Đề tài Theo dõi một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trung tâm thực hành thực nghiệm trường đại học nông lâm Thái Nguyên và áp dụng một số phác đồ điều trị

Tài liệu Đề tài Theo dõi một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trung tâm thực hành thực nghiệm trường đại học nông lâm Thái Nguyên và áp dụng một số phác đồ điều trị: Lời nói đầu Quá trình thực tập giúp cho sinh viên tiếp cận thực tế, củng cố những kiến thức đã học, đông thời áp dụng lí thuyết vào thực tế sản xuất. Thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian giúp cho sinh viên rèn luyện, học hái kinh nghiệm để tích luỹ cho bản thân. Để hiểu biết thêm về một số bệnh sinh sản ở lợn nái vá áp dụng một số phác đồ điều trị nhằm nắm vững kiến thức thực tế và nâng cao tay nghề. Được sự nhất trí của khoa chăn nuôi thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Phương Lan và tiếp nhận của Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Theo dõi một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và áp dụng một số phác đồ điều trị”. Trong quá trình nghiên cứu khoa học với sự nỗ lực cố gắng của bản thân nhưng thời gian thực tập có hạn chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót.Vậy em kính mong được sự ...

doc37 trang | Chia sẻ: hunglv | Ngày: 24/12/2013 | Lượt xem: 206 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Theo dõi một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trung tâm thực hành thực nghiệm trường đại học nông lâm Thái Nguyên và áp dụng một số phác đồ điều trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Quá trình thực tập giúp cho sinh viên tiếp cận thực tế, củng cố những kiến thức đã học, đông thời áp dụng lí thuyết vào thực tế sản xuất. Thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian giúp cho sinh viên rèn luyện, học hái kinh nghiệm để tích luỹ cho bản thân. Để hiểu biết thêm về một số bệnh sinh sản ở lợn nái vá áp dụng một số phác đồ điều trị nhằm nắm vững kiến thức thực tế và nâng cao tay nghề. Được sự nhất trí của khoa chăn nuôi thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Phương Lan và tiếp nhận của Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Theo dõi một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và áp dụng một số phác đồ điều trị”. Trong quá trình nghiên cứu khoa học với sự nỗ lực cố gắng của bản thân nhưng thời gian thực tập có hạn chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót.Vậy em kính mong được sự đóng góp quí báu của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn ! Lời cảm ơn Sau 4 tháng thực tập tại Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Trong quá trình thực tập em đã được sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Phương Lan, sù giúp đỡ của các Thầy cô trong khoa chăn nuôi thú y, sự chỉ bảo tận tình của cán bộ công nhân viên Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên .Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Phương Lan đã hướng dẫn tận tình cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa chăn nuôi thú y Trường ĐHNL Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô,các cô chú cán bộ và công nhân viên của Trung Tâm Thực Hành Thực Nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã hết sức giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. Sinh viên DƯƠNG VĂN THUẦN Phần 1 : mở đầu 1.1.đặt vấn đề. Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ. Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau thì ngành chăn nuôi cũng giữ vị trí quan trọng, đóng góp một phần lớn trong sự phát triển của đất nước, trong đó chăn nuôi lợn là một bộ phận rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Một thực tế lợn thịt là một nguồn thực phẩm không thể thiếu cho nhu cầu con người. Sản phẩm phụ từ lợn cung cấp thêm phân bón cho ngành trồng trọt, da còn là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Hiệu quả kinh tế mà ngành chăn nuôi lợn đem lại là rất lớn. Lợn có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn, đặc biệt là khả năng tiêu hoá thức ăn thô xanh. Với tiến bộ khoa học, các hộ chăn nuôi ngày nay đã chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại. Song song với sự phát triển đó là hàng loạt các vấn đề về quản lí, kĩ thuật trong chăn nuôi, đặc biệt là dịch bệnh đã và đang gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi. Bên cạnh những dịch bệnh xẩy ra như dịch tả, phó thương hàn, gần đây nhất là dịch bệnh tai xanh (PPRS)....Trong đó một loại bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi, đó là bệnh phân trắng lợn con. Bệnh phân trắng lợn con ảnh hưởng sấu đến đàn lợn con, làm cho lợn con bị còi cọc, chậm lớn, ảnh hưởng đến phẩm chất cũng nh­ chất lượng giống. Do đó, chúng ta phải có biện pháp phòng trị phù hợp để làm giảm tối thiểu ảnh hưởng của bệnh đến hiểu quả kinh tế . Một thực tế đang diễn ra, đó là trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc thú y được sản xuất ra để điều trị bệnh phân trắng lợn con và đã đem lại kết quả khả quan. Để góp phân nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi cho đàn lợn nói chung và điều trị bệnh lợn con phân trắng nói riêng, đồng thời là cơ sở để đánh giá hiệu lực của hai loại thuốc trong điều trị bệnh ở huyện Đoan Hùng - Phú Thọ, chúng tôi tiến hành chuyên đề “Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ và so sánh hiệu lực của hai loại thuốc TD.Flox 5%, Anfox 10% trong điều trị”. 1.2 .ĐIỀU KIÊN THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ. 1.2.1.Điều kiện bản thân. Sau 4 năm học tại trường với sự cố gắng hết mình của bản thân, đồng thời với sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, tôi đã có lượng kiến thức cơ bản để đi vào thực tiến sản xuất. Trước nhu cầu cấp thiết của ngành chăn nuôi của huyện Đoan Hùng, cùng với sự hướng đẫn của cô giáo, tôi đã tiến hành chuyên đề :“Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con ở huyện Đoan Hùng, Tỉnh Phú Thọ và so sánh hiệu lực của hai loại thuốc TD.Flox 5%, Anflox 10% trong điều trị”. 1.2.2.Điều kiên cơ sở địa phương. 1.2.2.1.Điều kiện tự nhiên. * Vị trí địa lí Đoan Hùng là huyện miền núi nằm ở phía đông bắc của tỉnh Phú Thọ có diên tích tự nhiên là 30261,34 ha . Phía bắc giáp tỉnh Yên Bái . Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Phía đông giáp huyện Phù Ninh, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ . Phía tây giáp huyện Hạ Hoà ,tỉnh Phú Thọ. Đoan Hùng có 27 xã và một thị trấn có con Sông Lô, Sông Chẩy, có quốc lộ 70 và quốc lộ 2 chạy qua nên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội của huyện. * Địa hình đất đai. Huyện Đoan Hùng chải dài theo dòng Sông Chẩy và Sông Lô, địa hình của huyện phức tạp, có địa hình dốc, bậc thang, lòng chảo tạo cho huyện có hệ thống núi thấp, đồi bát úp, có vùng bán sơn địa hình thành sườn đồi ruộng bậc thang, có vùng đông bằng hồ đầm . Vùng đất đồi núi trên nền đá mẹ và mẫu chất chủ yếu là đá biến chất và phù xa cổ, chịu sự tác động sâu sắc của quá trình sói mòn rửa trôi các quá trình tích luỹ tuyệt đối và tích luỹ tương đối Fe, Al . Đất vùng đồng bằng, thung lũng chịu sự chi phối của các quá trình hội tụ phù sa của con Sông Lô, quá trình tích lũy các sản phẩm rửa trôi từ trên cao xuống. Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 30261,34 ha trong đó : Diện tÝch đất nông nghiệp là 25243,12ha chiếm 83,40% tổng diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất phi nông nghiệp là 4349,64 ha chiếm 14,40% tổng diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất chưa sử dụng là 668,58ha chiếm 2,2% tổng diện tích đất tự nhiên. * Khí hậu thuỷ văn . Khí hậu ở đây thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh nhiệt độ trung bình khoảng 240C đến 300C, lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1600 đến 1800 mm, nhưng lại phân bố không đều trong năm. Mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 78% tổng lượng mưa hàng năm, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 22% tổng lượng mưa cả năm. Độ Èm trung bình từ 82 đến 84%, Đoan Hùng có 2 mùa gió chính là gió đông bắc và gió đông nam. Gió đông bắc thường thổi từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau gây ra mùa khô hanh, gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi nước gây ra mưa rào . Nguồn nước sông ngòi ở Đoan Hùng rất rồi rào con Sông Chẩy và Sông Lô có chữ lượng nước lớn kể cả mùa đông và mùa hè. Đây là nguồn nước rồi rào đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho đời sống nhân dân trong huyện và sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và giao thông đường thuỷ, cung cấp nước cho công nghiệp xây dựng và các nhu cầu sinh hoạt khác. Ngoài ra nguồn nước hồ đầm của huyện chiếm diện tích khá lớn bao gồm các hồ đầm tự nhiên và hồ đầm nhân tạo nguồn nước này có chữ lượng khá lớn cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt, sản suất nông nghiệp của nhiều xã . Nguồn nước ngầm: Trên thực tế tại Đoan Hùng nước ngầm đã được khai thác và sử dụng từ lâu,đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt của mỗi gia đình. Nước ngầm tại Đoan Hùng chất lượng tốt và dễ khai thác. Điều kiện khí hậu ở đây thuận lợi cho cây trồng đặc biệt là cây ăn quả và cây lâm nghiệp. Do mùa đông khí hậu lạnh thời tiết thay đổi nên chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Những điều kiện bất lợi này đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, sức trống chịu bệnh tật của gia sóc, gia cầm. Mùa hè khí hậu nóng Èm mưa nhiều nhiệt độ cao là điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ gia sóc, gia cầm . * Giao thông . Huyện Đoan Hùng có tuyến quốc lộ 2 và quốc lộ 70 chạy qua với tổng chiều dài là 39 km. Bên cạnh đó hệ thống đường tỉnh lộ và các tuyến giao thông nông thôn được bố trí hợp lí tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hoá trên địa bàn huyện cũng nh­ với các huyện lân cận. Giao thông đường thuỷ cũng rất thuận lợi. * Thuỷ lợi . Huyện Đoan Hùng có tuyến Sông Chẩy và Sông Lô với tổng chiều dài là 32 km là nguồn nước cung cấp chính cho công tác thuỷ lợi của huyện, hệ thống kênh mương được kiên cố hoá tương đối lớn và bố chí hợp lý. 1.2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội . * Về kinh tế . Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề nh­ trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, công nghiệp ... Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 9,1% /năm. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng bình quân đật 60%/năm. Tổng sản lượng lương thực đạt 46904 tấn,bình quân lương thực đạt 431 kg/người/năm. Độ tre phủ rừng đạt 44,4%. Giá trị sản suất công nghiệp xây dựng tăng bình quân 14,5% / năm . Giá trị dich vụ thương mại tăng bình quân 12,1%/năm . Thu nhập bình quân đầu người đạt 3,89 triệu đồng/người/năm . Tỉ trọng cơ cấu kinh tế: nông lâm nghiệp chiếm 50,2%. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 29%. Thương mại dịch vụ đạt 20,8%. Tỉ lệ hộ đói nghèo còn 3,84%. * Xã hội. Tổ chức quản lí cấp cơ sở, tổ chức nhà nước cấp huyện: - UBND huyện. - UBND xã, thị trấn, khu phố, xóm, đội sản xuất. Tổ chức ngành nông nghiệp huyện gồm: -Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn. -Trạm thó y và trạm bảo vệ thực vật. Về dân số: -Tổng dân số 108.826 người -Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,98%. Về giáo dục: Hiện nay toàn huyện có 4 trường THPT, 26 trường THCS và 28 trường tiểu học. Hiện nay toàn bộ các xã đều có trường mẫu giáo riêng ở các khu hành chính, đến nay đã có 9 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia. Về văn hoá thể dục thể thao: Trên địa bàn huyện đã xây dựng được nhà văn hoá trung tâm,có trạm phát thanh và truyền hình ở trung tâm huyện. Hầu hết các xã đÒu có khu văn hoá thể thao, có phong trào tập luyện, vui chơi sôi nổi. Tại trung tâm huyện đẫ xây dựng được một sân vận động trung tâm phục vô giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao trong huyện. Về y tế: Công tác ytế được tập trung chỉ đạo tích cực thực hiện đầy đủ mục tiêu, kế hoạch. Các chương trình y tế quốc gia, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nâng cao. Có 28/28 xã có bác sỹ làm việc tại tram y tế xã. Có 4 xã đạt “Chuẩn quốc gia về y tế xã”, có một bệnh viện đa khoa cấp huyện. 1.2.2.3.Tình hình phát triển ngành nông nghiệp. *Ngành chăn nuôi: Huyện có đàn gia sóc, gia cầm phát triển mạnh. Chăn nuôi ngày càng đựơc mở rộng và đã trở thành thế mạnh của toàn huyện đặc biệt là chăn nuôi lợn, tổng đàn lợn của toàn huyện có 54078 con sản lượng đạt 277.000 tấn, vài năm gần đây người dân đã mạnh dan học hỏi kinh nghiệm, kiến thức và các tiến bộ khoa học kĩ thuật, cùng với đó là mạnh dạn đầu tư cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn. Người dân đã chuyển từ tận dụng thức ăn thừa nay đã chuyển sang hình thức công nghiệp, bán công nghiệp. Tổng đàn trâu có 10.518 con, đàn bò có 6487 con. Trong đó, huyện rất chú trọng đến chương trình “Sin hoá đàn bò”. Nâng cao cải tạo chất lượng đàn bò thịt. Tổng đàn gia cầm có số lượng là 574.450 con có sản lượng khoảng 86.000 tấn, qui mô và hình thức chăn nuôi của các gia đình rất đa dạng tuỳ thuộc vào diện tích trang trại và vốn. Ngành trồng trọt. Tổng diện tích gieo cấy trên toàn huyện là 7300 ha/năm,năng suất đạt 52 tạ/ha. Diện tích trồng ngô 2300 ha năng suất 40 tạ / ha. Ngoài trồng lúa và hoa mầu thì các cây ăn quả lâu năm nh­ bưởi, nhãn, vải hàng năm cho thu nhập đáng kể. Các cây chè, măng bát độ mấy năm gần đây có hiệu quả kinh tế cao các gia đình trồng với diện tích lớn theo hướng chuyên canh. 1.2.2.4.Tình hình hoạt động của mạng lưới thú y trong huyện. *Cơ cấu tổ chức mạnglưới thú y trong huyện. Hệ thống thú y được hình thành gồm có 01 trạm trưởng, 01 trạm phó có 11 cán bộ sự nghiệp thường xuyên phối hợp phân chia hoạt động tại các xã trên địa bàn huyện. Nhiệm vô: Trạm thó y huyện là một đơn vị nằm trong hệ thống thú y của nhà nước chịu sự quản lý chuyên môn về ngành dọc, trong những năm qua mặc dù biên chế rất Ýt song trạm vẫn tổ chức làm tốt một số việc: Tổ chức tiêm phòng cho đàn gia sóc, gia cầm định kì hàng năm. Kịp thời ngăn chặn dịch bệnh xẩy ra trên đàn gia sóc, gia cầm. Tổ chức tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học kĩ thuật, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi và vận động nhân dân cùng thực hiện. Cấp phát hoặc thu hồi về các loại giấy tờ về quản lÝ nhà nước trong lĩnh vực thú y. 1.2.2.5.Đánh giá chung thuận lợi, khó khăn. * Thuận lợi. Huyện Đoan Hùng có tình hình chính trị an ninh ổn định, nhiều chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành đã tạo môi trường và động lực để huy động nguồn lực cho sự phát triển toàn diện, bền vững các ngành sản xuất. Huyện có đường quốc lé 2 và quốc lộ 70 chạy qua, có Sông Lô và Sông Chẩy đó là điều kiện rất thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển, tiêu thụ hàng hoá, giao lưu văn hoá và chuyển giao khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Trong sản xuất ngành trồng trọt, chăn nuôi đã áp dụng được nhiều tiến bộ khoa học vào sản xuất. Do hệ thống khuyến nông rất phát triển đây là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất. * Khó khăn. Do nguồn vốn đầu tư Ýt, trình độ hiểu biết kĩ thuật còn hạn chế đa phần người dân tự mầy mò học hỏi chưa được tập huấn kĩ thuật chăn nuôi có quy mô nên tỉ lệ dủi do trong chăn nuôi còn cao, cùng với đó giá cả thị trường không ổn định dẫn đến thu nhập của người dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp không ổn định. Điều này ảnh hưởng đến phong trào sản xuất của người dân góp phần hạn chế sự phát triển của ngành. 1.3. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ. -Đánh giá tình hình chung về tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại địa bàn xã Nghinh Xuyên. -So sánh hiệu lực của hai loại thuốc TD Flox 5% và Anflox10%. -Rèn luyện tay nghề, nâng cao những hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễn. 1.4 .TỔNG QUAN TÀI LIỆU: 1.4.1. Cơ sở khoa học. 1.4.1.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi. * Điều kiện sinh trưởng phát dục Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng phát dục rất nhanh. So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lóc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 -6 lần, lóc 40 ngày tuổi tăng 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc Lợn con sau khi sinh có sự sinh trưởng và phát triển nhanh. Qua nhiều nghiên cứu từ thí nghiệm và thực tế sản xuất thấy rằng so sánh trọng lượng sơ sinh với trọng lượng 10 ngày tuổi khối lượng tăng 2 lần, sau 30 ngày tuổi tăng 5 đến 6 lần và 60 ngày tuổi tăng 12 đến 14 lần trọng lượng lúc sơ sinh. Do sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng đồng hoá và trao đổi chất của lợn rất mạnh một lợn con đẻ sau 20 ngày mỗi ngày cần tích luỹ 9-14 gr Protein/kg thể trọng. Trong khi đó lợn trưởng thành cần tích luỹ 0,3- 0,4 gr Protein. Qua đó ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn trưởng thành chênh lệch nhau khá lớn, đặc điểm sinh trưởng của lợn kéo theo sự biến đổi cơ thể theo tuổi .Hàm lượng protein cũng tăng theo tuổi, hàm lượng khoáng cũng có những biến đổi riêng liên quan đến quá trình tạo xương, cơ qua tiêu hoá của lợn cũng phát triển một cách rõ dệt nhưng chưa hoàn thiện, các tuyến tiêu hoá chưa phát triển đồng bộ. Dung tích của bộ máy tiêu hoá nhỏ và trong 2 tháng đầu phát triển nhanh chóng. Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự 1996 [18] cho rằng lợn con trước 01 tháng tuổi trong dịch vị không có HCL tù do. Vì lúc này lượng axit tiết ra rất Ýt và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy. Vì thiếu HCL tù do trong dịch vị nên vi sinh vật có điều kiện phát triển bện đường dạ dầy, ruột ở lợn con, điển hình là bệnh phân trắng lợn con. Không chỉ riêng dạ dầy mới có sợ phát triển không hoàn thiện mà quá trình sinh lÝ sinh hoá trong ruột non và các tuyến tiêu hoá chưa có sự phát triển hoàn chỉnh, do đó khả năng cảm nhiễm bệnh đường tiêu hoá rất cao. Mặt khác cơ năng điều tiết cũng chưa được thải ra môi trường xung quanh. Biến động nhiệt độ môi trường thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh nhiệt và toả nhiệt ở cơ thể lợn con. Nhiệt độ môi trường thấp, toả nhiệt cơ thể tăng quá trình sinh nhiệt giảm. Do nước ta nằm ở khu vực khi hậu gió mùa, biên độ giao động giữa hai mùa là rất lớn (Nhiệt độ trung bình mùa hè là 27 – 290C mùa đông là từ 15 –180C) lại do quá trình điều tiết nhiệt kém nên đã tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển mạnh, nhất là bệnh phân trắng lợn con.Vì khả năng sinh trưởng mạnh yêu cầu dinh dưỡng ngày càng cao mà lượng sữa mẹ giảm dần theo ngày tuổi. Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng ở lợn con ở thời kì 03 tuần tuổi và sau cai sữa giảm tới mức độ tối đa thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. 1.4.1.2.Vi khuẩn E.coli. * Đặc tính sinh học. Trực khuẩn Escherichia co li thuộc họ Escherichia thuộc nhóm Escherichia, loài Escherichia, trong các nhóm vi khẩn đường ruột, loài Escherichia là loài phổ biến nhất (Giáo trình vi sinh vật – thó y 1997). Hình thái: E.coli là môt trực khuẩn ngăn, hai đầu tròn ,kích thước 2-3 x 0,6 nm những loai này thường găp trong canh khuẩn già. Phần lớn E .coli di chuyển có lông quanh thân, nhưng một số không thấy di động. Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô, dưới kính hiển vi điện tử có thể quan sát thất cấu trúc pili mang kháng nguyên bám dính. Khi nhuộm Gram thì thấy vi khuẩn bám mầu gram âm, có thể bắt mầu sẫm ở hai đầu. Lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc nhầy đÓ nhuộm thì có thể thấy giáp mô, khi soi tươi thì không thấy được. Nuôi cấy: E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 5 – 40 0C, nhiệt độ thích hợp là 370C, phát triển được ở độ PH 5,5 – 8 nhưng thích hợp nhất ở 7,2 – 7,4 . E.coli dễ dàng phát triển trên môi trường nuôi cấy thông thường, một số chủng có thể phát triển được ở môi trường tổng hợp đơn giản. + Môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy ở 37 0C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc chuyển màu gần như nâu nhạt và mọc rộng ra. Có thể qua sát thấy khuẩn lạc dạng R và M. + Môi trường thạch pepton: Sau khi nuôi cấy 18 – 24 giờ bồi dưỡng trong tủ Êm chúng mọc thành những khuẩn lạc Èm ướt, ánh mầu xám kích thước trung bình, dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên, có nếp nhăn và bề mặt bóng láng. + Môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển tốt, môi trường đục, có cặnh mằu trắng tro nhạt lắng xuống dưới đáy, đôi khi có màng mầu sáng nhạt trên bề mặt môi trường , môi trường có mùi phân thối. + Môi trường thạch máu: Sau 24 giờ nuôi cấy ở nhiệt độ 370C hình thành khuẩn lạc mầu sáng kích thước 1 –2 nm. + Môi trường Endo: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc mầu đỏ mận chín có ánh kim hoạc khônhg có ánh kim. + Môi trường SS : E .coli có khuẩn lạc mầu đỏ. * Đặc tính sinh hoá. E.coli lên men sinh hơi các loại đường Fructose, Glucose, Galatose, Lactose, Mannit, Dextrose. Trừ Andonit và Inozit E.coli là không lên men. Lên men không chắc chắn cácloại đường Dulcitol, Saccharose. Các phản ứng khác: H2S, VP, Urea cho âm tính. MR ,Indol cho dương tính. Sữa đông sau 24 – 72 giờ ở 370C. Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông. E.coli có khả năng khử Nitra thành Nitrit, khử cacbocyl trong môi trường Lysindecacboxulase. * Cấu trúc kháng nguyên. Kháng nguyên của vi khuẩn E.coli rất phức tạp bao gồm các kháng nguyên: O, H và K. - Kháng nguyên O. Đây là thân của vi khuẩn được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, kháng nguyên O được coi là nội độc tố có thể tìm thấy ở màng ngoài màng bọc vi khuẩn và thường xuyên được giải phóng vào mổi trường nuôi cấy. Kháng nguyên O có các đặc tính sau: Chịu được nhiệt độ (Không bị phá huỷ khi đun ở nhiệt độ 1000C trong 2 giê) chịu được chất cồn, axit HCL trong 2 giờ bị phá huỷ bởi Foocmol 0,5% . - Kháng nguyên H: Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn , có bản chất là protein giống nh­ chất Myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600C trong 1 giê, bền với Foocmol 0,5%. - Kháng nguyên K: Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt chúng bao quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là Polysaccharide. Nhiều ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham ra bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng vệ của cơ thể. * Độc tè. Vi khuẩn E.coli tạo ra hai loại độc tố là nội dộc tố và ngoại độc tố. - Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt dễ phân huỷ ở 560C trong vòng 10 giê 30 phút dưới tác dụng của Foocmol và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có ảnh hưởng đến hệ thần kinh và gây hoại tử. - Nội độc tố: Là yếu tố gây độc chủ yếu của vi khuẩn, chúng có trong tế bào vi khuẩn và gắn vào vi khuản rất chặt chẽ, nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoạc chiết xuất bằng Axittrichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzim. 1.4.1.3 Hiểu biết về bệnh phân trắng lơn con. Vi khuẩn của đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở nhiệt độ 600C trong vòng 15,5 giờ và bị diẹt ở 1000C. Trong đất và nước E.coli sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường nh­ axitphenic, Foocmol ... ,có thể diệt E.coli trong 5 phót, E.coli đề kháng với sự xấy khô chúng có độ nhậy cảm cao với nhiều loại kháng sinh. Khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh phân trắng ở nước ta đã cho biết hiện nay những thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm chloramphenicol, Furazolidon, Neomycin, Tetraciclin, Streptopmicin Ýt có ttác dụng với E.coli kháng lại chúng cao từ 70 đến 80%. theo các tác giả những thuốc này đã được điều trị thường xuyên, đôi khi còn dùng sai nguyên tắc nên dẫn đến sự kháng thuốc ở trên. * Nguyên nhân gây bệnh. Do bộ máy tiêu hoá của lợn còn chưa được hoàn thiện, nên ở giai đoạn sau thời kì bú sữa đầu lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng, một bệnh khá phổ biến thường gặp trong thời kì lợn con theo mẹ. Lợn bị bệnh phân trắng do trực khuẩn E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm gây nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là vào 3 đến 5 ngày tuổi sau khi sinh , thậm chí ở 1 ngày tuổi đã mắc, có đến 48% các trường hợp lợn mắc bệnh tiêu chảy là do E.coli gây ra. Bệnh do Escherichia coli thuộc họ Entero Bactericeac, nhóm Escherichia, loài Escherichia gây ra, xuất hiện và sống trong đường tiêu hoá động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết. E.coli sinh trưởng và phát triển bình thường trong đường tiêu hoá của động vật khoẻ mạnh và không gây bệnh, khi các biện pháp vệ sinh thó y nuôi dưỡng kém, sức đè kháng của thể giảm thì E.coli trở nên độc tính và có khả năng gây bệnh. Đến ngày thứ 20 nếu lợn mẹ thiếu dinh dưỡng, lợn con thiếu sữa thường mắc các bệnh đường tiêu hoá. * Đường nhiễm bệnh. Lợn con nhiễm bênh chủ yếu là do ăn uống. Khi bị nhiễm, vi khuẩn E.coli sản sinh độc tố, độc tố sâm nhạp vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết. Từ khi mới sinh ra hệ vi sinh vật phát triển trong dường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau. * Quá trình sinh bệnh. Đối với lợn con khoẻ mạnh vi khuẩn E.coli và các vi khuẩn khác cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối đoạn ruột già, phần đầu, phần giữa hầu nh­ không có vi khuẩn, chỉ có rất Ýt liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn. Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lÝ của cơ thể lợn con. Hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục. Ngoài ra có những đặc điểm đáng chú ý nh­: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém. Chất lượng sữa đầu kém cũng là nguyên nhân làm giảm sức đề kháng của lợn con. * Triệu chứng lâm sàng. Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi thời gian bị bệnh từ vài giờ đến 1 ngày. Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp bỏ bú thân nhiệt Ýt khi tăng cao. Cá biệt có trường hợp nhiệt độ tăng 40,50C đến 410C, nhưng sau 1 ngày nhiệt độ hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng sáng màu xi măng hoạc màu hơi nâu vàng, phân có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại. Bệnh xẩy ra quanh năm nhưng chủ yếu xảy ra vào vụ Đông xuân khi độ Èm môi trường cao bệnh thường gặp ở lợn con 10 đến 21 ngày tuổi. Mắc một vài con hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm Thể gây bệnh chết nhanh: những lợn từ 4 đến 15 ngày tuổi thường mắc thể này sau 1 đến 2 ngày đi ra phân trắng lợn gầy sụt nhanh, lợn bú kém rồi bỏ bú hẳn ủ rũ đi đứng siêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, hay đứng ra mét chỗ yếu nhanh. Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1 - 2 lần đến 4 – 5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh khắm, phân dính vào hạu môn và đuôi. Bệnh có thể kéo dài 2 đến 4 ngày trước lúc chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỉ lệ chết 50 đến 80% sè con ốm. -Thể bệnh kéo dài: lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 đén 10 ngày lợn vẫn bú nhưng kém dần, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng có con mắt có dử những lợn 40 đến 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, phân hơi nhão hoạc nát với mầu trắng sáng hoạc nát từ đó lợn có thể tự khỏi, Ýt chết nhưnng kéo dài lợn còi cọc chậm lớn. * Bệnh tích: Khi lợn chết xác lợn gầy phần thân sau bê bết phân. Mổ khám bệnh tích thấy dạ dày giãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu dạ dày chứa đầy sữa đông vón, không tiêu mầu trắng hoặc xám trắng. Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột. Nhìn từ ngoài vào thấy những đám niên mạc ruột non bị tróc làm cho thành ruột mỏng ra. Toàn bộ đường tiêu hoá xuất huyết, thường thấy là các điểm xuất huyết ở ruột non và dạ dày, chứa trong ruột có lẫn máu, hệ thống hạch làm cho ruột tụ huyết. Các cơ quan nội tạng khác nh­ tim, gan, thận, phổi Ýt biến đổi (Lê Văn Tạo, 2006 [16]). * Phòng và trị bệnh phân trắng lợn con. Giảm bít vi khuẩn có hại bằng cách tẩy uế chuồng trại trước khi đẻ. Chuồng khô sạch không ứ đọng phân, nước thải. Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, nuôi con khẩu phần đầy đủ dinh dưỡng theo tiêu chuẩn, không thay đổi đột ngột. Tăng sức đề kháng cho lợn bú sữa đầu sơm, lợn 3-5 ngày tuổi tiêm bổ sung vitamin, mỗi con 0,5ml ADE và 2ml Dextran –Fe. Để hạn chế bội nnhiễm đường ruột cần tập trung cho lợn ăn sớm đồng thời cần bảo đảm khẩu phần dinh dưỡng, năng lượng vitamin… cho nái nuôi con để nâng cao chất lượng dinh dương cho sữa đầu. Ngoài ra còn phải chú ý hạn chế stress giữ bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn Êm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hè. - Trị bệnh: Trên thực tế có rất nhiều loại thuốc được dùng để điều trị bệnh phân trắng lợn con, ở đây chúng tôi so sánh hiệu quả điều trị của 2 loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10%. 1.4.2.Thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con. 1.4.2.1.Thuốc TD.Flox 5% Thành phần TD.Flox 5% là Florfenicol, đây là loại kháng sinh được phát triển từ Cloramfenicol có tác dụng mạnh hơn Chloramfenicol. Florfenicol có tác dụng với cả vi khuản Gram âm và Gram dương, Ricketsia, xoắn khuẩn. Florfenicol có tác dụng kháng khuẩn bằng cách ức chế men Trangpheaza của vi khuẩn. Liều dùng: 1ml /5kg thể trọng / ngày. 1.4.2.2.Thuốc Anfox 10%: Thành phần Anflox 10% là Nofloxacine HCL, đây là một loại kháng sinh thuộc nhóm Fluoroquinolon. Norfloxacine có tác dụng cả với vi khuẩn Gram âm và Gram dương, Micoplasma có tác dụng đặc biệt với E.coli và Salononella, shigella. Tác dụng diệt khuẩn của Norfroxacine bằng cách ức chế men DNAgyrase của vi khuẩn. Liều dùng: 1ml/5kg thể trọng/ ngày. 1.4.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. 1.4.3.1.Tình hình nghiên cứu trong nước. Ở nước ta trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang phát triển và chăn nuôi lợn là ngành kinh tế mũi nhọn của kinh tế hộ gia đình. Do ảnh hưởng của bệnh phân trắng ở lợn con làm giảm chất lượng của giống và hiệu quả nên rất nhiều nhà khoa học thuộc lĩnh vực chăn nuôi đã có công trình chăn nuôi nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục phòng chống bệnh lợn con phân trắng Nhưng hiệu quả chưa cao vì bệnh tiến triển hết sức phức tạp đồng thời nhóm E.coli gây bệnh phân trắng có nhiều chủng và có thê biến chủng. Nguyễn Kánh Quắc và cs (1993) [11] cho biết: Bộ máy tiêu hoá lợn con phát triển nhanh nhưng ở giai đoạn đầu sức khoẻ đề kháng rất yếu, cần chú ý đảm bảo tốt các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và áp dụng các biện pháp khoa học phòng chống bệnh đường tiêu hoá. NguyÔn Nh­ pho (1999) [9] cho rằng: Trên heo sơ sinh, khả năng tiết axit chlohydric rất Ýt, chỉ đủ để hoạt động men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hoá chất đạm), lượng axit chlohydric tù do quá Ýt không đủ sức làm tăng độ toan của dạ dày. Do độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi qua đường miệng vào đường tiêu hoá có điều kiện sống sót ở dạ dày, chúng vào ruột non phát triển mạnh và gây tiêu chảy. Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (1997)[4], bệnh phân trắng lợn con chủ yếu do E.coli và một số vi khuẩn khác thường xuyên xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và suốt thời gian bú sữa mẹ. Từ Quang Hiển và cs (1995) [2] cho biết: Đối với lợn con dưới một tháng tuổi trong dịch vị và phân tiết HCL tù do rất Ýt nên vi sinh vật có điều kiện phát triển mạnh mẽ và gây bệnh ở đường tiêu hoá. Nhóm tác giả của hội chăn nuôi Việt Nam (2000)[7] cho biết: Fe và Cu trong máu rất cần thiết cho duy trì Hemoglobin và dự trữ cho cơ thể phát triển. Ở lợn sơ sinh trong 100ml máu có 10,9g Hemoglobin. Sau 10 ngày tuổi chỉ còn 4 – 5g Hemoglobin/ 100ml máu. Nếu lợn con chỉ nhận Fe qua sữa, cơ thể sẽ thiếu Fe dẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng. Nguyễn Đức Lưu và cs (2003) [6] cho biết: Dùng Fe – Dextran B1210% có tác dụng làm tăng hàm lượng sắc tố (Hemoglobin), số lượng hồng cầu. Giúp gia sóc non, đặc biệt là lợn con sơ sinh khoẻ mạnh, hồng hào, phát triển tốt, lợn lớn nhanh và phòng các bệnh truyền nhiễm, nhất là bệnh lợn con phân trắng và các loại bệnh truyền nhiễm khác. Tỷ lệ lợn con phân trắng thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ Èm trung bình thay đổi hàng tháng trong năm. Nó có tương quan thuận và tương quan nghịch với độ Èm và không khí. Do đó, để hạn chế sự mắc bệnh phân trắng lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp. Thuốc tiêm không gây đau cục bộ, độ độc thấp và không gây phản ứng phụ. Nơi tiêm có thể thâm tím nhưng được hấp thu dần dần và tan hết sau khoảng 10 ngày. Chế phẩm Auto – vaccine được sản xuất từ một số chủng E.coli có tác dụng phòng tiêu chảy cho lợn con. Song để tăng cường sức đề kháng của lợn con ngay từ ngày sơ sinh và tăng cường bổ sung sắt cho lợn con bằng cách tiêm Fe – Dextran cho lợn con. Đào Trọng Đạt và cs (1995) [1] thì đã sử dụng các chế phẩm sinh học bổ sung cho lợn, thấy lợn vừa có khả năng phòng bệnh đường tiêu hoá, vừa có khả năng chống rối loạn sinh trưởng ở gia sóc non. Theo Trương Lăng (2002) [5], sau sơ sinh tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng rất nhanh, đòi hỏi nhiều dinh dưỡng, trong khi đó sữa mẹ giảm nhanh từ tuần thứ 4 (cả về số lượng và chất lượng). Vì vậy, phải cho lợn con tập ăn sớm để thoả mãn nhu cầu của lợn con, vừa bổ sung thêm chất dinh dưỡng, vừa có tác dụng tiết dịch vị, tăng hàm lượng HCl tù do và enzym, vừa kích thích sự phát triển của dạ dày và ruột để thích ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa. Trương quang (2005) [10], cho biết: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn giai đoạn 1 – 60 ngày tuổi, đã phân lập vi khuẩn E.coli từ 314 mẫu phân lợn không bị tiêu chảy và 312 mẫu phân lợn vị tiêu chảy ở hai giai đoạn 1- 21 ngày và 22-60 ngày tuổi. Kết quả cho thấy: 100% mẫu phân của lợn bị tiêu chảy phân lập được vi khuẩn E.coli với số lượng nhiễm gấp 2,46 – 2,73 lần (ở lợn con 1-21 ngày tuổi) và 1,88 – 2,10 lần (ở lợn 22 – 60 ngày tuổi) so với lợn không bị tiêu chảy. Tỷ lệ các chủng E. coli phân lập từ lợn bị tiêu chảy có độc lực cao hơn gấp nhiều lần so với các chủng từ lợn không bị tiêu chảy. 1.4.3.2.Tình hình nghiên cứu ngoài nước. Vấn đề phòng và trị bệnh Colibacillosis có rất nhiều tác giả nhiều nước nghiên cứu và cho rằng kháng sinh nhóm Neomycin có hiệu quả cao trong việc điều trị với liều 10 – 20 UI / kg P trong vòng 3 ngày. Theo P.X.Malster (1976) cho rằng dùng vi khuẩn E.coli sống chủng M17 có tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn, cho lợn ăn 2 lần/ ngày liều là250ml, sau 14 ngày có hiệu quả đặc biệt đối với lợn con trong thời kì cai sữa . Theo tác giả A.K.ovacx và Lbiro (Nga) năm 1993 đã chữa bệnh Colibacilosis ở lơn bằng cách cho uống Histamin 3 lần, liều lượng 5mg/ con. Theo Axovanh và Lobiri (1993) đã chữa bệnh Colibacteria ở lợn có hiệu quả bằng cách cho uống Vitamin 3 lần trong 3 ngày liên tục liều 5mg/ con. PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH. 2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Chuyên đề được tiến hành trên đàn lợn con giống F1 ( Y x MC ) từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi. 2.2.ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH. - Địa điểm tại một số thôn tại xã Nghinh Xuyên, huyện Đoan Hùng. - Thời gian: Từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2008. 2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI . 2.3.1. Nội dung nghiên cứu - Khảo sát tình hình lợn con nhiễm bệnh phân trắng ở một số thôn ở xã Nghinh Xuyên. - So sánh hiệu lực của 2 loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10% trong điều trị bệnh. 2.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu. - Tỷ lệ lợn con mắc bệnh ở các thôn trong xã Nghinh Xuyên – huyện Đoan Hùng. - Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng qua các tháng trong năm. - Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi. - So sánh hiệu quả điều trị của 2 loại thuốc. 2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 2.4.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh. Lợn ở các lô thí nghiệm và đối chứng được đảm bảo đồng đều về khối lượng, giống, tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chỉ khác nhau thuốc điều trị theo sơ đồ bố trí thí nghiệm. 2.4.2.Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Sơ đồ 2.1 .Sơ đồ bố trí thí nghiệm . Stt Diễn giải Lô1 Lô2 1 Lợn mẹ +Số lượng (Con) + Giống . + Khối lượng (kg) + Lứa đẻ. 6 ♀MC x ♂Y 80 – 100 kg 3 -4 2 Lợn con + Số lượng (Con) + Tổ hợp lai . + Tỉ lệ đực/ cái + Khối lượng sơ sinh (Kg / con) 30 F1 (yorkshire x MC) 13/17 0,92 ± 0,02 30 F1 (yorkshire x MC) 16/17 0,87± 0,07 3 Thuốc điều trị. + Liều dùng. + Thuốc trợ sức trợ lực. TD.Flox 5% 1ml/ 5kg /ngày B.complex,Vitamin C Anflox 10% 1ml/5 kg /ngày B.complex,Vitamin C 2.4.3 .Phương pháp theo dõi. ∑ Số lợn con mắc bệnh Tỉ lệ lợn con mắc bệnh (%) = x 100 ∑ Số lợn con theo dõi ∑ Đàn lợn mắc bệnh Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) =x100 ∑ Đàn theo dõi ∑ Thời gian điều trị từng con Thời gian điều trị trung bình (ngày/con) = ∑ Sè con điều trị ∑ Thời gian an toàn từng con sau điều trị lần 1 Thời gian an toàn trung bình (ngày /con) ∑ Sè con khỏi bệnh sau điều trị lần 1 ∑ Sè con tái nhiễm lần 2 Tỉ lệ tái nhiễm (%) = x 100 ∑ Sè con điều trị lần 2 2.4.4.Phương pháp sử lí số liệu . Các số liệu thu thập được trong quá trình theo thí nghiệm được xử lí theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (1997) [17]. x1+ x2 + ….+xn ∑xi Tính sè trung bình mẫu : == n n Tính độ lệch tiêu chuẩn : =± ( n £ 30) Sai sè trung bình : (Với n £ 30 ) Hệ số biến dị: Cv (%)= Trong đó: :Sè trung bình cộng : Độ lệch tiêu chuẩn x1+ x2 + ….+xn:Giá trị các biến số :Sai sè trung bình Cv (%):Hệ số biến dị n : Dung lượng mẫu ./. PHẦN 3 : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 3.1 : TỶ LỆ NHIỄM BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON Ở CÁC THÔN. Để biết được tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng ở xã Nghinh Xuyên chúng tôi đã tiến hành điều tra lợn con ở 1 số thôn trong xã. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.1. Bảng 3.1 : Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con ở các thôn. STT Tên thôn Số đàn theo dõi (Đàn) Số đàn mắc bệnh (Đàn) Tỷ lệ đàn mắc bệnh (%) Sè con khảo sát (con) Sè con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%) 1 Thôn 1 10 8 80,0 112 68 60,71 2 Thôn 3 13 7 53,84 143 62 43,35 3 Thôn 7 11 10 90,90 121 82 67,76 Tổng sè 34 24 70,58 486 212 43,62 Qua bảng 3.1 cho ta thấy số lợn con điều tra ở 3 thôn 1, 3 và 7 là 486 con .Trong đó có 212 con mắc bệnh phân trắng ,chiếm tỉ lệ 43,62% là khá cao. Trong đó tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất là thôn 7 (67,76%) và thấp nhất là thôn 3 (43,25%). Qua điều tra khảo sát trưc tiếp chóng tôi thấy có một số nguyên nhân dÉn đến tỉ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng cao là do: Chuồng trại chưa đảm bảo vệ sinh, chưa có hố ủ phân là môi trường thuận lợi để vi khuẩn phát triển. Công tác vệ sinh kém, chuồng trại không được quết dọn thường xuyên. Nguồn thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh, có nhiều gia đình còn tận dụng thức ăn ôi thiu. Khi lợn con mới đẻ không có ổ để ủ Êm, một số đàn lợn đẻ ra không được tiêm Fe- Dextran – B12. Nhiều hé gia đình chưa cho lợn tập ăn sớm. Nguyên nhân thời tiét thay đổi thất thường nên bệnh xẩy ra nhiều . Phương thức chăn nuôi ở các họ gia đình còn lạc hậu, khâu vệ sinh chuồng trại thức ăn chưa được chú ý. 3.2.TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG THEO LỨA TUỔI. Để biết được tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi của lợn chúng tôi đã tiến hành theo dõi lợn qua các tuần tuổi. Kết quả được thể hiện qua bảng 3.2. Bảng 3.2.Tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi. Tuần tuổi Sè con khảo sát (Con) Sè con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%) 1 89 40 44,94 2 67 31 46,26 3 106 73 68,86 4 123 82 66,66 5 76 35 46,05 6 103 46 44,66 7 68 29 42,64 8 73 30 41,09 Qua bảng 3.2 cho chóng ta thấy lợn con ở giai đoạn 3-4 tuần tuổi tỷ lệ nhiễm phân trắng là cao nhất chiếm (66,66 – 68,86%) đó là do lợn ở giai đoạn này có sù sinh trưởng và phát triển diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn này là rất cao, trong khi đó lượng sữa của lợn nái giảm dần sau 21 ngày. Lúc này làm cho sù cung và cầu mất cân đối làm cho lợn bị thiếu sữa sẽ gặm nhấm máng ăn, tường ...gây rối loạn tiêu hoá dẫn đến sức đề kháng kém tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển . - Ở giai đoạn 7-8 tuần tuổi tỷ lệ nhiễm bệnh giảm dần (41,09 – 42,64%) do giai đoạn này bộ máy tiêu hoá của lợn đã phát triển toàn diện, thức ăn đã quen, sức đề kháng cao nên tỷ lệ mắc bệnh giảm thấp, lợn mắc bệnh chủ yếu do thời tiết thay đổi. -Từ kết quả trên cho ta thấy việc chăm sóc cho đàn lợn cần phải chú ý cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn. Các hộ gia đình nên tập cho lợn ăn sớm để cho lợn trống lại Streess ở giai đoạn lượng sữa của mẹ giảm sút. 3.3.Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm. Bảng 3.3.Tỉ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm. Tháng Sè lợn theo dõi (Con) Sè lợn mắc bệnh (Con) Tỉ lệ con mắc bệnh (%) 9 128 59 46,09 10 156 97 62,18 11 135 66 48,89 Qua bảng 3.3 cho chóng ta thấy tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại một số thôn ở xã Nghinh Xuyên là khá cao ở các tháng nhưng không đồng đều. Trong tháng 9 tỉ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng là thấp nhất trong 128 con lợn điều tra thì có 59 con mắc bệnh tỉ lệ mắc là 46,09%, do vào tháng 9 nhiệt độ môi trường vẫn còn Êm nên bệnh Ýt phát triển. Trong tháng 10 tỉ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng là cao nhất, khi theo dõi 156 con thì có 97 con mắc bệnh tỉ lệ mắc là 62,18%. Nguyên nhân là do tháng 10 có nhiều đợt mưa kéo dài làm cho độ Èm không khí tăng cao kết hợp với sự chuyển mùa làm cho môi trường thay đổi đột ngột, sức đề kháng của lợn suy giảm, mầm bệnh có điều kiện phát triển mạnh nên tỉ lệ mắc bệnh là cao. Từ kết quả trên , chúng tôi nhận thấy rằng nhiệt độ môi trường và độ Èm không khí qua các tháng trong năm có quan hệ với tỉ lệ lợn mắc bệnh phân trắng. 3.4. Kết quả điều trị bệnh lợn con phân trắn bằng hai loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10%. Bảng 3.4. Bảng kết quả điều trị lần 1 của 2 nhóm thí nghiệm Thí nghiệm Diễn giải ĐVT Lô Thí nghiệm 1 TD.Flox 5% Lô thí nghiệm 2 Anflox 10% Số lợn mẹ Con 6 6 Số lợn con theo dõi Con 30 30 Số lợn con mắc bệnh lần 1 Con 12 15 Tỷ lệ mắc bệnh lần 1 % 40,00 50,00 Sè con khỏi bệnh lần 1 Con 12 15 Tỷ lệ khỏi % 100 100 Thời gian điều trị trung bình Ngày 3,2 3 Qua bảng 3.4 cho ta thấy: Lô thí nghiệm 1 dùng thuốc TD.Flox 5% khi có 12 con mắc bệnh chiếm tỷ lệ 40% sau đó dùng thuốc điều trị kết quả là 12 con đều khỏi bệnh. Với thời gian điều trị trung bình là 3,2 ngày. Lô thí nghiệm 2 dùng thuốc Anflox 10% có 15 con mắc bệnh chiếm tỷ lệ 50% sau đó dùng thuốc Anflox 10% để điều trị cho những con mắc bệnh kết quả là 15 con đều khỏi bênh với thời gian điều trị trung bình là 3 ngày. 3.5.1.Sinh trưởng của lợn qua các giai đoạn. Bảng 3.5: Sinh trưởng của lợn qua các giai đoạn. Thí nghiệm Diễn giải ĐVT Lô Thí nghiệm 1 TD.Flox 5% Lô thí nghiệm 2 Anflox 10% Số lợn mẹ Con 6 6 Số lợn con theo dõi Con 30 30 Thời gian an toàn Ngày 6 9 Sè con tái nhiễm Con 4 6 Tỷ lệ tái nhiễm % 33,33 40 Sè con khỏi bệnh lần 2 Con 4 6 Tỷ lệ khỏi bệnh % 100 100 Thời gian điều trị trung bình Ngày 3,6 2,8 Qua bảng 3.5 cho chóng ta thấy: Lô thí nghiệm 1 có 4 con tái nhiễm chiếm tỷ lệ 33,33%. Lô thí nghiệm 2 có 6 con tái nhiễm chiếm tỷ lệ 40%. Nh­ vậy thời gian an toàn ở lô thí nghiệm 1 (6 ngày) nhỏ hơn lô thí nghiệm 2 (10 ngày) chứng tỏ thuốc Anflox 10% tồn tại trong cơ thể lâu hơn, hiệu lực kéo dài hơn ở cả hai lô. 3.6. ảnh hưởng của thuốc đến khả năng sinh trưởng của lợn qua các giai đoạn. Bảng 3.6. Khối lượng lơn ở hai lô thí nghiệm qua các kỳ cân. Thời điểm cân (Ngày tuổi) ĐVT Lô (n=30) Lô 2 (n=30) Sơ sinh Kg/con 0,92 ± 0,02 0,87 ± 0,07 15 Kg/con 1,49 ± 0,93 1,53 ± 0,06 30 Kg/con 3,81 ± 0,19 3,75 ± 0,05 45 Kg/con 7,64 ± 0,82 7, 64 ± 0,18 60 Kg/con 11,18 ± 0,12 11,68 ± 0,07 Qua bảng 3.6 ta thấy do việc phân chia lợn con mắc bệnh trong đàn ra làm 2 lô luôn đảm bảo đồng đều về khối lượng. Vì thế mà, khối lượng sơ sinh trung binh giữa 2 lô chênh lệch không đều, sai khác nhau rõ rệt với mức P > 0,05. Để so sánh mức độ chênh lệch về khối lượng trung bình giữa 2 lô thí nghiệm tôi tiến hành tính TTN (các thành viên trong 2 lô không có quan hệ với nhau là 1n1 ¹n2). Kết quả là khối lượng trung bình giữa 2 lô sai khác nhau không rõ rệt từ lúc sơ sinh đến 60 ngày tuổi (P > 0,05). Kết quả trên chứng tỏ 2 loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10% đều ảnh hưởng Ýt đến sinh trưởng. 3.7. Chi phí thuốc thú y. Để đánh giá hiệu quả điều trị 2 hoại thuốc TD flox 5% và Anflox 10%, chúng tôi tiến hành điều tra giá cả thuốc tại địa phương, sau đó trong quá trình điều trị ghi lại số lượng thuốc dùng, các dùng và liều lượng. Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.7. Bảng 3.7. Hạch toán chi phí thuốc thú y. Diễn giải ĐVT Lô 1 Lô 2 Sè lượng Đơn giá (đồng) Thành tiền (đồng) Số lượng Đơn giá (đồng) Thành tiền (đồng) Thuốc TD flox 5% Lọ 2 5500 11000 Thuốc Anflox 10% Lọ 2 2600 5200 B.Complex Lọ 1 3000 3000 1 3000 3000 Vitamin C Èng 10 450 4500 8 450 3600 Tổng chi phí Đồng 18500 11800 Khối lượng 60 ngày kg 335,5 350,5 Khối lượng thực tăng kg 307,9 324,3 Chi phí thuốc thú y/kg đ/kg 55,14 36,38 Qua bảng số liệu chi phí thuốc điều trị bệnh của 2 thuốc có sự chênh lệch rõ ràng. Thuốc TD. flox 5% dùng điều trị cho 17 con chi phí hiết 18.500đ và chi phí cho 1kg thể trọng lợn hơi lúc 60 ngày tuổi là: 55,14đ. Dùng thuốc Anflox 10% điều trị cho 21 con chi phí hết 11.800đ và chi phí cho 1kg thể trọng lợn hơi lúc 60 ngày tuổi là: 36,38 đ. Nh­ vậy chúng ta thấy rằng giá thành của thuốc TD. flox 5% cao hơn so với Anflox 10%. Sự chênh lệch về hiệu quả và thời gian điều trị của hai loại thuốc đối với bệnh phân trắng lợn con nuôi tại xã Nghinh Xuyên. Đặc biệt là hiệu quả điều trị và chi phí thuốc thú y có yếu tố tác động đối với người chăn nuôi, vì vậy trong quá trình thực hiện chúng tôi khuyến khích bà con chăn nuôi nên sử dụng thuôc Anflox 10% để điều trị phân trắng lợn con. PHẦN 4: KẾT LUẬN , TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ. 4.1.Kết luận. -Bệnh phân trắng lợn con ở một số thôn thuộc xã Nghinh Xuyên ,huyện Đoan Hùng xảy ra khá phổ biến, cụ thể :Thôn 1 có tỉ lệ nhiễm 60,71%, thôn 3 có tỉ lệ nhiễm 43,35%, thôn 7 có tỉ lệ nhiễm 67,76%. -Tỉ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con cũng khác nhau theo tháng cao nhất là tháng 10 (Chiếm tỉ lệ 62,18%) và tháng 12 (Chiếm tỉ lệ 58,27%) . -Tỉ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con cũng khác nhau theo các tuần tuổi, tập chung chủ yếu vào tuần tuổi thứ 3 chiếm tỉ lệ 68,86% và tuần thứ 4 là 66,66%. Sử dụng thuốc TD. flox 5% và Anflox 10% trong điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả tương tự nhau, tuy nhiên sử dụng thuốc Anflox 10% có thời gian điều trị ngắn hơn, chi phí thuốc thấp hơn so với thuốc TD.flox 5%. 4.2.Tồn tại và đề nghị. 4.2.1.Tồn tại Trong thời gian thưc tâp tôi thấy tồn tại các mặt sau: - Do trình độ chuyên môn còn han chế,mới làm quen với công viêc thưc tế và thưc hiện chuyên đề khoa học tại cơ sở,phạm vi nghiên cứu chưa nhiều. Nhưng kết quả thu đươc cần đươc tiếp tục thực hiện để có kết quả khách quan và chính xác hơn . - Đội ngũ thú y cơ sở còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, toàn xã chỉ có 1 thó y viên với trình độ trung cấp, lên công tác tổ chức tiêm phòng điều trị bệnh còn hạn chế, không truyền đạt được cho người dân kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến vào chăn nuôi. 4.2.2.Đề nghị Để hạn chế tỉ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng, cân phải thưc hiện công tác vệ sinh thó y trong chăn nuôi . Thường xuyên mở các lớp tập huấn cho bà con nông dân nâng cao trình độ hiểu biết về chăn nuôi và công tác phòng chữa bệnh cho đàn gia súc. Ngoài ra cần khuyến khích mở rộng nhiều mô hình chăn nuôi ,trang trại ,các mô hình kinh tế như VAC... Khuyến cáo bà con nông dân nên sử dụng hai loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10% trong việc điều trị bệnh phân trắng lợn con tại xã Nghinh Xuyên, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ . Tài liệu tham khảo Tài liệu trong nước 1. Đào Trọng Đạt và cs (1996), nguyên nhân và biện pháp điều trị bệnh lợn con ỉa phân trắng, tạp chí khoa học Nông nghiệp. 2. Từ Quang hiển (1993), giáo trình thức ăn dinh dưỡng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 3. Phạm Sỹ Lăng và cs (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 4. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997), Bệnh lợn ở Việt Nam và biện pháp phòng trị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 5. Theo Trương Lăng (2002), một số bệnh quan trọng ở lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 75. 6. Nguyễn Đức Lưu và cs (2003), thuốc thú y và cách sử dụng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 118 - 121. 7. Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999), Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc điểm sinh vật hoá học của chủng phân lập, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y sè 1, trang 5. 8. Sử An Ninh (1981), Kết quả tìm hiểu bước đầu nhiệt và Èm độ thích hợp trong phòng bệnh lợn con phân trắng, kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, Đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội. 9. Nguyễn Như Pho (1999), Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh hoá học của chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp phòng trị, kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1996 – 2000, NXB Nông Nghiệp Hà Nội. 10. Trương Quang (2005), Kết quả nghiên cứu vai trò gây bệnh của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn 1-60 ngày tuổi, tạp chí khoa học thú y tập XII, sè 1. 11. Nguyễn Khánh Quắc và cs (1993), giáo trình chăn nuôi lợn, Đại học nông lâm Thái Nguyên. 12. Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn (dùng cho cao học), trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. 13. Nguyễn Như Thanh (2001), Dịch tễ học thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang: 22 – 23. 14. Trịnh Văn Thịnh (1985), Bệnh lợn ở Việt Nam, NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội. 15. Nguyễn Quang Tuyên (1993), Xác định các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn con, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y. 16. Bùi Thị Tho và cs (1995), Tình hình mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. 17. Nguyện Văn Thiện (1997), Phương Pháp Nghiên Cứu trong Chăn nuôi, NXB, Nông Nghiệp 1 Hà Nội. 18. Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996), Sinh lý học gia sóc, NXB Nông nghiệp. Tài liệu nước ngoài 19 .Axovanh và Lobir (1993),đã chữa bệnh Colibacteria ở ợn có hiệu quả bằng cách cho uống vitamin 3 lần trong 3 ngày liên tục liều 5mg/con. 20 .Faibrother.J.M.Enteric colibacillosis. Disease of swine. IOWA statunivesitypress/Ames,IOWA USA,7th E etition 1992. 21 .A.Kovacs và Lbiro (Nga) (1993) đã chữa bệnh Colibacilosis ở lợn bằng cách cho uống Histamin 3 lần, liều 5 mg/con. 22 .Lutter (1993), sử dụng Ogamin cho lợn con phân trắng. 23 .P.X.Maister (1976) cho rằng dùng vi khuẩn E.coli sống chủng M17 có tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn. MỤC LỤC Lời nói đầu Lời cảm ơn 1.1.Đặt vấn đề 1.2.Điều kiện thực hiện chuyên đề 1.2.1.Điều kiện bản thân 1.2.2.Điều kiện cơ sở địa phương 1.2.2.1.Điều kiện tự nhiên 1.2.2.2.Điều kiện kinh tế xã hội 1.2.2.3.Tình hình phát triển ngành nông nghiệp 1.2.2.4.Tình hình hoạt động của mạng lưới thú y trong huyện 1.2.2.5.Đánh giá chung thuận lợi khó khăn 1.3.Mục tiêu cần đạt được khi kết thúc chuyên đề 1.4.Tổng quan tài liệu 1.4.1.Cơ sở khoa học 1.4.1.1.Đặc điểm ST và PT của lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 1.4.1.2.Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợpn con 1.4.2.Thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con 1.4.2.1.Thuốc TD.Flox 5% 1.4.2.2.Thuốc Anflox 10% 1.4.3.Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.4.3.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 1.4.3.2.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.1.Đối tượng nghiên cứu 2.2.Địa điểm và thừi gian tiến hành 2.3.Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 2.4.Phương pháp tiến hành 2.4.1.Phương pháp điều tra 2.4.2.Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2.4.3.Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu 2.4.4.Phương pháp sử lí số liệu 3.1.Tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng ở các thôn 3.2.Tình hình mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 3.3.Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo các tháng trong năm 3.4.Kết quả điều trị bệnh phân trắng bằng hai loại thuốc TD.Flox 5% và Anflox 10% 3.5.Ảnh hưởng của hai loại thuốc đến khả năng sinh trưởng của lợn qua các giai đoạn 3.5.1.Sinh trưởng của lợn qua các giai đoạn 4.1.Kết luận 4.2.Tồn tại và đề nghị 4.2.1.Tồn tại 4.2.2.Đề nghị 1 2 3 4 4 4 4 6 7 8 9 9 10 10 10 11 16 16 16 16 16 17 18 18 18 18 18 18 19 20 22 23 24 24 25 25 27 27 27 27

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 262.doc