Chuyển và biểu hiện Gien yếu tố sinh turowrng nguyên bào sợi 10 người (hFGF-10) ở tế bào động vật bậc cao - Nguyễn Bích Nhi

Tài liệu Chuyển và biểu hiện Gien yếu tố sinh turowrng nguyên bào sợi 10 người (hFGF-10) ở tế bào động vật bậc cao - Nguyễn Bích Nhi: 37 25(4): 37-41 Tạp chí Sinh học 12-2003 Chuyển và Biểu hiện gien yếu tố sinh tr−ởng nguyên bào sợi 10 ng−ời (hFGF-10) ở tế bào động vật bậc cao nguyễn bích nhi Viện Công nghệ sinh học Masashi Suzuki Viện nghiên cứu quốc gia về Sinh học và Công nghệ ng−ời, Nhật Bản Các yếu tố sinh tr−ởng của nguyên bào sợi - Fibroblast growth factors (FGFs) là những polypeptit có hoạt tính gây phân bào mạnh, đ−ợc đặc tr−ng bởi ái lực cao đối với heparin. Các thành viên của nhóm FGF đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý nh− quá trình sinh tr−ởng của tế bào, quá trình biệt hóa tế bào, sự hình thành các mô, mạch máu, quá trình sửa chữa và làm lành vết th−ơng, ... [7]. Gien hFGF-10 là thành viên thứ 10, đ−ợc tách ra lần đầu tiên bởi Emoto và cs. [4] từ phổi. cADN của gien hFGF-10 mM hóa cho một protein hFGF-10 có chứa 208 axít amin, có sự t−ơng đồng cao với FGF-10 của chuột cống (95.6%). Cũng nh− FGF-10 của chuột cống, FGF-10 của ng−ời có đầu ...

pdf5 trang | Chia sẻ: quangot475 | Ngày: 21/01/2021 | Lượt xem: 79 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyển và biểu hiện Gien yếu tố sinh turowrng nguyên bào sợi 10 người (hFGF-10) ở tế bào động vật bậc cao - Nguyễn Bích Nhi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
37 25(4): 37-41 Tạp chí Sinh học 12-2003 Chuyển và Biểu hiện gien yếu tố sinh tr−ởng nguyên bào sợi 10 ng−ời (hFGF-10) ở tế bào động vật bậc cao nguyễn bích nhi Viện Công nghệ sinh học Masashi Suzuki Viện nghiên cứu quốc gia về Sinh học và Công nghệ ng−ời, Nhật Bản Các yếu tố sinh tr−ởng của nguyên bào sợi - Fibroblast growth factors (FGFs) là những polypeptit có hoạt tính gây phân bào mạnh, đ−ợc đặc tr−ng bởi ái lực cao đối với heparin. Các thành viên của nhóm FGF đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý nh− quá trình sinh tr−ởng của tế bào, quá trình biệt hóa tế bào, sự hình thành các mô, mạch máu, quá trình sửa chữa và làm lành vết th−ơng, ... [7]. Gien hFGF-10 là thành viên thứ 10, đ−ợc tách ra lần đầu tiên bởi Emoto và cs. [4] từ phổi. cADN của gien hFGF-10 mM hóa cho một protein hFGF-10 có chứa 208 axít amin, có sự t−ơng đồng cao với FGF-10 của chuột cống (95.6%). Cũng nh− FGF-10 của chuột cống, FGF-10 của ng−ời có đầu N tận cùng có tính kỵ n−ớc cao (khoảng 40 axít amin) có thể hoạt động nh− một tín hiệu trình tự [4, 10]. Nhiều thành viên của nhóm gien FGF có chứa tín hiệu trình tự mM hóa cho các protein tiết. Một sốthành viêncủa nhóm FGF nh− FGF-5 [2, 3], FGF-7 [5], FGF-9 [6], FGF-9 [9] ... có chứa vị tríN- glycosyl, do đó một số thành viên của FGF đM đ−ợc tinh chế ở dạng glycosyl. Tuy nhiên, hiện t−ợng glycosyl hóa vẫn còn ch−a đ−ợc nghiên cứu. Để tìm hiểu chức năng của FGF-10 trong sự biến đổi các mạch cacbohydrat, chúng tôi đM thiết kế một hệ thống biểu hiện của FGF- 10 ở tế bào động vật sử dụng vectơ biểu hiện pcADN 3.1(-)Myc-His. I. ph−ơng pháp nghiên cứu 1. Thiết kế vectơ biểu hiện pcADN3.1(-)Myc-His (VersionB) Đoạn FGF-10 ng−ời cADN đM đ−ợc tách và nhân lên từ ARN tổng số của nMo ng−ời (Toyobo) bằng phản ứng RT-PCR (Reverse transcription polymerase chain reaction) sử dụng các oligonucleotit tổng hợp. Vectơ pcADN3.1(-) Myc-His Version B (Invitrogen) đ−ợc thiết kế để sản sinh ra protein tái tổ hợp ở các tế bào động vật đM đ−ợc sử dụng để gắn đoạn hFGF-10 cADN vào các vị trí cắt của các enzym hạn chế Xho//HindIIIvới đầu C tận cùng chứa đuôi polyhistidin gắn kim loại (His tag) và đoạn myc (c-myc) epitop. ADN của plasmit chứa toàn bộ gien hFGF- 10 đM đ−ợc sử dụng làm mẫu cho phản ứng PCR với các cặp mồi 5'-CCC CTC GAG ATG AAA TGG ATA CTG ACA C-3' và 5'-CCC AAG CTT GAG TGA CCA CCA TTG GAA G-3' với các vị trí cắt của enzym hạn chế XhoI và HindIII định vị ở các đầu 5'. Sản phẩm của phản ứng PCR đ−ợc cắt ra từ agaroza gel, sau đó sử dụng QiaQuick PCR kit (QiaGen) để tinh sạch rồi gắn vào vectơ pCR Script (Stratagene) để kiểm tra trình tự của đoạn cADN. Tiếp theo, vectơ pCR Script có chứa đoạn hFGF-10 cADN đ−ợc thủy phân bởi các enzym hạn chế XhoI và HindIII (TaKaRa, Nhật Bản) và đ−ợc gắn vào các vị trí t−ơng ứng XhoI/HindIII của vectơ bằng phản ứng gắn kết (ligation reaction). Hỗn hợp phản ứng gắn này đ−ợc biến nạp vào E.coli. Các khuẩn lạc chứa đoạn hFGF-10 cADN đ−ợc tuyển chọn và kiểm tra trình tự bởi máy xác định trình tự ABI PRISM( Perkin Elmer) để khẳng định rằng gien hFGF-10 (theo trình tự đM đăng ký ở Ngân hàng dữ liệu gien số AB 002097) đM đ−ợc gắn vào đúng vị trí với đầu C- tận cùng peptit. 38 2. Nuôi tế bào: Tế bào COS-1 và COS-7 đ−ợc mua từ Ngân hàng gien Riken (Tsukuba, Ibaraki, Japan). Các tế bào đ−ợc nuôi ổn định trong môi tr−ờng DMEM (Dulbecco's modified Eagle's medium) chứa 10% FBS (Fetal Bovine Serum) ở 37°C và 5% CO2. 3. Chuyển gien Tế bào COS-1 và COS-7 đM đ−ợc chuyển gien hFGF-10 cADNsử dụng Lipofectamin 2000 (LF 2000) (Gibco BP) và SuperFect (SF) (Qiagen). a) Sự chuyển gien hFGF-10 vào tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng LF2000 Vào hôm tr−ớc ngày chuyển gien, các tế bào đ−ợc thủy phân bằng trypsinaza, đếm và cấy vào đĩa có đ−ờng kính 60 mm, mỗi đĩa có 9 ì105 tế bào để sao cho chúng sẽ phủ 90-95% mặt đáy của đĩa vào ngày chuyển gien. Các tế bào đ−ợc nuôi bình th−ờng trong môi tr−ờng DMEM có bổ sung 10% FBS. Cho 9 ug ADN plasmit có chứa gien hFGF-10 vào 500 ul DMEM không bổ sung FBS và 33.6 ul LF 2000 đM đ−ợc pha loMng trong 500 ul DMEM và ủ trong vòng 5 phút ở nhiệt độ phòng. ADN đM đ−ợc pha loMng phối hợp với LF 2000 đM pha loMng và hỗn hợp đ−ợc ủ ở nhiệt độ phòng trong 5 phút để tạo phức liên kết giữa ADN - LF 2000. Hút loại môi tr−ờng nuôi cấy cũ từ các đĩa, cho 5 ml DMEM mới và 1ml ADN-sLF 2000 vào mỗi đĩa, nuôi tiếp trong tủ nuôi cấy CO2 ở 37°C trong 4-5 giờ. DMEM chứa 20% FBS đ−ợc cho vào sao cho nồng độ cuối cùng trong mỗi đĩa là 10% FBS. Các tế bào đ−ợc thu hoạch sau 24 và 48 giờ. b) Sự chuyển gien hFGF-10 vào tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng SF Tr−ớc ngày chuyển gien, các tế bào đ−ợc thủy phân bằng trypsinaza, đếm và cấy vào các đĩa có đ−ờng kính 60 mm, mỗi đĩa có 8 ì 105 tế bào sao cho chúng sẽ phủ 80% mặt đáy của đĩa vào ngày chuyển gien trong môi tr−ờng DMEM có bổ sung 10% FBS. Đối với mỗi đĩa, 5 ug ADN đ−ợc pha vào 150 ul DMEM. 30 ul SF đ−ợc cho vào dung dịch ADN và hỗn hợp đ−ợc ủ ở nhiệt độ phòng trong 5 phút, sau đó thêm 1ml DMEM chứa 10% FBS. Môi tr−ờng nuôi cấy cũ đ−ợc hút loại bỏ từ mỗi đĩa, các tế bào đ−ợc rửa bằng đệm PBS, sau đó cho hỗn hợp ADN-SF vào mỗi đĩa. Các tế bào đ−ợc ủ trong tủ nuôi cấy 37°C, 5% CO2 trong 2-3 giờ. Sau đó loại bỏ môi tr−ờng chứa phần còn lại của phức hợp ADN-SF, các tế bào đ−ợc rửa bằng đệm PBS và thêm 5ml môi tr−ờng DMEM mới với 10% FBS và ủ tiếp 24 hoặc 48 giờ đến khi thu hoạch. c) Phân tích sự biểu hiện của protein tái tổ hợp hFGF-10 ở tế bào COS-1 và COS-7 Để xác định protein hFGF-10 bên trong tế bào, các tế bào đ−ợc rửa bằng đệm PBS lạnh (không chứa Ca, Mg) hai lần, sau đó đ−ợc phân giải trong đệm RZPA (20 mM Tris-HCl, pH7.5, 150mM NaCl, 1% Nonidet P-40, 0.1% deoxycholat, 0.1% SDS, 1 mM NaVO4) trong 30 phút ở 4°C. Dịch phân giải tế bào đ−ợc ly tâm 15000 rpm trong 20 phút ở 4°C, dịch nổi là dịch chiết tế bào đ−ợc bảo quản ở -20°C. Để xác định protein hFGF-10 đ−ợc tiết từ tế bào vào môi tr−ờng nuôi cấy, môi tr−ờng nuôi cấy đ−ợc ly tâm 3000 rpm trong 3 phút ở 4°C, dịch nổi đ−ợc ly tâm tiếp 15000 rpm trong 10 phút ở 4°C. Lấy dịch trong ủ với nhựa Ni-NTA qua đêm ở 4°C, rồi nhồi nhựa vào cột, rửa bằng đệm phosphate 50mM, pH8.0, 300mM NaCl, 10 mM Imidazol. Dịch rửa đ−ợc đo OD280nm đến khi đạt xấp xỉ bằng 0. Protein hFGF-10 đ−ợc thôi bằng đệm phốtphat 50 mM, pH = 8.0, 2 M NaCl, 2 M Imidazol. Dịch thôi protein đ−ợc bảo quản ở -20°C cho đến khi sử dụng. Các mẫu dịch chiết tế bào và dịch chiết từ môi tr−ờng nuôi cấy đ−ợc biến tính trong 2- mercaptoethanol và đ−ợc chạy SDS-PAGE 12% gel. Các protein tách ra đ−ợc chuyển sang màng nitroxelluloza (Schleicher & Schuell, Germany), sau đó đ−ợc ủ với 5% skim milk, rồi nhuộm với monoclonal antihistidin antibody và đ−ợc xác định với HRP- conjugated secondary antibody againts mouse IgG và đ−ợc hiển thị với ECL kit (Amersham). 4. Thủy phân liên kết N-glycosidaza N-glycosidaza F (PNGaza, peptit-N4 axêtyl- β-glucosaminyl) asparagin amidaza (Boehringer Mannheim) đM đ−ợc sử dụng để thủy phân protein glycosylated hFGF-10 trong các mẫu dịch phân giải tế bào và trong môi tr−ờng nuôi cấy.Các mẫu sau khi đ−ợc thêm SDS đến nồng 39 độ cuối cùng 0.1%, đ−ợc đun ở 95°C trong 5 phút, làm lạnh, thêm NP-40 sao cho nồng độ đạt 1% và thêm N-glycosidaza (2 Units/10ug glycoprotein). Các hỗn hợp đ−ợc ủ ở 37°C qua đêm, sau đó dịch thủy phân enzym đ−ợc chạy SDS-PAGE và phân tích Western - Blotting nh− đM đ−ợc mô tả ở trên. II. Kết Quả và thảo luận 1. Biểu hiện của hFGF-10 myc-his ở tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng LF-2000 Các tế bào đM đ−ợc chuyển gien và môi tr−ờng nuôi cấy đ−ợc thu hoạch sau 24 giờ (1 ngày) và 48 giờ (2 ngày). Dịch tế bào và môi tr−ờng nuôi cấy đ−ợc xử lý bằng nhựa Ni-NTA đ−ợc phân tích bằng ph−ơng pháp Western- Blotting sử dụng kháng thể kháng histidin. Kết quả đ−ợc biểu thị trên hình 1. Hình 1. Biểu hiện của hFGF-10 myc-his ở dịch tế bào COS-1, COS-7 và sự tách chiết nó từ môi tr−ờng nuôi cấy. Ghi chú: Các protein đM đ−ợc phân tách bằng SDS-PAGE, sau đó đ−ợc chuyển sang màng nitroxelluloza và đ−ợc ủ với kháng thể đơn dòng kháng histidin. Markơ có trong l−ợng phân tử thấp (kDa). Giếng 1, 2: dịch tế bào COS-1 sau 1 ngày, 2 ngày chuyển gien Giếng 3, 4. dịch tế bào COS-7 sau 1. 2 ngày chuyển gien Giếng 5, 6: môi tr−ờng nuôi cấy tế bào COS-1 đ−ợc thu hoạch 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien Giếng 7, 8: môi tr−ờng nuôi cấy tế bào COS-7 sau 1, 2 ngày chuyển gien Từ các kết quả nhận đ−ợc ở hình 1, chúng tôi thấy trong cả hai loại mẫu phân tích là mẫu dịch tế bào (giếng 1, 2, 3, 4) và mẫu môi tr−ờng nuôi cấy đM đ−ợc xử lý (giếng 5, 6, 7, 8) đều phát hiện các băng bắt màu với kháng thể kháng histidin t−ơng ứng với một số dạng đ−ợc tiết ra của FGF-10. Điều đó chứng tỏ rằng gien tái tổ hợp hFGF-10 đM đ−ợc chuyểnsang tế bào COS- 1, COS-7 và đ−ợc biểu hiện d−ới dạng protein có khả năng tiếtđM đ−ợc tổng hợp trong tế bào và tiết vào môi tr−ờng nuôi cấy. Các kết quả còn cho thấy sự biểu hiện của gien hFGF-10 ở tế bào COS-1 mạnh hơn ở tế bào COS-7 trong các điều kiện t−ơng ứng. Trong dịch tế bào ở cả hai loại COS-1 và COS-7, chúng tôi quan sát thấy có ba băng, trong số đó có hai băng đậm hơn. Băng ở vị trí trên t−ơng ứng với một protein có kích th−ớc khoảng 32-33 kDa, có thể là dạng glycolysed của hFGF-10 myc-his. Băng ở giữa có thể nhận là hFGF-10 myc-his tái tổ hợp ( dạng th−ờng gặp) với trọng l−ợng phân tử khoảng 27 kDa (trọng l−ợng phân tử của toàn bộ gien hFGF-10 xấp xỉ 24 kDa, thêm đuôi myc-his xấp xỉ 3 kDa, tổng cộng là khoảng 27 kDa). Băng ở d−ới có thể là hFGF-10 myc-his không có đoạn tín hiệu trình tự t−ơng ứng với trọng l−ợng phân tử khoảng 22-23 kDa (đoạn gien hFGF-10 loại bỏ tín hiệu trình tự mM hóa cho một polypeptit có trọng l−ợng xấp xỉ 19-20 kDa, cộng thêm đoạn đuôi myc-his 3 kDa từ vectơ pcADN). Chúng tôi cũng còn kiểm tra sự biểu hiện của hFGF-10 sử dụng hai môi tr−ờng nuôi cấy có điều kiện DMEM có bổ sung 0.1%và 10% FBS. Các kết quả nhận đ−ợc cho thấy sự biểu hiện của hFGF- 10 đ−ợc nuôi cấy trong môi tr−ờng DMEM có bổ sung 0.1% FBS thấp hơn trong môi tr−ờng có bổ sung 10% FBS (các kết quả không trình bày). Sự biểu hiện của FGF-10 trong dịch tế bào sau một ngày chuyển gien cao hơn sau hai ngày chuyển gien. Ng−ợc lại, trong môi tr−ờng nuôi cấy đM đ−ợc xử lý bằng nhựa Ni-NTA, nồng độ 1 2 3 456 78 31.0 21.5 14.5 40 của FGF-10 tại một ngày sau khi chuyển gien thấp hơn hai ngày sau khi chuyển gien. Tỷ số giữa nồng độ FGF-10 trong dịch tế bào và trong môi tr−ờng nuôi cấy tại thời điểm một ngày sau chuyển gien đ−ợc −ớc l−ợng xấp xỉ 3:1, tại thời điểm hai ngày sau khi chuyển gien t−ơng ứng khoảng 1:1. Các kết quả này chỉ ra rằng FGF-10 đM đ−ợc tiết ra từ tế bào vào môi tr−ờng trong thời gian nuôi cấy. Trong môi tr−ờng nuôi cấy, sự biểu hiện của hFGF-10 chỉ có hai băng phía trên t−ơng ứng với băng có kích th−ớc 32 kDa và 22 kDa ở trong dịch tế bào. Các kết quả này chỉ ra rằng sự biểu hiện của FGF-10 ở tế bào COS-1 và COS-7 FGF-10 tiết ra ở một số dạng khác nhau. 2. Biểu hiện của hFGF-10 myc-his ở tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng Super Fect (SF) Kết quả t−ơng tự nhận đ−ợc khi sử dụng tác nhân chuyển gien SF để chuyển gien hFGF-10 vào tế bào COS-1 và COS-7 (hình 2). Từ kết quả đó chúng ta có thể sử dụng cả hai loại tác nhân LF 2000 và SF để chuyển FGF-10 vào tế bào COS-1 và COS-7. Hình 2. Sự biểu hiện của hFGF-10 myc-his ở tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng Super Fect bởi phản ứng hóa miễn dịch với antihistidin monoclonal antibody. Ghi chus: Markơ protein có trọng l−ợng phân tử thấp (kDa). Giếng 1, 2: dịch tế bào COS-1 tại 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien. Giếng 3, 4: dịch tế bào COS-7 tại 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien. Giếng 5, 6: môi tr−ờng nuôi cấy tế bào COS-1 tại thời điểm 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien. Giếng 7, 8: môi tr−ờng nuôi cấy của tế bào COS-7 tại thời điểm 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien. 3. Gien hFGF-10 đ−ợc biểu hiện một phần d−ới dạng glyccosyl Để khẳng định băng trên cùng (32 kDa) là thuộc dạng glycosyl của gien hFGF-10, chúng tôi đM tiến hành thủy phân các glycoprotein trong dịch tế bào và trong dịch môi tr−ờng nuôi cấy đM xử lý bằng nhựa Ni-NTA bởi enzym N- glycosidaza trong các điều kiện đM mô tả ở phần ph−ơng pháp nghiên cứu. Dịch thủy phân enzym đ−ợc sử dụng để phân tích Western-Blotting. Kết quả nhận đ−ợc ở hình 3. Hình 3. Sự thủy phân bởi N-glycosidaza của dịch tế bào và môi tr−ờng nuôi cấy của tế bào COS-1 đM đ−ợc chuyển gien hFGF-10 sử dụng tác nhân LF 2000. Ghi chú: Protein chuẩn có trọng l−ợng phân tử thấp (kDa). Giếng 1, 2: các mẫu dịch tế bào đ−ợc thu hoạch tại thời điểm 1 ngày, 2 ngày sau khi chuyển gien. Giếng 3, 4: mẫu dịch tế bào đ−ợc thu hoạch tại 1 ngày, 2 ngày sau khi thủy phân bởi N-glycosidaza. Giếng 5: mẫu môi tr−ờng nuôi cấy tr−ớc khi thủy phân enzym. Giếng 6, 7: mẫu môi tr−ờng nuôi cấy sau khi thủy phân bằng N-glycosidaza. 1 234 5 678 31.0 21.5 14.5 1 23 45 6 7 31.0 21.5 14.5 41 Qua hình 3 chúng tôi nhận thấy, ở cả dịch tế bào và môi tr−ờng nuôi cấy các mẫu sau khi đ−ợc thủy phân bởi N-glycosidaza, băng trên cùng t−ơng ứng với kích th−ớc khoảng 32 kDa bị biến mất và băng thứ 2 t−ơng ứng với kích th−ớc 27 kDa đ−ợc dày lên. Nh− vậy có thể khẳng định băng phía trên 32 kDa chính là dạng glycosyl của gien hFGF-10 đM bị N-glycosidaza thủy phân để biến thành hFGF-10. Nh− vậy hFGF-10 đ−ợc biểu hiện ở tế bào động vật d−ới dạng glycosyl và không glycosyl. Các kết quả nhận đ−ợc từ các tác giả khác [4-11] cũng chứng minh rằng một số thành viên FGF cũng biểu hiện ở dạng glyccosyl (FGF-6, FGF-16, ...). III. kết luận 1. Sử dụng tác nhân chuyển gien Lipogectamin 2000 (LF 2000) và Super Fect (SF), đM chuyển đ−ợc gien hFGF-10 vào tế bào COS-1 và COS-7. 2. Sự biểu hiện của gien hFGF-10 ở tế bào COS-1 và COS-7 sử dụng LF-2000 và SF trong dịch tế bào và môi tr−ờng nuôi cấy có sự giống nhau. Trong cả dịch tế bào và môi tr−ờng nuôi cấy hFGF-10 tái tổ hợp đ−ợc biểu hiện ở các dạng glycosyl và không glycosyl hóa. Trong dịch tế bào, còn có thêm dạng hFGF-10 tái tổ hợp thiếu đoạn signal sequence. Tài liệu tham khảo 1. Asada M. et al., 1999: Growth Factor, 16: 293-303. 2. Bates B. et al., 1991: Mol.Cell Biol., 11: 1840-1845. 3. Clements D. A. et al., 1993: Oncogene, 8: 1311-1316. 4. Emoto H. et al., 1997: J. Biol. Chem., 272(37): 23191-23194. 5. Hsu Y. R. et al., 1998: Protein Expr.Purf., 12: 189-200. 6. MacArthur C. A. et al., 1995: Cell Growth Differ, 6: 817-825. 7. McKeehan W. L., Wang F., Kan M., 1998: Prog. Nucleic Acid Res. Mol. Biol., 59: 135-176. 8. Revest J. M., DeMoerlooze L., Dickson C., 2000: J. Biol. Chem., 275: 8083-8090. 9. Santos-Ocampo S. et al., 1996: J.Biol. Chem., 19: 1726-1731. 10. Yamasaki M. et al., 1996: J. Biol. Chem., 271: 15918-15921. 11. Yoneda A. et al., 1999: Biotechniques, 27: 576-590. Transfection and expresion of the human fibroblast growth factor –10 (hFGF-10) in mammalian cells Nguyen Bich Nhi, Masashi Suzuk SUMMARY We have constructed a pcDNA 3.1.(-)Myc-His Version B vector for expression of the hFGF-10 recombinant proteins in the COS-1 and COS-7 cells. LipoFectamin 2000 (LF-2000) and SuperFect (SF) were used for transient transfection. The expression of hFGF-10 recombinant proteins in COS-1 and COS-7 cells was analysed by SDS-PAGE following Western-Blotting analysis using anti-histidine antibody. The results showed that hFGF-10 proteins were secreted and expressed inseveral glycosylated and non-glycosylated forms in the cells and in the culture medium. Ngày nhận bài: 12-3-2003

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa30_152_2179870.pdf
Tài liệu liên quan