia thảm thực vật làm 5 nhóm: Thực vật thường xanh, thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm. Braun Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài chia thành 5 thang: Mọc lẻ, mọc thành vạt, mọc thành dải nhỏ, mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn. Raunkier (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã đưa ra nhiều bảng phân loại dạng sống của thực vật [4]. Đối với cây thuộc thảo phân loại dạng sống đã được Canon thực hiện (1911), ở Liên Xô (cũ) có G.N.Vưsoxki (1915), L.T. Kadakevich (1922), V.r. Villiams (1922), E.M.Lapreko (1935), Gôlulbép (1962,1968)... Ở Việt Nam có Doãn Ngọc Chất (1969) có nghiên cứu dạng sống của một số loài họ hoà thảo. Hoàng Chung và các cộng sự (2002) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ, savan, thảo nguyên của miền Bắc Việt Nam. Bảng phân loại dạng sống thực vật của đồng cỏ Bắc Việt Nam của ông dựa trên nguyên tắc phân loại của Golulbép (1962,1968) [5]. 1.7.3. Năng suất đồng cỏ Nghiên cứu năng suất của Đồng cỏ là nhằm đánh giá quá trình tích luỹ vật chất hữu cơ, sự chuyển đổi sản phẩm và năng lượng trong thực vật quần hoặc hệ sinh thái. Thông qua việc nghiên cứu năng suất đồng cỏ để tính sản lượng cỏ 31 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cung cấp trong năm trên đơn vị diện tích của một vùng đất nhất định, từ đó có kế hoạch phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc theo các hướng khác nhau. Nếu diện tích đồng cỏ đủ lớn và có năng suất cao có thể phát triển chăn thả tự nhiên, nhưng nếu năng suất cỏ không đáp ứng đủ ta phải có kế hoạch điều chỉnh hoặc trồng thêm một số diện tích với các giống cỏ có năng suất cao. Trên thế giới việc nghiên cứu năng suất của đồng cỏ được tiến hành nhiều trong những thập niên cuối thế kỷ XX; những nghiên cứu này thường vẫn tập trung chủ yếu ở phần trên mặt đất hoặc nghiên cứu tập chung vào chất lượng, trạng thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó; tỷ lệ phần chết hàng năm, lớp thảm mục. Các công trình nghiên cứu theo hướng này có các tác giả như: Ivanop (1941); Odum (1968); Rodin (1968). Nghiên cứu năng suất sinh học các thảm cỏ vùng Đông Nam á có Ogawa và cộng sự (1961); Iwaki và cộng sự (1964,1969); Iwaki (1979). Riêng nghiên cứu cả phần dưới mặt đất của đồng cỏ có các tác giả: Baranopskaia (1954); Krưm (1960), Xemnop (1966), Kharitonop (1967), Gawood (1968). Ở Việt Nam từ năm 1960 đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về năng suất cỏ được tiến hành trong các quần xã cỏ trồng (chăn thả hay đồng cỏ cắt), những nghiên cứu trên đồng cỏ tự nhiên này chỉ tập trung ở một số cây có giá trị kinh tế cao như các tác giả: Dương Hữu Thời (1981), Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Hữu Hiến (1985). Hoàng Chung (1981, 2002, 2004); Hoàng Chung và cộng sự (2003) nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ vùng núi Bắc Việt Nam [6] đã nghiên cứu năng suất cả phần trên mặt đất và phần dưới mặt đất. Từ những nghiên cứu đó ông đã rút ra kết luận: “Trong các thảm thực vật thuộc thảo (savan-đồng cỏ) của miền Bắc Việt Nam, năng suất sinh học tăng lên dần theo trình tự; đồng cỏ á Thảo Nguyên-Savan-Đồng Cỏ”. 32 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.8. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 1.8.1. Những nghiên cứu về thoái hoá đồng cỏ do chăn thả Đồng cỏ là đối tượng trong hoạt động kinh tế nông nghiệp, do đó nó luôn bị thay đổi dưới tác động thường xuyên của con người. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hoá của các đồng cỏ chăn thả cũng như các thảo nguyên ở các vùng khác nhau. Ở Liên Bang Nga đã tích luỹ nhiều tư liệu của đới thảo nguyên và bán hoang mạc. G.I.Vưxôtxki (1915), đã xác định 4 giai đoạn thoái hoá của thực bì thảo nguyên dưới tác dụng chăn thả. Patrôtxki (1917) nghiên cứu đới nam của thảo nguyên Stipa longifolia, ông chia 5 giai đoạn thoái hoá trong đó có cả giai đoạn không chăn thả, chăn thả và ngừng chăn thả. G.I.Popov (1931) nghiên cứu thực vật trong đới phụ thảo nguyên Stipa, thảo nguyên nam Varonhet, ông cũng nhận thấy có các giai đoạn thoái hoá của thảm thực vật do chăn thả. V.V.Alekhin (1934) nghiên cứu ở vùng Kursk thuộc đới phụ (phía Bắc) của thảo nguyên đồng cỏ đã xác định các giai đoạn thoái hoá do chăn thả ở đây như sau: Khi chăn thả nặng nề thì Stipa sẽ mất đi và thành phần hệ thực vật trở nên nghèo nàn hơn, đồng thời rất nhiều loài có số lượng cá thể không nhiều, thường đơn độc và rồi cũng mất dần đi, bắt đầu trội hẳn lên là Bromus, sau nữa còn lại chủ yếu là cây thuộc thảo và trên thảo nguyên phát triển mạnh tầng trên là cây Bromus riparius, tầng thấp là Festuca đồng thời trong vùng đó biểu hiện 2 tầng rõ ràng: Bromus-Poa; cuối cùng chỉ còn lại Festuca, những sự chèn ép này của thảm cỏ qua hàng loạt những trạng thái nhỏ nhặt sẽ dẫn đến giai đoạn phân bố rộng rãi của bào tử thực vật trên thảo nguyên (theo Hoàng Chung 1980) [4]. Abramtruk, Gortriakopski (1980) để đánh giá mức độ thoái hoá của các quần xã cỏ do tác động của con người, các ông đã đề ra bảng thang bậc riêng và đều gồm 3 mức, sự khác nhau giữa các mức là phụ thuộc vào mức thoái hoá do con người tạo ra. 33 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Đồng cỏ vùng núi miền Bắc Việt Nam được hình thành do kết quả tác động lâu dài của con người, chủ yếu do khai thác bừa bãi, đốt phá rừng mà hình thành. Đồng cỏ phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du, có độ dốc khá lớn : do đó vấn đề thoái hoá đồng cỏ trong quá trình sử dụng là một trong những vấn đề cần đề cập của các nhà nghiên cứu đồng cỏ Việt Nam. Những công trình nghiên cứu sự thoái hoá của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn rất ít. Dương Hữu Thời (1981) trong cuốn: “Đồng cỏ Bắc Việt Nam” khi phân tích thành phần loài và điều kiện sinh thái của đồng cỏ, đã đề cập đến hai nguyên nhân gây thoái hoá của đồng cỏ miền Bắc Việt Nam là do cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu [41]. Hoàng Chung (1981, 1983, 2002, 2003) đã phân tích ảnh hưởng của chăn thả không có kế hoạch lên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và chức năng của thảm cỏ vùng Thôm Luông (Ngân Sơn), ông thấy những tác động của con người trên lớp phủ thực vật vùng nhiệt đới đã bước đầu dẫn đến hình thành kiểu thực bì cỏ, một trong những loại hình thứ sinh. Sau đó do chăn thả và tác động khác nhau đã làm đồng cỏ bị thoái hoá dần và biểu thị bằng 5 giai đoạn của thoái hoá, cuối cùng của nó là trên mảnh đất của đồng cỏ sẽ xuất hiện savan cây bụi hay savan cỏ (hay một kiểu thảm thứ sinh nào đó của cây bụi) rồi có thể tiến tới rừng. 1.8.2. Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam chiếm một diện tích khá lớn và ngày càng mở rộng do hoạt động khai thác, cháy rừng ngày càng tăng. Hiện nay đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, phần lớn phương thức sử dụng chưa hợp lý, khai thác một cách nặng nề làm cho thảm cỏ ngày càng bị thoái hoá. Những công trình nghiên cứu dành cho vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ còn rất ít. Nguyễn Văn Hùng, Bùi Văn Minh (1968) có nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ luân phiên ở Ba Vì và đề nghị chia 6 ô, mùa hè sử dụng 5 ô. Trong một đàn 34 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên gia súc số lượng lên là 100-150 con, diện tích đồng cỏ là 50-80 ha. Võ Văn Trị(1983) đã chia đồng cỏ ra thành những ô nhỏ, sự luân phiên mùa hè theo ông khoảng 40-45 ngày, mùa đông là 60 ngày. Dương Hữu Thời (1981) có đề cập một số vấn đề của sử dụng hợp lý như luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi [41]. Vấn đề cải tạo đồng cỏ có Võ Văn Trị (1968) tiến hành dùng phân bón vô cơ bón cho đồng cỏ Ba Vì và thấy đạt kết quả tốt trong điều kiện độ ẩm đất cao hơn 24%, theo ông với đất chua vùng Ba Vì nên dùng phân NH4NO3. Trịnh Văn Thịnh (1977) cũng tiến hành trồng một số loài cỏ dại và đạt năng suất cao. Nguyễn Văn Thưởng (1977), Nguyễn Nghi, Phan Văn Lợi, Trần Công Xuân (1982) cũng thu được kết quả tốt như trồng cây hỗn hợp cỏ hoà thảo với cây họ đậu. Hoàng Chung (2002) tiến hành nghiên cứu vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi miền Bắc Việt Nam đã đề cập hai vấn đề lớn: Cải tạo điều kiện môi trường sống, cải tạo lớp đất mặt do chăn thả hay những tác động khác làm giảm sút thảm cỏ. 1.9. Những nghiên cứu về đồng cỏ trồng và cây thức ăn gia súc 1.9.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giớ i 1.9.1.1. Tình hình phát triển Trên thế giới các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển vấn đề cây thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: úc, Mỹ, Braxin, ấn độ... Các nước ở khu vực Đông Nam á cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này. Cách mạng đồng cỏ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới triển khai ở Châu Đại Dương bắt đầu từ thế kỷ XIX. 35 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Ngày nay Liên hiệp Autralia đã là một nước chăn nuôi tiên tiến ở vùng nhiệt đới và với những thành tựu đạt được không kém miền ôn đới. Ở Châu Âu và khu vực Địa Trung Hải đồng cỏ kiểu ôn đới với nền cây bộ đậu giàu chất Prôtêin là cơ sở của năng suất cao trong chăn nuôi. Ở miền nhiệt đới và á đới các loại cỏ hoà thảo thường chiếm ưu thế trên đồng cỏ chăn thả. Trong điều kiện nhiệt đới, với năng lượng quang hợp rất cao cỏ hoà thảo có thể cung cấp một khối lượng chất xanh lớn. - Ở Thái Lan: Với 70% dân liên quan đến sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa dê chưa cung cấp được theo nhu cầu tiêu dùng. Năm 1992 sản phẩm sữa nhập vào Thái Lan 114.012 tấn, chi phí mất 2.222.81 triệu USD (nguồn: tài liệu thống kê nông nghiệp Thái Lan 1992 – 1993). Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp; Giảm trồng lúa, sắn và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại. Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp giống cỏ để trồng. Thái Lan đã sản xuất được 418 tấn hạt cỏ (1991) và 1.336 tấn (1994). Trong điều kiện diện tích chăn thả hẹp, mùa khô kéo dài, đất dinh dưỡng kém, chua, mặn, ngập nước, dự án cây nhập nội đã đánh giá: Ở Khon Kean 37 giống cây thức ăn trồng để chọn giống thích hợp với đất cát khô, đã chọn được mười giống cây cỏ họ Đậu và Hoà thảo thích hợp thuộc chi Andropogon, Brachiaria, Paspalum, Stylo, Leucoena. Ở Marathiwat với mục đích chọn cây thức ăn chịu đất chua đã xác định được 8 giống cỏ triển vọng trong số 26 giống nhập nội (Báo cáo dự án trồng cỏ Thái Lan-1994) Nghiên cứu 19 giống của chi Brachiria thuộc bốn loài (Brachiaria decubens, Brachiaria brizontha, Brachiria humidicola, Brachiria fubata) đã xác định được bảy giống có năng suất hạt và năng suất chất xanh ở mùa khô khá. Những giống này được tiếp tục khảo nghiệm và nhân ra diện rộng. 36 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Giống Paspalum atratum nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp nó đã thể hiện là giống tốt, chịu đất chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing sang Phai Keow, 1999) - Theo Liu Quadao (1995), ở Trung Quốc cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển theo khu vực phía Nam. Đã xác định được các chi cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum, Panicum sử dụng hiệu quả cho gia súc. Hàng năm xuất 20.5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Thông tin KHKT chăn nuôi; 1998) Ở Inđônesia: Trong thành phần thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cò hoà thảo, 21% là rơm, 16% là cây khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp để giải quyết thức ăn thâm canh là trồng giống cỏ tốt (cỏ voi và cây đậu). Ngoài ra còn có các chương trình về giống cây thức ăn với CIAT và CSIRO để tìm ra những giống cây thích hợp với đất có độ PH thấp trong thực trạng đa dạng các điều kiện canh tác nông hộ, 36 giống cây thức ăn từ úc (CSIRO), Columbia (CIAT) và Philipin được đưa vào trồng ở vùng Cast Kalimântn (Ibrahim 1994): Nhiều giống thể hiện thích hợp ở khu vực trong đó có 18 giống cây đậu và 9 giống cỏ hoà thảo. - Ở Philipin: Với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc các trang trại nhỏ được trồng các giống Ponicum maximum, Paspalum atratum, Brachiaria brizantha, stylo 184... Chúng đều phát triển tốt, cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra các giống có tên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trồng đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hàng năm sản xuất được lớn hơn 1 tấn hạt cỏ (E.F.lating, F. Gagunada, 1995) Ngoài ra một số nước khác như: Malaysia, Lào trong khu vực cũng đã chú trọng, đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến 37 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nay một số cỏ hoà thảo và cỏ họ đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả trong sản xuất. Hàng năm sản xuất được 2 – 3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm. Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển. 1.9.1.2. Những kết quả nghiên cứu Hiện nay trên thế giới, ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ. Tại Thái Lan sản lượng vật chất khô của các giống Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum khoảng từ 15 – 20; 18 – 25; 9 – 15 và 6 – 10 tấn/ha (bảng 1.9) Bảng 1.1. Sản lượng VCK và chất lượng những loại cỏ trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt Loài Năng suất (tấn/ha) Protein (%) Brachiaria mutica 9 – 15 6 – 10 Digitaria decumbens 15 – 20 7 – 11 Paspalum atratum 18 – 25 6 – 7 Paspalum plicatulum 6 – 10 5 - 6 Nguồn: Division of Animal Nutrition (Anon, 2000) Ngoài ra hai giống cỏ Paspalum atratum và Paspalum plicatulum còn là những giống cho hạt giống lớn, lượng sản xuất hạt giống có thể tới trên 600kg/ha. Hai giống này được phân bố rộng rãi ở Thái Lan... Theo Quilichao, Colombia CIAT, (1978), giống Brachiaria decumbens có thể đạt năng suất chất khô 4000kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm nhưng 38 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân vừa bón đạm thấp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất vật chất khô đạt 36.700kg/ha kết quả này cao hơn so với cỏ pangola (B.decumbens), Para (B.mutica) và Ghine (P.maximum). Barnord, 1969. Đối với giống Panicum maximum Cv Makueni theo Middleton và Mccoskor, 1975 cho biết vào năm 1973 và 1974 tại miền nam Johnstone, vùng Queensland đã sản xuất được 60.000kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300kg đạm/ha. Theo Vicênt- Chandler Silva và Figarella, 1959 thông báo năng suất đạt 26.946 kg VCK.ha với mức bón 440kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ tại Purertorico. Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là 15.000kg/ha VCK (Daviesc, 1970). Tại Fiji năng suất trung bình đạt 5313 kg VCK/ha với mức protein thô là 9,9% với thời kỳ trên 3 năm (Roberts, 1970). Tại Mỹ năng suất cỏ này đạt từ 1230-12000kg VCK/ha (Bennett, 1973). Đối với giống cỏ Setaria sphacelate các kết quả nghiên cứu của các tác giả cho biết: Tại Redland Bay, Queensland, Riveros và Wilson, 1970. Thông báo năng suất đạt từ 23500-28000kg VCK/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng. Trong điều kiện có được tưới nước và cung cấp 225kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan mầu mỡ. Như vậy các giống cỏ sống trong các điều kiện khác nhau sẽ cho năng suất chất xanh, năng suất chất khô khác nhau 1.9.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn cho gia súc ở Việt Nam 1.9.2.1. Tình hình phát triển 39 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trong thời gian 10 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ăn hoà thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT, Philipin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi cụ thể như: Năm 1990 chương trình bò thịt VIE86/008 nhập 17 giống cây thức ăn họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Autralia. Năm 1995 chương trình cây thức ăn xanh cho nông hộ nhập vào 70 giống (51 giống đậu và 19 giống hoà thảo) từ CSIRO và CIAT chương trình cây keo đậu nhập 22 giống keo đậu từ Australia. Năm 1997 thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10 giống Stylo từ Trung Quốc và Philippin. Năm 1998 chương trình “Phát triển thịt bò một cách hiệu quả ở Việt Nam- ACIAR Projeet as 2/97/18”, nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ đậu và 40 loại cây hoà thảo. Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế với trường Đại học Hohenhein (Đức), 20 loại Flemingia được nhập vào nước ta. Ngoài ra một số giống cây thức ăn được nhập thông qua con đường các chuyên gia đi lại công tác. Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết quả tốt, ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng. Tuy nhiên do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc đi hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các cùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất. 1.9.2.2. Những kết quả nghiên cứu Theo Nguyễn Thiện – Lê Hoà Bình (1994) trong năm 1990 chương trình VIE/86/008 đã đưa vào nước ta 2 đợt cỏ giống với 25 giống cỏ hoà thảo gồm 11 40 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên loài khác nhau các cỏ trên được chuyển tới các vùng để đánh giá tuyển chọn giống thích hợp. Một số kết quả trồng thử đã được ghi nhận như sau: Các tác giả Lê Hoà Bình, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Mạnh Khải và Ngô Đình Giảng (1994) cho biết: Tại Long Mỹ giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt 56,9- 59,9 tấn/ha tương ứng với 9,7 – 11,9 tấn VCK. Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm. Tại Ba Vì hai giống ghine là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn trong đó nổi bật là Licori. Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương 18,93 tấn VCK/ha/năm. Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác. Nguyễn Ngọc Hà và cộng tác viên, 1985 cũng đã tiến hành nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm cỏ thân cụm Panicum maximum Liconi và K – 280 cho năng suất trung bình đạt 17 – 18 tấn VCK/ha/năm với 7 – 8 lứa cắt. Tỷ lệ trong mùa khô đạt 26 – 27% sản lượng năm. Tốc độ sinh trưởng (cm/ngày): 1,7 – 2,0: Chu kỳ thu cắt trong mùa mưa 35 – 40 ngày, mùa khô 60 – 65 ngày. Theo báo Lao động tháng 7/2004, Viện khoa học kỹ thuật miền Nam thuộc bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu Thanh) và An Đức (Ba Tri). Sau 4 lần thu hoạch viện KHKTTNN Miền Nam nhận định: Các giống cỏ nhập nội thích nghi tốt và phát triển mạnh trong điều kiện môi trường thổ nhưỡng tại Bến Tre. Cỏ voi chiếm ưu 41 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên đất trống, năng suất đạt 29,04 tấn VCK/ha. Trồng xen vườn ăn trái là 25 – 27 tấn VCK/ha. Các tác giả Phan Thị Phần và cộng tác viên, 1999; Vũ Thị Kim Thoa và Khống Văn Đình, 2001. Khi nghiên cứu cỏ Ghine TD 58 ở khu vực miền Bắc và Miền Nam cho kết luận: - Khu vực phía Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, hoặc đất chua nghèo. Lân và Kali cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ ngày). Năng suất đạt 90 – 100 tấn/ha/năm, cỏ ghinê có khả năng cho hạt năng suất hạt đạt 450kg/ha, tỷ lệ, sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sinh trưởng 100%, bò sữa 77%, ngựa 85%. - Ở khu vực miền Nam: Địa điểm tại vùng đất xám Bình Dương với liều lượng phân bón 20 tấn phân chuồng, 80kg K2O và 500kg vôi /ha/ năm, lượng phân đạm bón từ 60 – 90 kg/ha. Năng suất chất xám cỏ TD 58 đạt 64,59 – 83,33 tấn/ha/lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa/ Tỷ lệ tiêu hoá của dê đối với cỏ TD 58 cao, khả năng sử dụng của gia súc như: Trâu sữa, bò sữa, bò thịt, dê sữa đều tiêu tốn từ 80 – 100%. - Những nghiên cứu tại Sơn La: Tại Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Sơn La đã nhập nhiều giống cỏ đậu và hoà thảo có nguồn gốc nhiệt đới. Một số giống cỏ có triển vọng đã được trồng thử nghiệm cho năng suất bình quân hàng năm như sau: (Theo số liệu của kỹ sư: Đoàn Thị Xuân) Năng suất chất xanh có sự sai khác nhất định giữa các giống cỏ khác nhau. Thấp nhất là cây P. glaucum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo đậu 60,4 tấn/ha và cao nhất là các giống cỏ, sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 368,19 tấn/ha, 365,3 tấn/ha; 349,3 tấn/ha; 362,5 tấn/ha. Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại Sơn La như: Một Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã. Tuy nhiên việc nghiên cứu để 42 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều. Hoàng Chung, Nguyễn Thanh Thuỷ, Hoàng Thị Phương Nhung (2005) và Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006), đã nghiên cứu tác động phân và nước tới cỏ trồng, kết quả đem lại là tại Thái Nguyên đồng cỏ tăng thêm môt lứa cắt trong năm, năng suất tăng 1,6 lần. Tại Mai Sơn (Sơn La) tăng thêm hai lứa cắt và năng suất tăng từ 1,92 đến 2,16 lần so với đối chứng (tăng từ 100-120 tấn/ha/năm). CHƢƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của thị xã Móng Cái 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình Móng Cái là một Thị xã biên giới thuộc phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có toạ độ địa lý: Từ 21 0 10 ' đến 21 0 39 ' vĩ độ Bắc; từ 107 0 43 ' đến 108 0 40 ' kinh độ Đông, phía Bắc và Đông Bắc giáp nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Phía Đông - Đông Nam tiếp giáp với Biển Đông, Phía Tây Bắc giáp huyện Hải Hà. Diện tích đất tự nhiên của Thị xã (phần trên đất liền và đảo) khoảng 520km 2 , chiếm 8,49% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh. Thị xã có đường biên giới trên đất liền 72km tiếp giáp với nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, 43 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên có cửa khẩu quốc tế Móng Cái tiếp giáp với vùng duyên hải rộng lớn của miền nam Trung Quốc, có 50km bờ biển. Địa hình bị chia cắt khá phức tạp, hình thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi cao phía Bắc, vùng trung du ven biển và vùng hải đảo. 2.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn Móng Cái có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều. Hệ thống sông suối của thị xã Móng Cái gồm có hai sông chính: Sông Ka Long, Sông Tràng Vinh. Trong đó, Sông Ka Long bắt nguồn từ Trung Quốc ở độ cao 700m, sông dài 700km và chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra Biển Đông, còn sông Tràng Vinh (hay còn gọi là sông Thín Cóong) dài trên 20km, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao, chảy qua Hồ Tràng Vinh rồi đổ ra biển. 2.1.1.3. Các nguồn tài nguyên - Tài nguyên đất: Gồm 10 nhóm đất chính: Đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất có tầng sét, đất xám, đất nâu tím, đất vàng đỏ, đất tầng mỏng, đất nhân tác. - Tài nguyên nước: Gồm nguồn nước mặt (gồm các con sông ở Móng Cái) và nguồn nước ngầm (cung cấp khoảng 1500m 3 / ngày và phân bố đều trong Thị xã). - Tài nguyên rừng: Hiện có khoảng 18431,71 ha đất lâm nghiệp, phong phú về chủng loại, chiếm 35,68% diện tích tự nhiên của Thị xã. - Khoáng sản: Trên địa bàn thị xã Móng Cái có các loại khoáng sản sau đây: Đá Granit (Lục Phủ), cao lanh (Kim Tinh, Vĩnh Thực), Titan (Trà Cổ, Bình Ngọc, Vĩnh Thực) và cát sỏi dùng cho xây dựng. 44 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Tài nguyên biển: Với chiều dài bờ biển 50 km, có vùng biển rộng, diện tích bãi triều lớn, thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ, hải sản (hiện nay đã khoanh nuôi được 410 ha). - Tài nguyên du lịch: Móng Cái có khí hậu trong lành, bãi biển Trà Cổ bằng phẳng với bãi cát mịn màng; có cửa khẩu Quốc tế nên có khả năng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. 2.1.1.4. Thực trạng môi trường Móng Cái là thị xã Cửa khẩu nằm dọc theo bờ biển, hầu hết dân cư sinh sống dọc theo đới bờ, trên hạ lưu các con sông. Như vậy tất yếu các hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch, sinh hoạt dân cư đã và sẽ làm ô nhiễm các vùng cửa sông, nước biển ven bờ, dần ô nhiễm môi trường sinh thái của Thị xã. Do vậy cùng với việc tăng cường khai thác có hiệu quả các nguồn lợi một cách tối đa nhằm phát triển kinh tế - xã hội, thì việc đầu tư tái tạo, bảo vệ cảnh quan môi trường tương xứng với mức độ đầu tư khai thác và yêu cầu đảm bảo cho phát triển bền vững là điều hết sức cần thiết. 2.1.2. Tình hình xã hội Thị xã Móng Cái Dân số của Móng Cái có gần 8 vạn người, bao gồm 5 dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, Dao, Tày, Hoa, Sán Dìu, có 17 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường và 10 xã). Thị xã Móng Cái cách thành phố Hạ Long (Thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh) 186 km đường bộ. Từ một địa phương trước năm 1990 kinh tế xã hội chậm phát triển, nền kinh tế chủ yếu là thuần nông, lạc hậu, nông nghiệp chiếm tới 80% GDP ... Sau khi thực hiện quyết định 675/TTg và quyết định 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế chính sách ưu đãi phát triển đối với khu kinh tế cửa khẩu, Móng Cái đã có bước phát triển nhanh. Đến nay cơ cấu kinh tế thay đổi, trong đó các ngành thương mại - du lịch - dịch vụ phát triển mạnh, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. 45 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Hiện nay Móng Cái đã trở thành một trong hai trung tâm kinh tế lớn của Tỉnh Quảng Ninh, có vị trí quan trọng trong trục kinh tế trọng điểm Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh; Cửa khẩu Móng cái được xác định là cửa khẩu biên giới bộ quan trọng nhất của Việt Nam và là cửa ngõ quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các nước trong khu vực-Nhất là trong quan hệ hợp tác Việt Nam và Trung Quốc. Với tiềm năng, thế mạnh trên, mục tiêu phát triển của Móng Cái trong những năm tới là: Quyết tâm xây dựng Móng Cái trở thành Thành phố đô thị loại II và là Thành phố Móng Cái trước năm 2010. Thị xã Móng Cái hôm nay, Thành phố Móng Cái-trung tâm kinh tế lớn của đất nước trong tương lai không xa sẽ trở thành hiện thực với thế mạnh mới, sức vươn tới ngày càng cao, nơi địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc Việt nam. 2.2. Điều kiện tự nhiên và xã hội xã Bắc Sơn 2.2.1. Điều kiện tự nhiên 2.2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình Hình 2.1. Bản đồ hành chính xã Bắc Sơn (ảnh chụp) 46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Xã Bắc Sơn thuộc thị xã Móng Cái có tổng diện tích đất tự nhiên là 4.989,79ha. Phía Đông và phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp xã Hải Sơn, phía Nam giáp các xã Hải Tiến, Hải Đông và Hải Yên. Địa hình xã Bắc Sơn khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi độ cao trung bình 150-200m, sườn núi dốc, rừng rậm, điều này đã ảnh hưởng khá rõ đến quá trình hình thành đất. 2.2.1.2. Khí hậu thuỷ văn Xã Bắc Sơn bị ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc và Đông Nam. Hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa đông nhiệt độ thấp, khô lạnh, ít mưa, thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; Mùa hè mưa lớn, có khi mưa rất to, nhiệt độ và độ ẩm cao, thời gian từ tháng 4 đến tháng 9. Nền nhiệt độ trung bình cả năm của Móng Cái là 22,4 0 C, mùa hè nhiệt độ khá cao, trị số trung bình tháng 7 từ 27,9 0 C-28,8 0 C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 36,9 0 C. Trong năm, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 13,0 0 C-15,0 0 C, nhiệt độ thấp nhất 1,1 0 C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.788mm, là một vùng có lượng mưa lớn ở miền Bắc, lượng mưa cao nhất có năm đạt 4.119mm. Bình quân mỗi năm có 161 ngày mưa. Ngày mưa cao nhất đạt tới 348mm. Tuy lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, 84% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Đất đai có độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn. Độ ẩm không khí tương đối cao so với các vùng khác trong tỉnh, trị số trung bình năm đạt 84%, các nơi khác chỉ đạt 81-83%. Chế độ gió: Có hai hướng gió chính là Đông Bắc và Đông Nam. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường là gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió trung bình là 2,3m/s, gió mạnh nhất có tốc độ 4-5m/s, gió thường thổi theo đợt, mỗi đợt kéo dài 3-5 ngày. Từ tháng 5 đến tháng 10 thịnh hành gió Đông Nam, gió được thổi từ biền vào đất liền mang theo nhiều hơi nước, tốc độ gió trung bình từ 2-4m/s. Ngoài ra, ở đây còn xuất hiện bão từ tháng 5 đến tháng 10, tháng nhiều bão nhất là tháng 7 và 8, có tốc độ gió từ 20-40m/s 47 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sương muối xuất hiện vào tháng 1, sương mù xuất hiện vào tháng 2-3, phổ biến trên toàn thị xã. Đây là hiện tượng ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp. Có 2 con suối, có con sông Tràng Vinh bắt nguồn từ đỉnh núi cao chảy vào lòng hồ Tràng Vinh rồi đổ ra biển. Ngoài ra còn có hồ Phình Hồ, đập Thán Phún. Tổng diện tích mặt nước của xã Bắc Sơn khoảng 425 ha. Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu khí hậu của thị xã Móng Cái năm 2007 Tháng Chỉ tiêu khí hậu Nhiệt độ TB ( 0 C) Độ ẩm TB (%) Lƣợng mƣa (mm) Bốc hơi (mm) 1 15,1 71 6,5 90,3 2 19,6 85 28,8 47,9 3 20,0 89 82,1 40,8 4 21,8 82 58,3 68,7 5 26,4 83 178,7 81,6 6 28,6 88 634,3 64,1 7 29,0 86 555,8 75,6 8 28,4 86 405,8 68,3 9 27,0 83 375,5 87,4 10 25,0 76 25,9 128,4 11 19,6 69 5,1 148,3 12 18,8 78 5,4 77,3 2.2.1.3. Đất đai Trên địa bàn xã có các loại đá mẹ sau: - Đá Granit: Là loại đá macma axit, đá có màu xám sáng, kiến trúc hạt vừa, khó phong hoá, khi phong hoá hình thành loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất thường mỏng có lẫn nhiều mảnh vụn thạch anh. Đất được phong hoá từ loại đá này thường chua đến chua vừa. - Đá cát: Có cấu trúc hạt thô chủ yếu là do các hạt cát kết gắn lại với nhau. Khi phong hoá cho đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất có màu vàng nhạt. 48 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Phiến thạch có cấu trúc hạt mịn, thường có màu đỏ và đỏ vàng, đỏ tím. Loại đá này dễ phong hoá cho đất có thành phần cơ giới thịt trung bình đến nặng, tầng đất dày. - Phiến sa thạch: Đặc điểm của loại đá này phân lớp không rõ, có nhiều màu sắc. Đá phiến sa thạch cũng dễ phong hoá, khi phong hoá cho đất có tầng dày thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình. 2.2.1.4. Thảm thực vật Thảm thực vật bao gồm: Rừng trồng, thảm cỏ, cây bụi. Rừng tự nhiên tuy không còn nhiều nhưng khá đa dạng và phong phú về chủng loại, phân bố trên những vùng núi cao từ 400m trở lên. 2.2.2. Điều kiện xã hội Dân số hiện nay của xã là 1332 người, trong đó độ tuổi lao động là 759 người, chiếm 57% dân số toàn xã. Đại đa số dân cư là người dân tộc thiểu số như: Dao, Tày và Sán Chí, những người Kinh ở đây chủ yếu là những gia đình từ các huyện thị khác ở trong và ngoài tỉnh đến sinh sống theo mô hình "hộ dân kinh tế mới". Phong trào văn hoá - văn nghệ, TDTT trong quần chúng được phát triển tốt, thường xuyên tổ chức các trò chơi thôn bản như: Đánh quay, kéo co, nắm vòng cổ chai... Sự nghiệp giáo dục đào tạo đang dần được nâng cao. Hiện nay, tại trung tâm xã có 1 trường Trung học cở sở, 1 trường tiểu học, 1 trường mầm non, trong các thôn bản đều có trường mầm non và tiểu học phân nhánh từ các trường trung tâm xã. Công tác dân số gia đình trẻ em được quan tâm, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Công tác chính sách xã hội cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tích cực hưởng ứng, triển khai cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, các thôn bản 49 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đều ký cam kết phấn đấu thực hiện xây dựng làng văn hoá, 88% các hộ gia đình đăng ký cam kết gia đình văn hoá. Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, lãnh thổ biên giới luôn được giữ vững ổn định. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc luôn được đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, người dân nơi đây sinh sống chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất lúa gạo là chính, chế độ canh tác còn lạc hậu. Việc giao đất giao rừng đã triển khai nhưng hiệu quả còn thấp, rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do khai thác bừa bãi và cháy rừng gây nên. Chăn nuôi gia súc mới chỉ tập trung ở các hộ gia đình, mang tính tự phát, chăn thả tự do, tính đến tháng 12/2007 thì đàn đại gia súc của xã có 543 con trâu và 402 con bò (gồm cả đàn đại gia súc của Trung đoàn 42). Tóm lại, Bắc Sơn là một xã miền núi của thị xã Móng Cái, có địa hình phức tạp, hệ thống giao thông, đi lại còn gặp nhiều khó khăn. Xã Bắc Sơn có đất đai rộng nhưng bình quân đất nông nghiệp thấp, thu nhập của người dân còn thấp. Thực trạng về sản xuất nông nghiệp còn yếu và chưa hợp lý. Để nâng cao mức sống cần có sự chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi và tập quán làm ăn của người dân địa phương. 50 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên CHƢƠNG III ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tƣợng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về phân chia các tiểu vùng sinh thái xã Bắc Sơn, thành phần loài, dạng sống và năng suất các thảm cỏ vùng núi xã Bắc Sơn - Móng Cái. Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của các vùng đất trong toàn xã, gồm các vùng đất đang được người dân sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp và vùng đất đang bỏ hoá. 3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 3.2.1. Điều tra cơ bản vùng nghiên cứu qua số liệu thứ cấp tại địa phƣơng Thu thập số liệu vùng nghiên cứu từ các cơ quan chuyên môn (Uỷ ban Nhân dân xã Bắc Sơn, Trung đoàn 42 thuộc xã Bắc Sơn, phòng Thống kê và 51 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên trạm Khí tượng thị xã Móng Cái) về các vấn đề như: Dân số, đất đai, khí hậu, thuỷ văn, mùa vụ, các kiểu thảm thực vật... 3.2.2. Điều tra ngoài thực địa Dựa vào bản đồ địa hình của xã, xác định các vùng nghiên cứu chính cần điều tra, đánh giá và thu thập mẫu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành lập tuyến điều tra đi qua tất cả các kiểu địa hình và kiểu thảm thực vật, tại mỗi kiểu địa hình và thảm thực vật đều bố trí các ô tiêu chuẩn (1m 2 /1ô). Có 2 tuyến điều tra sau: Tuyến 1 từ Đại vai- Lục Phủ-Cao Lan; tuyến 2 từ Lục Phủ-Phình Hồ-Pẹc Nả- Thán Phún. Ô tiêu chuẩn được bố trí theo các địa hình khác nhau (chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi, các ruộng lúa, soi bãi…). Tại mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành thống kê thành phần loài, dạng sống và sinh khối thảm thưc vật (theo phương pháp Hoàng Chung- 2008), đồng thời lấy mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu hoá học. 3.2.3. Trong phòng thí nghiệm 3.2.3.1 Đối với mẫu thực vật Để xác định tên khoa học của các mẫu, chúng tôi đã sử dụng khoá phân loại hiện hành của tác giả Phạm Hoàng Hộ (1993); Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001, 2003, 2005) của Trung tâm nghiên cứu Tài Nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia. Để xác định dạng sống, chúng tôi sử dụng bảng phân loại dạng sống của từng loài theo phương pháp của Hoàng Chung (2004) Để xác định sinh khối, theo phương pháp của Hoàng Chung (2008), chúng tôi tiến hành cắt mẫu sát đất lấy cả phần sống và phần chết, riêng phần sống được phân chia theo các nhóm: Hoà thảo, Họ cói, cây Họ đậu, cây bụi, … sau đó sấy khô, đem cân và tính giá trị trung bình. Phần sống là toàn bộ phần còn xanh, 52 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên được cân khi tươi và cả khi sấy khô. Phần chết gồm toàn bộ phần cành và lá đã chết (kể cả những phần còn trên cây và phần đã rơi rụng xuống đất). Xác định giá trị chăn thả theo theo pháp Hoàng Chung (2004). 3.2.3.2. Đối với mẫu đất: Các mẫu đất được chúng tôi phân tích tại phòng Thí nghiệm Trung tâm - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Xác định độ pH KCl theo phương pháp đo bằng máy pHmeter: Cho vào bình thuỷ tinh 5g đất đã qua rây 1mm, sau đó thêm vào 25 ml KC l (1N), lắc trong 10 phút rồi ngâm qua đêm, lắc lại và đo trên máy Meter đọc trị số pH ở trên máy. - Xác định hàm lượng mùn (%) theo phương pháp Tiurin: Cân 0,2 gam đất đã qua rây 0,25mm cho vào bình tam giác 100ml, sau đó thêm 5ml dung dịch K2C2r2O7 (0,4N) lắc nhẹ, cắm phễu con trên miệng bình để ngưng lạnh. Sau đó đặt bình trong nồi Parafin, đun sôi dung dịch trong bình 5 phút ở nhiệt độ 170 - 180 0 C trên bếp điện cho đến khi dung dịch không còn màu xanh. Để nguội dung dịch rồi đổ vào bình tam giác, dùng một ít nước cất chia làm 2-3 lần tráng phễu và bình và đổ vào bình tam giác. Thêm 1ml H3PO4 và 8 giọt chỉ thị màu Fenylantranyn, sau đó dùng dung dịch muối Mo chuẩn độ lượng Kali Bicrômmat thừa đến lúc dung dịch biến đổi sang màu xanh và tính kết quả. - Xác định hàm lượng đạm tổng số (N%) theo phương pháp Kjeldahl: Đem mẫu đất đã được công phá chưng cất Kjeldahl với thời gian 20 - 30 phút thu được dung dịch màu tím đỏ, sau đó chuẩn độ bằng NaOH 0,02N, dung dịch từ tím đỏ chuyển sang màu lục và tính kết quả. - Xác định lượng lân tổng số (P2O5%) theo phương pháp quang phổ hấp phụ: Lấy 5ml dung d ịch mẫu sau khi đã công phá cho vào bình thuỷ tinh, chỉnh độ pH đến 7 bằng dung dịch NaOH 10%, sau đó thêm 10ml H2SO4 5N, thêm 1,25ml dung d ịch Amonimolipdat 2% và 3ml dung d ịch axit Ascobic 1N. Đun 53 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cách thuỷ trên bếp khi cường độ màu lớn nhất, để nguội đến nhiệt độ phòng, định mức đến 50ml, đem so màu trên máy DERLL/2000, số đọc là P2O5. - Xác định hàm lượng Kali tổng số (K2O%) theo phương pháp quang phổ phát xạ: Nguyên tắc của phương pháp này thu bức xạ nguyên tử Kali phát ra dưới tác dụng kích thích của ngọn lửa hồ quang. Khi bức xạ này đi qua máy hồ quang phổ nhiễm xạ thu được phổ bức xạ. Cường độ vạch phổ tỷ lệ với nồng độ nguyên tố kali trong mẫu. Đo cường độ vạch phổ ta tính được nồng độ nguyên tố. Phép đo thực hiện trên máy quang phổ loại DFS 8-3, độ nhạy vạch là 0,01%. CHƢƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4.1. Xây dựng bảng phân loại các tiểu vùng sinh thái 4.1.1. Nguyên tắc và căn cứ để phân chia các tiểu vùng sinh thái * Nguyên tắc: Để phân chia các tiểu vùng sinh thái cho xã Bắc Sơn, chúng tôi sử dụng cả những tiêu chí cho phân vùng sinh thái và phân vùng kinh tế, đó là những yếu tố thuộc môi trường tự nhiên và những tác động của con người làm biến đổi sâu sắc đến môi trường tự nhiên. Mục tiêu phân chia các tiểu vùng sinh thái là để đánh giá thực trạng và mức độ hiện đang khai thác của các vùng này, từ đó có định hướng sử dụng trong tương lai. Vì vậy chúng tôi chỉ đề cập đến những vùng đất có thể sử dụng cho phục vụ chăn nuôi đại gia súc * Những căn cứ dùng để phân chia các tiểu vùng sinh thái Để phân chia các tiểu vùng sinh thái thì yếu tố khí hậu là rất quan trọng, tuy nhiên sự thay đổi về khí hậu trong phạm vi một xã là không lớn và được coi là giống nhau. Chúng tôi sử dụng một số tiêu chuẩn sau làm căn cứ để phân chia các tiểu vùng. - Địa hình: Bao gồm độ cao so với mặt sông, độ dốc, rộng hay hẹp và hướng phơi. - Đất đai: Căn cứ vào hàm lượng mùn, pH, N, P, K để phân thành 4 cấp: Đất tốt, đất trung bình, đất xấu và rất xấu. - Nguồn nước: Nước mưa và nước trong các sông, hồ. - Thảm thực vật là tự nhiên hay cây trồng. - Hình thức và mức độ tác động của con người. Ở đây chúng tôi chỉ điều tra ở mức xác định xem có bao nhiêu tiểu vùng tồn tại trong giới hạn một xã, chưa đủ điều kiện để vẽ ranh giới giữa các tiểu vùng sinh thái. Các tiểu vùng thuộc hệ thống sông, suối, ao, hồ cũng chưa được chúng tôi đề cập đến trong kết quả phân loại dưới đây. 55 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bảng 4.1: Tiêu chuẩn dùng để phân loại các tiểu vùng sinh thái 1. Địa hình: - Độ cao: Dưới 10 m so với mặt sông; từ 10 - 50 m. - Độ dốc: Dưới 5 0 , từ 5 - 15 0 , trên 15 0 . - Độ rộng: Dưới 5 ha, trên 5 ha. - Hướng phơi: Đông, Tây, Nam, Bắc, Tây-Bắc, Đông-Nam... 2. Thuỷ văn - Có nguồn nước quanh năm, đủ nước trong mùa hè (có thể là nước nguồn hay nước mưa), thiếu nước quanh năm. 3. Đất: Dựa vào tiêu chuẩn phân loại đất của Nguyễn Lam Điền (2005) phân thành 4 cấp (tốt, trung bình, xấu và rất xấu), riêng tỷ lệ mùn có hạ thấp hơn. - Đất tốt: Gồm đất phù sa, đất thịt, mùn từ 4% trở lên; pHKCl từ 6-7; N trên 0,25%; P2O5 trên 0,1%; K2O từ 0,4% trở lên. - Đất trung bình: Đất có tỷ lệ cát hơi cao, đất sét, mùn từ 1,8 đến dưới 4%; pHKCl từ 5,5-7,5; N từ 0,09-0,25%; P2O5 từ 0,05- 0,1%; K2O từ 0,2 đến dưới 0,4%. - Đất xấu: Tỷ lệ cát rất cao, mùn từ 0,8 đến dưới 1,8%; pHKCl từ 4,0-5,4; N từ 0,04-0,08%; P2O5 dưới 0,04%; K2O dưới 0,2%. - Đất rất xấu: Nhiều cát sỏi hay đá ong, mùn từ dưới 0,8%; pHKCl dưới 4,0; N dưới 0,04%; P2O5 dưới 0,04%; K2O dưới 0,2%. 4. Thảm thực vật và tác động của con người - Thảm thực vật tự nhiên (Rừng, thảm cây bụi, thảm cỏ, guột…) 56 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Rừng trồng. - Cây trồng (lúa 1 vụ, lúa 2 vụ, ngô) - Đất bỏ hoá. 4.1.2. Kết quả phân loại các tiểu vùng sinh thái * Vùng đất bằng có độ cao dưới 10m so với mặt sông - Đất bằng phẳng (độ dốc dưới 5 0 ), rộng dưới 5ha, nằm giữa hai sườn núi nên thiếu ánh sáng, đất trung bình, có nguồn nước quanh năm, trồng 1 vụ lúa. - Đất bằng phẳng, rộng dưới 5ha, nằm giữa hai sườn núi nên thiếu ánh sáng, đất trung bình, chỉ có nước trong mùa hè, trồng 1 vụ lúa. - Đất bằng phẳng, rộng dưới 5ha, nằm giữa hai sườn núi nên thiếu ánh sáng, đất xấu, đủ nước trong mùa hè, hiện đang bị bỏ hoá. - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất trung bình, có nguồn nước quanh năm, trồng 2 vụ lúa. - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất trung bình, đủ nước trong mùa hè, trồng 1 vụ lúa và 1 vụ mầu. - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất xấu, thiếu nước quanh năm, hiện đang bị bỏ hoá. * Vùng đất bằng có độ cao trên 10m và dưới 50m so với mặt sông - Đất bằng phẳng, rộng dưới 5ha, đất trung bình, đủ nước trong mùa hè, trồng 1 vụ lúa và 1 vụ mầu. - Đất bằng phẳng, rộng dưới 5ha, đất rất xấu, đủ nước trong mùa hè, hiện đang bị bỏ hoá. 57 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất trung bình, có nguồn nước quanh năm, trồng 2 vụ lúa. - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất trung bình, đủ nước trong mùa hè, trồng 1 vụ lúa và 1 vụ mầu. - Đất bằng phẳng, rộng trên 5ha, đất xấu, thiếu nước quanh năm, hiện đang bị bỏ hoá. * Vùng đất có độ dốc dưới 15 0 , độ cao dưới 50m so với mặt sông - Vùng đất dốc, rộng dưới 5ha, đất trung bình, hướng Tây Bắc, gần nguồn nước, trồng mầu, cây ăn quả và cây lâu năm. - Vùng đất dốc, rộng dưới 5ha, đất trung bình, hướng Đông Nam, gần nguồn nước, trồng 1 vụ lúa. - Vùng đất dốc, rộng dưới 5ha, đất xấu, thiếu nước quanh năm, nương rẫy bỏ hoá, trồng rừng. - Vùng đất dốc, rộng trên 5ha, đất xấu, đủ nước trong mùa hè, trồng rừng và rừng tự nhiên. * Nhóm tiểu vùng đất dốc trên 15 0 - Vùng đất dốc, rộng trên 5ha, đất xấu, thiếu nước, là các đồi cỏ, guột và cây bụi, hiện nay đang tiến hành trồng rừng hay bỏ hoá. - Vùng đất dốc, rộng trên 5ha, đất rất xấu, thiếu nước, là các đồi cỏ, guột và cây bụi, hiện nay đang tiến hành trồng rừng hay bỏ hoá. 4.2. Mức độ khai thác hiện nay của các tiểu vùng - Nhóm tiểu vùng sinh thái đất bằng, độ dốc dưới 5 0 , cao so với mặt sông dưới 10m, rộng trên 5ha, đất thuộc loại trung bình có hàm lượng mùn từ 2,86- 2,89%, N từ 0,17-0,18%, pHKCl từ 4,54-4,70, P2O5 từ 0,05-0,09%, K2O từ 0,40- 58 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 0,42%. Nước đủ quanh năm, hiện đang là những vùng trồng 2 vụ lúa/năm với năng suất khoảng 9,7 tấn/ha. Bao gồm: Lục Phủ và Phình Hồ. - Nhóm tiểu vùng sinh thái đất bằng, độ dốc dưới 5 0 , cao so với mặt sông trên 10m và dưới 50m, rộng trên 5ha, đất thuộc loại trung bình có hàm lượng mùn từ 2,84-2,87%, N từ 0,16-0,18%, pHKCl từ 4,32-4,62, P2O5 từ 0,01-0,06%, K2O từ 0,35-0,39%. Nước đủ quanh năm, hiện đang là những vùng trồng 2 vụ lúa/năm với năng suất khoảng 9,7 tấn/ha. Bao gồm: Lục Phủ và Phình Hồ. - Nhóm tiểu vùng sinh thái đất bằng, độ dốc dưới 5 0 , cao so với mặt sông dưới 50m, đất thuộc loại xấu và rất xấu có hàm lượng mùn từ 2,22-2,83%, N từ 0,14-0,2%, pHKCl từ 3,63-3,72, P2O5 từ 0,01-0,02%, K2O từ 0,7-2,54%. Nước đủ trong mùa hè, có nơi thiếu quanh năm, hiện đang bị bỏ hoá. Bao gồm: Cao Lan, Lục Phủ, Phình Hồ và Đại Vai. - Nhóm tiểu vùng sinh thái đất dốc dưới 15 0 , cao so với mặt sông dưới 50m, rộng trên 5ha, đất thuộc loại trung bình có hàm lượng mùn từ 2,80-4,33%, N từ 0,12-0,21%, pHKCl từ 3,99-4,29, P2O5 từ 0,04-0,1%, K2O từ 0,35-1,55%. Nước đủ trong mùa hè, hiện đang là những vùng trồng 1 vụ lúa và 1 vụ ngô/năm hay chỉ 1 vụ lúa, năng suất ngô khoảng 3,2 tấn/ha/vụ. Bao gồm: Đại Vai, Thán Phún, Phình Hồ và Pẹc Nả. - Tiểu vùng sinh thái đất dốc dưới 15 0 , cao so với mặt sông dưới 50m, rộng trên 5ha, đất xấu có hàm lượng mùn là 1,80%, N là 0,15%, pHKCl là 3,58, P2O5 là 0,01%, K2O là 1,1%. Nước đủ trong mùa hè, có nơi thiếu quanh năm, hiện nay địa phương đang tiến hành trồng rừng, một số nơi bỏ hoá. Bao gồm: Cao Lan, Đại Vai, Thán Phún và Phình Hồ. - Nhóm tiểu vùng đất dốc trên 15 0 , rộng trên 5ha, đất xấu và rất xấu có hàm lượng mùn dưới 2,0%, N từ 0,12-0,18%, pHKCl dưới 3,0, P2O5 từ 0,03-0,07%, K2O từ 0,5-1,7%, đất thiếu nước, là các đồi cỏ, guột và cây bụi, hiện nay đang 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên tiến hành trồng rừng, một số nơi bỏ hoá. Bao gồm: Cao Lan, Lục Phủ, Đại Vai, Thán Phún, Phình Hồ và Pẹc Nả. 4.3. Thực trạng về các tiểu vùng đang khai thác làm bãi chăn thả gia súc 4.3.1. Thảm cỏ trong các bãi đất hoang hoá Tại các thảm cỏ trong bãi đất hoang hoá, chúng tôi đã tiến hành điều tra thu thập số liệu tại 3 điểm: Bãi soi bỏ hoang Cao Lan (điểm nghiên cứu số 1), ruộng bỏ hoang ở Đại Vai (điểm nghiên cứu số 2) và Bãi soi bỏ hoang Lục P

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLV_08_SP_SH_NAH.pdf
Tài liệu liên quan